Phạm hy Sơn – Vấn Đề Nguồn Gốc các Thể Thơ Trong TNCD

Trong bài viết về các thể thơ trong Tục Ngữ Ca Dao (TNCD) chúng tôi đã chứng minh thể Nói Lối, thể Sáu Tám (Lục Bát), và thể Bảy Bảy Sáu Tám (Song Thất Lục Bát) được cấu tạo do tính chất đặc biệt giàu âm điệu của tiếng Việt tạo nên từ những câu ngắn gọn có vần điệu tiến tới những câu dài, dần dần tạo thành ba thể thơ kể trên .

Nhưng có một vài tác giả đặt vấn đề : thể Sáu Tám và thể Bảy Bảy Sáu Tám hoàn toàn do người Việt tạo ra hay bắt chước của người Chăm(Champa), người Trung Hoa ?  

Bác sĩ Trần ngọc Ninh có 3 bài viết liên quan đến thể sáu-tám được in lại trong cuốn Ước Vọng Duy Tân  xuất bản tại Mỹ năm 2013.  Bài thứ nhất bằng tiếng Pháp, sách in tại Canada năm 1991, xin trích : “Enfin, je dirai ici mon hypothèse de l’origine cham du rythme six-huit (lục bát) dans la poésie vietnamienne, qui est le rythme de base de la chanson populaire (ca dao) du Vietnam” . Tạm dịch :” Sau hết, tôi muốn nói ở đây giả thuyết về nguồn gốc chăm của thể sáu-tám trong thi ca Việt Nam, nó là nhịp điệu căn bản của ca dao Việt Nam “ (ƯVDT trang 167) .

Bài thứ hai về  Nguyễn Du và Quan Họ ông không còn coi đó là một giả thuyết (hypothèse) mà coi như thể lục-bát của Việt Nam bắt nguồn từ người Chăm (Chàm) : “ Trong các điệu hát Chàm, có những bài hát ru con và những bài hát giao duyên gọi là Dohdam Dari (đọc là Tô tam Tà rà ) viết theo thể 6-8, gieo vần âm (tiếng) số 6 trong câu 6 và âm số 4 trong câu 8, giống những câu lục bát trong phong dao của ta (hay đúng hơn là ngược lại, ta giống Chàm) :

                          -Con cò lặn lội bờ sông,

                           Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non .

                          -Chân đi đá lại dùng dằng,

                            Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con . . .  .

Thể thơ lục bát gieo vần ở tiếng 6 câu 6 và tiếng 6 câu 8 là một biến thể của lục bát nói trên .” (ƯVDT trang 182-183) .

Nếu nói rằng tiếng cuối câu 6 vần với tiếng thứ 4 câu 8  như hai câu ca dao trên là thể chính và tiếng cuối câu 6 vần với tiếng 6 câu 8 là biến thể thì vô lý vì  ca dao Việt Nam hầu hết ở “ biến thể” với vần là tiếng thứ 6 câu 8 .

-Bầu ơi thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn .

-Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang,

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu …  .

Trái lại, trong ca dao của ta thể chính rất hiếm, một ngàn câu ở thể biến mới có một vài câu ở thể chính .  Ngay cả trong những tác phẩm truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn đình Chiểu, Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn thị Điểm hay bất cứ tác phẩm nào viết bằng thể thơ 6-8 hay 7-7/6-8 đều như vậy cả .    Điều đặc biệt nữa là trong thơ 6-8 của người Chàm vần trắc được dùng rất nhiều, gần như phân nửa, còn người Việt coi thể 6-8 vần trắc như một thứ biến thể, một ngoại lệ, ít khi được dùng :

-Tò vò mà nuôi con dện,

Sau này nó lớn nó quyến nhau đi .

Tò vò ngồi khóc tỉ ti,

Dện ơi ! Dện hỡi ! Mày đi đàng nào ?

Nên bác sĩ Trần ngọc Ninh từ ước đoán để đi đến kết luận rằng thể 6-8 bắt chước từ người Chàm là quá sớm ?

