Phạm hy Sơn – Các Thể Thơ Trong Tục Ngữ Ca Dao

Tục ngữ ca dao có từ lâu đời và xuất phát phần lớn từ nơi thôn dã nên ở bất cứ quốc gia nào tục ngữ, ca dao, dân ca cũng được diễn tả bằng những lời giản dị, nhiều khi thô kệch, ý thì đơn giản dễ hiểu, phù hợp với cuộc sống của người bình dân :

-Cày thuê cuốc mướn .                 -Buôn thúng bán mẹt .

-Khố rách áo ôm .                         -Nhà rách vách nát .

-Mang nặng đẻ đau .                     -Ăn cháo đá bát .

-Ăn tục, nói phét .                         –Chó đá, cá cày . . .    

Tuy nhiên cũng có nhiều câu bóng bảy, ý nhị :

-Áo gấm về làng .                          -Đan gầu tát biển  .

-Cây có cội, nước có nguồn .         -Lá rụng về cội .

-Thăm ván bán thuyền .                 -Ếch ngồi đáy giếng. . .   .

Dù là những câu ngắn gọn của ngạn ngữ, tục ngữ, thành ngữ . . .  người Việt chúng ta hay nói sao cho dễ nghe, có vần, có điệu (những chữ nghiêng vần với nhau ) :

-Bán vợ, đợ con .                          -Bến đò, lò rèn .

-Cầu được ước thấy .                    -Tốt lễ dễ van .

-Mất mới lo làm chuồng .        -Tránh vỏ dưa, gặp võ dừa .

-Ăn lấy đặc, mặc lấy dày .            -Ăn cây nào, rào cây ấy .

-Có ăn có chọi mới gọi là trâu .    -Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp .

-Ăn hơn, hờn thiệt, đánh biệt cất đi, làm chi thì làm .

-Cố đấm ăn xôi,

Đấm thì vô hồi xôi chẳng được ăn .

Trong thời đồ đá cách nay hàng chục ngàn năm, con người sống bằng săn bắn, hái lượm chưa biết chăn nuôi , trồng trọt thì tiếng nói cũng giới hạn, đơn giản, nhiều lắm là có những tiếng chỉ về cây cối, loài vật tiếp xúc hàng ngày : bưởi, ổi, chuối, chó, bò, trâu, heo, hang, động, mũi lao . . .  . Nồi niêu chưa có, lấy gì để nói “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” và cả mấy ngàn năm sau đó chắc chưa có người con gái nào nói dối mẹ “Qua cầu gió bay “ :

-Yêu nhau cởi áo cho nhau,

Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay ! (Vì chưa có áo để cởi)

Thời gian này chắc chỉ có tục ngữ, chưa có ca dao .  Dần dần đời sống phát triển, con người biết cày cấy, làm nhà để ở, dệt vải may quần áo . . . là lúc đầu óc con người đã mở mang, biết nhận thức, suy nghĩ, tình cảm đã mở rộng và nâng cao thì tiếng nói cũng phát triển theo để kêu tên những vật mới, sự việc mới, nhất là để diễn tả những điều mình suy nghĩ, những điều mình cảm nhận và sự hình thành tục ngữ ca dao cũng tiến theo cùng một con đường như thế .

Từ câu ”Cờ bạc dạc dày” thô kệch người ta cũng có thể diễn tả một cách văn hoa hơn :

-Cờ bạc là bác thằng bần,

Cửa nhà bán hết cho chân vào cùm .

Hay :  “Yêu cho đòn cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi “ bằng câu :

-Mật ngọt chết ruồi,

Những nơi cay đắng là nơi thật thà .

“Ăn nhai nói nghĩ “ bằng câu :

-Lời nói không mất tiền mua,

Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau .

Từ những câu đơn giản, mộc mạc, thô kệch con người tiến tới những bài thơ bóng bảy, hàm súc, chứa chan tình cảm mà người ta gọi là văn chương :

-Mình về mình nhớ ta chăng,

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười .

Năm quan mua lấy miệng cười,

Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen .

Cái răng đen ai khéo nhuộm cho mình,

Để duyên mình đẹp, để tình anh yêu .

 

-Đố ai biết lúa mấy cây,

Biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng .

