Elisabeth Nguyễn – PẰNG-TIÊNG, THUNG LŨNG TÌNH YÊU

Tôi sinh ra và lớn lên tại thành phố mù sương, không kể những người sinh ra và lớn lên ở đây, ai đã một lần đặt chân đến nơi này đều rất yêu thích thành phố, ai cũng muốn đặt cho thành phố thơ mộng này một cái tên, những mỹ danh đã được ghi dấu như xứ hoa đào, Thành phố hoa, Thành phố thơ, thành phố mộng mơ, thành phố xanh, một Paris nhỏ bé, thành phố sương mù, thành phố ngát hương v.v và v.v….Một người anh em Dalat của chúng tôi (không nhớ tên) đã ca tụng, vinh danh thành phố này: „khó kiếm được thành phố nào xanh như Dalat của tôi, ngay không khí cũng xanh như da trời cây cỏ. Đâu chỉ đồi thông biết san sẻ màu xanh cho ngọn gió. Giọt nắng vàng cũng nhuộm xanh mặt nước hồ Xuân Hương“.

Tôi hãnh diện là con cái của mảnh đất thân thương này và tự hào về quê hương của chính mình. Do đó những gì của Dalat cũng chính là của tôi. Tôi yêu Dalat, yêu tất cả núi cao, đồi thấp, rừng thông, thác nước, ruộng vườn, cây cỏ, thôn làng, chợ búa, ngõ nghách… những con dốc phố với những bờ tường thiên nhiên cỏ xanh, hoa quỳ vàng nở rộ, những thung lũng với hàng thông xanh soi bóng hồ nước long lanh, những ngôi biệt thự mỹ miều xây cất từ những năm đầu thế kỷ 20, những ngôi chùa, nhà thờ, những mái nhà tranh, những nhà sàn trong buôn làng và những con người dân tộc hiền hòa thật thà đến độ ngây ngô… những nông dân sản xuất cho Dalat bao nhiêu đăc sản: nào là đủ loại bông hoa từ những khóm violet, pense nhỏ xíu, những bông hoa hồng Tỉ Muôi bé tí ti bằng đầu ngón tay, những khóm hoa sói và những bông cúc chi cũng be bé bằng đầu ngón tay của em bé mà hương thơm ngào ngạt dùng để ướp trà… cho đến những bông hoa Liz, hoa lay ơn, hoa mimosa, hoa thược dược…hoa mẫu đơn hoa lan rừng, phong lan, thổ lan… hoa hồng đủ loại đủ mầu, bốn mùa đua nở. Nhờ khí hậu luôn luôn mát mẻ nên rất thích hợp với những thứ rau quả được mang đến từ Âu Châu, tạo cho thành phố thật dồi dào hương sắc. Những bông Artichau, những củ Fenchen, những rau Spinat nhiều loại, tất cả mọi loại rau salat, bắp xú, bắp cải, bông xu-lơ v.v… những trái bơ, những trái dâu đất được gọi là dâu tây (vì đem từ bên Pháp về), những trái mận đủ loại đủ mầu, xanh vàng hồng tím đỏ. v.v… luôn luôn tươi rói khoe mình giữa chợ rau, chợ hoa Dalat và được cung cấp cho cả nước Việt Nam. Ngày nay những bông hoa trồng ở Dalat với kỹ thuật cao và nhiều hoa lạ mang về từ Hòa Lan, các nhà trồng hoa rất thành công đã xuất khẩu hàng ngày qua các nước khác. Tóm lại tôi yêu tất tần tật những gì là của Dalat.

