Phạm hy Sơn – Vấn Đề Nguồn Gốc các Thể Thơ Trong TNCD

Trong bài viết về các thể thơ trong Tục Ngữ Ca Dao (TNCD) chúng tôi đã chứng minh thể Nói Lối, thể Sáu Tám (Lục Bát), và thể Bảy Bảy Sáu Tám (Song Thất Lục Bát) được cấu tạo do tính chất đặc biệt giàu âm điệu của tiếng Việt tạo nên từ những câu ngắn gọn có vần điệu tiến tới những câu dài, dần dần tạo thành ba thể thơ kể trên .

Nhưng có một vài tác giả đặt vấn đề : thể Sáu Tám và thể Bảy Bảy Sáu Tám hoàn toàn do người Việt tạo ra hay bắt chước của người Chăm(Champa), người Trung Hoa ?   Tiếp tục đọc

PHẠM TRỌNG CHÁNH – CẢNH ĐẸP THÀNH THĂNG LONG THỜI TÂY SƠN QUA THI CA ĐOÀN NGUYỄN TUẤN (1750- ? )

            Chùm thơ Đoàn Nguyễn Tuấn viết về cảnh vật thành Thăng Long, là một tập thơ kiệt tác trong kho tàng văn học chữ Hán nước ta.  Tập thơ gồm 28 bài, như 28 vì sao khuê, nhị thập bát tú,  tiếc thay trong Hải Ông Thi tập, nxbKHXH. 1982 chỉ in lại có 23 bài, tôi xin dịch thơ đường luật  hết 23 bài ấy để giới thiệu những hạt ngọc trong thi ca Việt Nam chưa được lưu ý đến.

Đoàn Nguyễn Tuấn hiệu là Hải Ông, quê làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, là con trai Thám hoa Đoàn Nguyễn Thục (1718-1775) con rễ Quốc lão Nhữ Đình Toản (1703-1774) triều Lê, và là anh vợ thi hào Nguyễn Du (1766-1820). Tiếp tục đọc