Đố ai quyét sạch lá rừng,

Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây !

Văn chương cũng như tất cả các ngành khác : Toán học, hóa học, vật lý, sinh vật học . . . đều có sẵn các qui luật tự nhiên trong trời đất, con người đương nhiên phải dựa vào đó để sống và rồi từ cuộc sống thực tế khám phá ra : 1+1 = 2,  2+2 = 4,  3×2 = 6,  7×3 = 21  . . . trước khi các nhà toán học được sinh ra .  Con người đã biết bơi lội, dùng bè, thuyền để di chuyển trên mặt nước rất lâu trước khi ông Archimède, người Hy Lạp, tìm ra định luật về sức đẩy của nước .

Trong những câu thơ ca của văn chương, nguyên lý là vần điệu, chúng ta nói sao cho có vần, có điệu, lên xuống nhịp nhàng để không chói tai mà lại êm ái, dễ hiểu, dễ nhớ .  Tiếng Việt chúng ta có rất nhiều âm nhờ vào những nguyên âm đơn: a, e, i, o, u cộng với các nguyên âm kép: ai, ao, eo, oa, oe, oi . . . và các dấu sắc, hỏi, huyền, ngã, nặng biến 1 nguyên âm thành 5 âm khác nhau :

 o     ó    ỏ    ò    õ    ọ

Hay :   to    tó    tỏ   tò  tõ   tọ

Người ta ước tính tiếng Việt có khoảng từ 25.000 đến 30.000 âm trong khi tiếng Bắc Kinh hay Quan Thoại của người Tàu có khoảng 1.300 âm nên trong tiếng Tàu những tiếng đồng âm khác nghĩa rất nhiều và viết khác nhau : Đại: đời (tam đại), đại: thay mặt (đại biểu), đại: to lớn (vĩ đại) …  .

Vì âm dồi dào như vậy, có rất nhiều âm chúng ta chưa dùng tới, như trong biến âm của chữ “to” chúng ta mới dùng 4 tiếng : to (to lớn), tó (búi tó), tỏ (trăng tỏ), tò (tò mò) còn 2 tiếng tõ, tọ chưa dùng . Âm nhạc xưa có 5 bậc âm (ngũ âm : Cung thương lầu bậc ngũ âm – Nguyễn Du) thì tiếng nói của chúng ta có tới 6 bậc nên khi người nước ngoài nghe chúng ta nói lên lên, xuống xuống líu lo như một bài ca .   Vì có số âm nhiều nên chúng ta dễ tạo vần, dù trong một câu nói ngắn đã có vần, có điệu của câu thơ : “ Nén bạc đâm toạc tờ giấy”, trong khi người Tàu nói một câu ý nghĩa tương tự với lời nói thông thường :” Đa kim ngân phá luật lệ “ .

Tùy theo cách xếp đặt của âm điệu, chúng ta có các thể thơ mà các nhà nghiên cứu văn học phân loại ra, còn đối với những tác giả của tục ngữ ca dao xưa và nay họ không quan tâm đến thể thơ nào cả (hay đúng ra họ chẳng bao giờ học cách làm thơ), miễn sao những câu họ nói ra có vần, có điệu nghe êm tai là được :

-Đói ăn rau má,

Chớ ăn bậy bạ mà chết .

-Giận đứa ngu quên ngủ,

Mê vận lú quên ăn .

-Tham thì thâm,

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham .

-Tết đến sau lưng,

Ông vải thì mừng, con cháu thì lo .

-Ba vợ, bảy nàng hầu,

Tối nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi .

-Lọng vàng che nải chuối xanh,

Tiếc cho con chim loan phượng đậu nhành tre khô .

-Hay lam, hay làm đầu quang, mặt sạch,

Chẳng hay làm đầu rếch, mặt dơ .

-Hứng chuyện non, thấy bà có cỗ ãm con cho bà,

Hứng chuyện già, thấy bà xé thịt gà, đi hái lá chanh .

( Nguyễn văn Ngọc, Tục Ngữ  Phong Giao)

 

Hay :    -Đi ngang qua nhà má tay tôi xá, chân tôi quì,

Lòng thương con má sá gì thân tôi !

-Cũng tại hóa công,

Khiến kẻ đông người bắc .