Pằng-Tiêng là một chi thể của Dalat, một thôn làng xa xôi hẻo lánh của đồng bào dân tộc thuộc tộc họ K’ho, cuộc sống nơi đây còn rất lạc hậu, nghèo đói, lại nằm sâu trong rừng núi rậm rạp Tây Nguyên. Pằng-Tiêng trước đây thuộc xã Pitô, huyện Lâm Hà, và bây giờ đã được sát nhập vào xã Lat, huyện Lạc Dương, là một thôn làng nghèo nhất của xã này. Pằng-Tiêng cách xa Thành Phố Dalat khoảng hơn 40 cây số. Có khoảng hơn 20 cây số đường chưa được trải đá hoặc trải nhựa, rất hẹp, cheo leo, nhiều đoạn đường đầy bùn đỏ nhão nhẹt vào mùa mưa, bụi đỏ tung trời vào mùa nắng, nhiều đoạn sỏi đá gồ ghề nguy hiểm…cho tất cả các loại xe và rất khó khăn cho người dân tộc luôn luôn đi bộ (họ nói „đi bằng chân“) và đi hàng một… Pằng-Tiêng với dân số trên hơn 700 nhân mạng. Nguồn sống chính ngày nay là trồng càphê, sản xuất lúa nước, lúa thổ và các loại khoai củ, nhưng nguồn thu nhập thật không đáng kể. Người Thượng hiền lành ngây ngô, từ xa xưa họ sống như dân du mục; Thí dụ như hôm nay họ đến khu đồi này dựng lều, đốt rừng, xới đất trồng lúa, trồng khoai, đến mùa gặt xong họ đốt hết những gì không mang theo được, để lại đống tro tàn cho người khác hay mùa khác họ trở về và tiếp tuc… họ đi đến ngọn đồi khác cũng làm y như vây.

Ngày nay họ được các linh mục truyền giáo dạy họ cách „an cư lạc nghiệp“ nên họ dừng lại lập thôn làng Pằng-Tiêng. Họ vẫn canh tác thô sơ như họ đã từng, nên thu nhập chẳng có gì. Người Thượng thích uống rượu, đàn ông thì mê rươu, say rượu không nghĩ đến làm việc. Một số người Kinh đến thôn làng buôn bán làm ăn sinh lợi trên sự ngây ngô thiếu hiểu biết của họ, nên họ muôn đời vẫn nghèo đói.

Mùa hè năm 2009 tôi có dịp theo chân linh mục Gioan Nguyễn Xuân Thu, dòng Chúa Cứu Thế đến thăm viếng nơi nầy, hàng ngày cha với chiếc xe máy cọc cạch mà vẫn hùng hổ hăng hái đi từ làng Tùng Lâm cách hơn 20 cây số (con đường này ngày nay đã được tráng nhựa) đến làng để giúp đỡ bà con người dân tộc nơi đây. Chúng tôi dừng chân tại trung tâm thung lũng, chung quanh rải rác lưa thưa vài căn chòi, vài căn nhà sàn thô sơ nho nhỏ… nằm hắt hiu, cheo leo chung quanh trên các sườn đồi. Con suối nhỏ ngoằn ngoèo, quanh co, hai bên bờ cỏ xanh um tùm chen lấn với trùng trùng hoa dại trắng đỏ tím vàng hồng thơ mộng, giòng nước trong veo tuôn chảy nhẹ nhàng, nhìn thấy rõ đàn cá nhỏ tung tăng dỡn nước với những mảng rêu xanh uốn éo nhảy múa theo con nước, vài chú ốc to nhỏ bám vào những hòn sỏi nâu, đen, hồng hồng trải đầy dưới lòng suối… Dân làng Pằng Tiêng cũng thi vị lắm khi nói cho tôi biết, đây là nước mắt của chàng K’lang khóc nàng Biang chảy từ núi Lâm Viên (LangBiang) chảy về thung lũng Suối Vàng, ghé qua thăm làng.

Nơi đây ngày 18.11.2009, Đức Giám Mục địa phận, Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã đến cử hành Thánh Lễ đặt viên đá đầu tiên để xây dựng nhà nguyện. Một địa điểm trung tâm của làng, phù hợp cho một nơi có thể tụ tập dân làng giữa một thung lũng mà chung quanh chập chùng nhiều đồi núi, khó có nơi nào tốt hơn. Tôi chúc mừng cha, cha cười nói: Khó lắm mới có được chỗ này đấy bác ạ. Khu đất này nguyên thuộc đất tư của một số giáo dân muốn nhượng lại với giá phải chăng trong tinh thần đóng góp với ước muốn tại địa điểm này có một nhà nguyện để hằng ngày đến với Chúa Giêsu và Mẹ maria. Chính quyền sở tại dứt khoát không đồng ý, nhưng nhờ dân nhất quyết và nhờ sự dàn xếp khéo léo nên cuối cùng Ý Chúa và ý dân được thực hiện. Cha dẫn tôi đến khoe nơi đặt viên đá thiêng liêng của dân làng. Đưa tay sờ vào viên đá thật đẹp, vuông vức 1m.1m mà thật lạnh, gợi nhớ Lời Chúa Chúa Giêsu lập Giáo Hội, Ngài đặt tên cho tông đồ Simon là Phero, có nghĩa là đá: „trên viên đá này ta xây Giáo Hội của Ta“. Viên đá được che đậy bằng một mảnh ván dầy cứng cáp, vuông vức, bên trên là một chậu hoa tươi thật to. Nơi đặt viên đá này sẽ là Cung Thánh của ngôi Thánh Đường tương lai.