Bài thứ 3 là điểm cuốn sách  Dự Báo Bùng Nổ Thơ Ca (Nguyễn phan Cảnh), ông viết : “ Tôi nói rằng thơ lục-bát là thơ của nhân dân Việt Nam . Điệu lục-bát với vần eo ở tiếng thứ 4 hay tiếng thứ 6 là của những người dân Chiêm bị bắt rồi được định cư ở những làng Chèm, làng Vẽ, làng Láng, làng Lim tại ven thủ đô Thăng Long sau những chiến tranh đời Lý và của những dân Chăm ở châu Ô, châu Lý là lễ cưới của quốc vương Chăm để đẹp duyên với công chúa Huyền Chân .  Người Việt sống chung (ở những làng ấy) đã thích cái điệu Chàm có nhịp đôi theo bước đi và sự đong-đưa của tay, nên đã đem sự trầm bổng bằng trắc của tiếng Việt vào mà làm thành tiếng hát quan họ Bắc Ninh với những bài hát giao duyên của các liền chị, liền em, và những lời liên hoan sau hội chợ của các o phường nón, phường vải Thanh Nghệ Tĩnh .  Thơ lục-bát là đứa con hợp hôn của nhịp điệu Chàm và tiếng nhạc Việt.”

Thứ nhất, BS Trần ngọc Ninh tự mâu thuẫn khi ở đầu câu nói thơ lục bát là “thơ của nhân dân Việt Nam” nhưng cuối câu lại nói nó là “đứa con hợp hôn của nhịp điệu Chàm và tiếng nhạc Việt” . Thứ hai, nếu nói rằng vào đời nhà Lý nhờ có những người Chàm định cư ở một số làng bên ngoài Thăng Long (Hà Nội bây giờ) đem thơ lục bát vào làm thành tiếng hát quan họ .  Như vậy trước đời Lý chúng ta chưa có thể thơ lục bát ? Chúng ta chưa có tục ngữ ca dao ?

Hát quan họ chỉ có ở một số làng thuộc Bắc Ninh và Thanh Nghệ Tĩnh, trong khi ca dao phổ biến khắp nơi, từ thôn xóm ở đồng quê cho tới phố phường nơi đô thị .  Hơn nữa có những bài ca dao mang tính lịch sử có vào thời vua Lý thái Tổ với ngụ ý nói về lai lịch của nhà vua :

-Con ai đem bỏ chùa này,

Nam mô đà Phật, con thầy thầy nuôi . ( Lý công Uẩn lấy họ của cha nuôi là nhà sư Lý khánh Vân, mẹ họ Phạm) .

Hay xa xưa hơn nữa :

-Con ơi, con ngủ cho lành,

Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi .

Muốn coi lên núi mà coi,

Có bà quản tượng cưỡi voi bành vàng . (Có người cho bài ca dao này nói về bà Triệu, nhưng bà Triệu chỉ là tướng, không phải là vua nên 4 câu  thơ trên chỉ vào bà Trưng thì đúng hơn vì chỉ có vua mới được dùng màu vàng .  Bành vàng là ghế của nhà vua tựa như ngai vàng.  Dù chỉ bà Trưng hay bà Triệu thì cũng có trước khi người Chàm có mặt ở nước ta cả ngàn năm hay gần một ngàn năm) .

Ông Võ long Tê, một học giả, trong bài Quan Điểm Lịch Sử và Thẩm Mỹ về Thể Thơ Lục Bát đăng trên ấn phẩm Diệu Âm (nhà XB Đà nẵng 4/2011) viết :” Các tác giả không đồng ý  về nguồn gốc thể lục bát .  Có người chủ trương thể lục bát xuất xứ từ thi pháp Trung Hoa, có người nhận xét đó là một thể thơ chung cho nhiều dân tộc ở Đông Nam Á, nhưng phần nhiều quả quyết đó là một thành tích sáng tạo của dân tộc Việt”.  Giáo sư Nghiêm Thẩm thuộc Đại Học Văn Khoa Saigòn trong bài Sự Tồn Tại của Bản Chất Indonésien trong nền Văn Hoá Việt Nam (NS Quê Hương 6/1962 XB ở Saigòn) viết :” Nếu ta nghiên cứu về văn chương Chàm, ta thấy người Chàm rất ưa dùng thể lục bát .  Nhưng trong lục bát Chàm chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ tư câu tám .  Nhưng hiện nay văn chương Chàm chưa được khảo cứu tường tận nên ta không biết rõ là người Chàm lấy thể lục bát của người Việt Nam hay là người VN đã lấy thơ của người    Chàm. “ ( Xin xem Võ văn Hoè : Giao thoa văn hoá Việt Chăm nhìn từ thơ ca dân gian đăng trên Web site dangiandanang.blogspot.com 17/3/2014 trích các bài của Gs  Nghiêm Thẩm và học giả Võ long Tê) .