Dự án xây cất thì đã ổn định tốt đẹp ,nhưng phần thực hành xây dựng thì thiên nan vạn nan, giáo dân thì còn quá nghèo khổ không thể đóng góp được gì hơn ngoài công sức và tấm lòng yêu mến Chúa. Cha Thu phải kêu gọi sự hảo tâm của toàn thể dân Chúa ở khắp nơi, kẻ ít người nhiều góp gió thành bão, góp tiểu thành đại để thực hiện dự án, giúp giáo dân nơi đây có một ngôi Thánh Đường để thờ phượng Chúa.

Tạ ơn Chúa, Chúa đã chọn nơi đây làm Nhà Chúa, để ban tình thương của Chúa cho anh em dân tộc nơi xa xôi hẻo lánh này. Trên viên đá vừa đặt Chúa đã xây Giáo Hội của Chúa tại đây. Nguyện xin Chúa hãy gìn giữ và chở che họ. Tôi trở về với niềm vui và chút lo nghĩ không biết dự án xây cất này có hình thành được không? Có ngoài sức lo lắng của cha Thu không? Khi nhà cầm quyền đang chực chờ một một cơ hội thuận tiện nào đó là sẽ bắt ngưng ngay dự án. Tôi không tin khả năng của Cha Thu mặc dù cha rất năng nổ, cương quyết. Tôi mất tin tưởng trong sự tráo trở của những kẻ cầm quyền. Nhưng tôi tin vào quyền năng của Thiên Chúa, cảm nhận được Ý Chúa, biết Chúa xử dụng cha Thu như công cụ để Ngài thực hiện kế hoạch của Ngài. Tôi liên lỉ cầu nguyện.

**

Vào lúc 9g30 sáng ngày 27.7.2011 Đức Giám Mục Giáo Phận Đàlạt đã đến chủ tế nghi thức cung hiến ngôi nhà thờ Pằng Tiêng. Cơ sở này thuộc Giáo xứ Tùng Lâm. Chúng tôi được mời đến tham dự lễ khánh thành nhà thờ này nhưng vì quá xa xôi và không thuận tiên cho chuyến đi nên vợ chồng chúng tôi hẹn cha Thu một ngày nào đó sẽ …

Năm 2013, dịp về quê hương an táng bà nhạc của tôi, vợ chồng tôi đã đến đây để chứng kiến nơi mà năm 2009 tôi đến thăm, chỉ là một thung lũng, cây cối um tùm, rậm rạp, khúc khỷu, nơi hang hố cho thú rừng ẩn trốn. Chính nơi đây do công sức của cha Thu hằng ngày cùng chung sức với giáo dân, bưng bê, xê dịch, khiêng vác những tảng đá từ lòng suối lên để lấp đầy những hang hố, những chỗ lũng, san bằng những chỗ ghồ ghề để có một mặt phẳng tốt đẹp hôm nay, nơi có Ngôi Thánh Đường khang trang nổi bật giữa nương rẫy tốt tươi bao bọc chung quanh dưới nền trời trong xanh đang lơ lửng những vầng mây trắng.

Thung lũng Pằng-Tiêng ngày nay có thể được gọi là „Thung Lũng Tình Yêu“. Vì nơi đây Tình Yêu của Thiên Chúa đã và đang tuôn đổ cách dồi dào trên đoàn dân nhỏ bé của Ngài. „Khung cảnh nơi đây thật tuyệt đẹp, chúng ta hãy cũng phải chăm sóc cho linh hồn mình thật đẹp“ (Lời Mutter Teresa Calcutta). Ước mong cha Gioan Maria Xuân Thu luôn chăm sóc cho linh hồn của cha thật tốt đep hầu sẽ hướng dẫn chăm sóc người dân tộc nơi đây có những tâm hồn đẹp tốt như ngôi Thánh Đường này. Vinh Danh và Tạ Ơn Thiên Chúa.

Elisabeth Nguyễn (viết lại cho ông xã xệ)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s