Về văn học Chăm, ông Inrasara, một nhà sưu tầm và nghiên cứu người Chăm đã bỏ rất nhiều thời gian và đi khắp nơi thu thập từ những câu tục ngữ, ca dao, đồng dao, câu đố … cho đến những tác phẩm sử thi, gia huấn ca : “ Sau 25 năm lăn lộn với chữ nghĩa, đánh vật với (những) trang sách chép tay ố mờ, tôi đã thu thấp được hàng trăm thần thoại, truyện cổ, 2.000 câu tục ngữ, câu đố, hơn 50 bài ca dao, đồng dao .  Sáng tác thành văn tạm kể : 5 sử thi, 1 trường ca trữ tình, 10 tập thơ ký sự, 3 gia huấn ca .“ (Phác họa chân dung văn học Chăm –Web site: daibieunhandan.vn 19-12-2013) .

Theo ông, người Chăm coi sách là một bảo vật thiêng liêng nên những thùng đựng sách (ciet) được treo cất ở nơi trang trọng trong nhà và được giữ gìn rất cận thận : mỗi tháng dùng lễ vật đem sách xuống phơi khô .

Thể lục bát (ariya) được người Chăm dùng trong cả ca dao truyền miệng và trong các tác phẩm chữ viết .

Theo ông Inrasara :  “ Ariya lục bát Chăm gieo vần lưng .  Chữ thứ sáu dòng lục hiệp với chữ thứ tư dòng bát :

                             Thei mai mưng deh thei o,

                             Drơh phik kuw lo yaum sa urang .

                             Ai đến từ đàng kia xa ,

                             Giống người yêu ta riêng chỉ một người …   .                      

   . . . .  Nhưng không như ở lục bát Việt, vần trắc tồn tại khá bình đẳng với vần bằng trong ariya Chăm .  Thậm chí trong một bài thơ dài, nó gần như đứng xen kẽ .  Nghĩa là cứ một câu hiệp vần bằng tiếp liền một câu hiệp vần trắc . (Inrasara, Văn học Chăm khái luận, NXB Tri Thức, xb 2011, trg 32&33) .

Và ông nhận xét về thể 6-8 của Việt và của Chăm : “ Qua đối chiếu và phân tích sơ bộ, chúng ta thấy lục bát Việt và ariya Chăm có rất nhiều điểm giống nhau .  Trong đó cái giống nhất là nhịp điệu (rhythm) của chúng . Khác nhau chăng là do sự dị biệt ở ngôn ngữ của hai dân tộc .  Chúng ta không thể khẳng định cái nào có trước, cái nào có sau .  Lúc này thì không thể- trong khoảng mù mờ của lịch sử ấy .  Nhưng chắc chắn là có sự ảnh hưởng và tác động qua lại .  Ngày nay giới làm thơ Chăm cũng có sáng tác theo thể lục bát thuần Việt ổn định, chỉ gieo vần bằng và hiệp vần ở chữ thứ sáu của câu bát “.( Sách đã dẫn, trang  36) .

 

Nếu so sánh, chúng ta thấy cả tục ngữ Việt và Chăm phần lớn đều dùng vần trong câu nói dù là một câu ngắn gọn hay câu dài :

Việt :      -Ăn vóc, học hay.

-Bố già, nhà dột .

-Có cá đổ vạ cho cơm .

-Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề . . .   .

 

Chăm :     -Jak blơng ia, gila blơng asar (Khôn ăn nước, dại ăn cái) .

-Bwơl karang, Yang pabblwak (Dân thì tốn hao, Yang lại được thêm) .

-Lipa xara yamưn, trei patei plak (Đói muối ngọt, no chuối chát) .

-Dak lihik kabaw yuw oh dak di mưluw blauk ( Thà mất đôi trâu còn hơn mất mặt ) . . .   (Inrasa, VHCKhái Luận trang 54, 56, 58)

Chỉ một điều này cũng đủ chứng tỏ tục ngữ, thành ngữ Việt là của người Việt và Chăm là của người Chăm vì người dân quê Việt không thể dạy người dân quê Chăm nói tục ngữ, thành ngữ có vần điệu theo người Việt, và ngược lại người dân quê Chăm cũng vậy .

Về số lượng, trong Tủ sách văn học Chăm tập 7 (Tục ngữ-Ca dao-Câu đố) có 300 câu tục ngữ, 100 bài ca dao và đồng dao, 80 câu đố và phần phụ lục có 900 thành ngữ .    Một con số quá khiêm tốn của một nền văn học có chiều dày và chiều cao .   Có lẽ dân tộc Chăm phải trải qua quá nhiều thăng trầm của lịch sử nên sự mất mát của nền văn học là sự tự nhiên dù người ta đã cố gắng bảo tồn qua sách vở .

So với người Việt, chỉ trong 2 cuốn Tục ngữ Phong dao của cụ Nguyễn văn Ngọc đã có 2.667 bài ca dao (cuốn I gồm 1.841, cuốn II gồm 827 bài), 367 bài đố, 4.752 câu tục ngữ (nói chung, bao gồm thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn, cách ngôn) chưa kể cuốn Hương Hoa Đất Nước sưu tập ca dao miền Nam của ông Trọng Toàn và các cơ quan văn hóa các tỉnh hiện nay .  Người ta ước lượng có khoảng hơn 30.000 câu .

Trở lại với nguồn gốc của thể thơ 6-8, không thể nói người Việt lấy từ người Chăm hay ngược lại vì :

Thứ nhất không phải chỉ có hai dân tộc này có thể 6-8, mà theo GS Nghiêm Thẩm thì các nhà sử học Thái Lan cho biết người Thái cũng có thể 6-8, rồi một số đồng bào sắc tộc ở cao nguyên miền Trung cũng làm thơ theo thể này.   Như vậy, thể 6-8 rất có thể là thể thơ mà các dân tộc Đông Nam Á do cùng chung âm sắc, vần điệu của ngôn ngữ tạo ra, hay đã có trước khi các bộ tộc gốc Đông Nam Á này chia tay nhau mỗi bộ tộc định cư một phương ?  (Truyện cổ tích Cô Bé Lọ Lem (Cinderella) không phải chỉ có ở các nước phương Tây mà Việt Nam là Tấm Cám, Nga là Vasilisa The Beautiful, Iraq là The Little Red Fish and The Clog of Gold, vùng Trung Đông có vô số bản riêng của các sắc tộc ở đó, tục ăn trầu có ở nhiều nước vùng Đông Nam Á và cả quaần đảo Đài Loan, người Do Thá lội xuống sông Jordan, người Ấn xuống sông Hằng . . .) .

Thứ hai theo chứng cứ lịch sử, nền văn hoá này – phần lớn là của kẻ mạnh, kẻ xâm lăng – ảnh hưởng đến nền văn hoá khác trực tiếp qua giới có học, quan quyền chứ không ảnh hưởng nhiều đến đại đa số người bản xứ bình dân .  Do đó, sau khoảng 500 năm bị người Hy Lạp đô hộ, văn hoá, chữ viết Hy Lạp được phổ biến rộng ở tầng lớp quan quyền, thượng lưu, trí thức châu Âu và Trung Đông nhưng khi chế độ thực dân xụp đổ, Ý vẫn riêng là Ý, Pháp, Thổ, Liban … vẫn riêng là Pháp, Thổ, Liban vì nhờ vào đại đa số dân chúng ít học, ít tiếp xúc với văn hoá của kẻ cai trị mà duy trì được tiếng nói và văn hoá, trong đó có những câu tục ngữ, những bài ca dao, đồng dao, dân ca, truyện cổ tích … riêng của từng dân tộc . Đó cũng là trường hợp của Châu Âu, các nước vùng Địa Trung Hải, Trung Đông … sau thời kỳ đô hộ lâu dài của La Mã .

Rõ ràng nhất là dân tộc Việt Nam trong 1.050 năm (111 TTL – 939 STL) bị đô hộ trực tiếp với chính sách đồng hoá gắt gao của người Trung Hoa : đục, đốt cho bằng hết văn bia, sách vở nhưng những câu tục ngữ ca dao truyền miệng không tài nào ngăn cấm vì không đủ người để kiểm soát đa số người dân sinh sống trải khắp từ miền nông thôn lầy lội hoang vu đến những nơi rừng rú ma thiêng nước độc .  Do đó tiếng ta còn, văn chương truyền miệng ta còn và tinh thần dân tộc ta còn .

Sau khi thu hồi độc lập năm 939, chúng ta còn cả gần một ngàn năm (939 – 1884) văn hoá Trung Hoa thống trị, nhất là từ nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê cho đến nhà Nguyễn thấy chủ nghĩa tôn quân của đạo Nho có lợi cho việc duy trì quyền thống trị của vua chúa đã tự nguyện đem sách vở, luật lệ, phong tục của Trung Hoa áp dụng trong nước – thời nhà Lê, vua ra lệnh cho Lý Trưởng hàng tháng phải tụ tập dân chúng để giảng kinh sách cho họ học hỏi đạo Nho – nhưng trong 2.667 bài ca dao và 367 bài đố, tuyệt đối không có lấy một bài làm theo thể thất ngôn bát cú (bảy chữ tám câu, cũng gọi là thơ Đường) là thể thơ Trung Hoa mà những người theo học Nho bắt buộc phải học . Thể ngũ ngôn (năm chữ) cũng không có trong ca dao Việt Nam .

Ngược lại thì trong hàng ngàn, hàng vạn bài thơ của Trung Hoa không có lấy một bài ở thể 6-8 hay 7-7/6-8 .  Vậy căn cứ vào đâu để nói rằng 2 thể này truyền từ Trung Hoa sang Việt Nam trong khi người Trung Hoa không có ?    Có người còn nói rằng thể 6-8 là biến thể của 2 câu thất ngôn (7-7) của thơ Đường mà thành và thể 7-7/6-8 thì 2 câu 7-7 là 2 câu thơ thất ngôn  .  Lập luận ấy hoàn toàn không có căn cứ vì 2 thể thơ của Việt Nam đều gieo vần ở lưng câu, trong khi các thể thơ Trung Hoa vần gieo ở cuối câu, hoàn toàn khác biệt .  Làm thế nào để đổi bài thơ theo luật Đường sau đây ra thể 6-8 hay 7-7/6-8 :

      Chùa Trấn Bắc

Trấn bắc hành cung bỏ dãi dầu,

Khách đi qua đó chạnh niềm đau .

Mấy tòa sen rớt mùi hương ngự,

Năm thức mây phong lớp áo chầu .

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn,

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau .

Người xưa, cảnh cũ nào đâu tá,

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu !

Bà Huyện Thanh Quan

GS Dương quảng Hàm cho rằng muốn phân biệt thơ ta, thơ Tàu thì căn cứ vào cách gieo vần .  Nhận xét ấy rất đúng: Thơ Tàu gieo vần ở cuối câu (cước vận), thơ ta (sáu tám, bảy bảy sáu tám ) gieo vần ở lưng câu (yêu vận).

 

Đó là thời Bắc thuộc, thời Pháp thuộc các nhà trí thức, văn nghệ sĩ chịu ảnh hưởng của Pháp rất nhiều : tiểu thuyết lãng mạn, phong trào thơ mới rầm rộ với Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu trọng Lư … vào những năm 1930, 1940 .  Còn ca dao vẫn là thể 6-8 :

-Mười giờ ông chánh về Tây,

Cô Ba ở lại lấy thầy thông ngôn !

-Gáo vàng đem múc giếng Tây,

Khôn ngoan cho lắm, tớ thầy người ta .

Ngày nay ngoài thể thơ ngũ ngôn, thơ Đường của Trung Hoa, Thơ Mới, thơ Tự Do, thơ Tân Hình Thức của phương Tây có mặt ở nước ta đã lâu và trình độ học vấn của đa số người dân hiện nay là Trung Học, hàng chục triệu Tú Tài, hàng triệu Cử Nhân hay trình độ cử nhân, chưa kể số Thạc Sĩ, Tiến Sĩ – số người không biết chữ chỉ chiếm vài phần trăm – nhưng tục ngữ ca dao vẫn không dùng bất cứ thể thơ nào từ bên ngoài đem vào mà  luôn luôn dùng thể nói lối, sáu-tám với những câu, chữ đơn giản, bình dị, hợp với tâm tình người Việt Nam .

Trong nước thì :

-Đầu đường đại úy vá xe,

Cuối đường thiếu tá bán chè đậu đen ! …   .

Ngoài nước thì :

-Quê hương lỡ một chuyến đò,

Anh hùng, tráng sĩ lò bò dung thân ! …   .

Do đó, chúng ta có thể khẳng định thơ 6-8 và 7-7/6-8 là của người Việt Nam, do ngôn ngữ đặc biệt của Việt Nam tạo ra .

 

(Trích trong Khảo Sơ về Tục Ngữ Ca Dao)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s