Tuy là xa lắc,

Còn nhắc nhau hoài .

Chẳng qua mạng nọ ghét tài,

Xui anh bảng lảng duyên hài mới lơi .

(Trọng Toàn, Ca Dao Miền Nam )

-Chim khôn chọn cây mà đậu,

Gái khôn chọn chồng nhậu mà nhờ

Mai sau chết bụi, chết bờ khỏi chôn ! (Ca dao Bạc Liêu)

Tuy nhiên trong cái kho tàng lộn xộn ấy, những nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học nhìn thấy những thể loại chính, được người ta thường dùng để diễn tả và gọi đó là các thể thơ .

Bất cứ thể thơ nào cũng tiến triển tử thô sơ đến hoàn chỉnh . (Bên Tàu, thể thơ chính, nổi tiếng, có niêm luật rất chặt chẽ được hoàn chỉnh vào đời nhà Đường (618 TL – 907 TL) nên gọi là Thơ Đường Luật hay Thất Ngôn Bát Cú ( bảy chữ tám câu) do từ thể Cổ Phong là thể số câu không giới hạn, niêm luật không rõ ràng, một bài thơ có thể có một hay nhiều vần, có đối hay không có đối ) .

Ca dao Việt Nam chúng ta có ba thể :

1-Thể Nói Lối : là thể thơ thường là 4 chữ, có thể tiến triển từ những câu nói đơn giản mà thành :

-Biết sự trời, mười đời chẳng khó .

-Ăn miếng ngon, chồng con trả người .

-Làm giàu có số, ăn cỗ có phần .

-Miếng ngon nhớ lâu, lời đau nhớ đời .

-Đi học thầy đánh, đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói .

-Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân,

cá rô Đần Sét .

-Vắt chân chữ ngũ, đánh củ khoai lang,

Bớ cô nhà hàng , rót thầy bát nước .

Nếu chúng ta phân ra từng câu ngắn, chúng ta có thể nói lối, ví dụ :

-Biết sự trời,

Mười đời chẳng khó .

-Vắt chân chữ ngũ,

Đánh củ khoai lang,

Bớ cô nhà hàng,

Rót thầy bát nước .

Về cách gieo vần, tiếng cuối câu trên vần với tiếng cuối câu dưới bằng vần trắc hay vần bằng :

-Lạy trời mưa xuống,

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày,

Lấy bát cơm đầy,

Lấy rơm đun bếp .

Hay tiếng cuối câu trên vần với tiếng thứ 2 câu dưới :

-Không trồng mà mọc,

Không học mà hay,

Không vay mà trả,

Không vả mà sưng,

Không bưng mà kín .

(Năm câu đố : cỏ, chim hót, thuế, cái nhọt, quả trứng )

Hoặc kết hợp cả 2 cách gieo vần trên :

-Vươn vải vươn vai,

Chóng lớn, chóng dài,

Đi chơi với trẻ,

Sức khoẻ sống lâu,

Bạc đầu cồi cội .

Dưới đây là thể nói lối 6 chữ :

-Lúa ngô là cô đậu nành,

Đậu nành là anh dưa chuột,

Dưa chuột là ruột dưa gang,

Dưa gang là nàng dưa hấu,

Dưa hấu là cậu lúa ngô,

Lúa ngô là cô đậu nành .

Trong thể nói lối chúng ta có những bài vè . Bài vè gồm những câu 4 chữ, không giới hạn số câu, thường được dùng ở thôn quê dưới hình thức chế diễu, bỡn cợt và luôn luôn mở đầu bằng 2 câu:

-Nghe vẻ nghe ve,

Nghe vè . . . (người, việc muốn nói )

Ví dụ :

-Nghe vẻ nghe ve,

Nghe vè chị Sáu,

Nói năng láu táu,

Làm lụng lung tung,

Được cái lên khung,

Bảnh ơi là bảnh !

 

Dưới đây là Vè Đánh Bạc :

Nghe vẻ nghe ve,

Nghe vè đánh bạc,

Đầu hôm xao xác,

Bạc tốt như tiên,

Đến khuya hết tiền,

Bạc như chim cú,

Cái đầu sù sụ,

Con mắt trõm lơ,

Hình đi phất phơ,

Như con chó đói .

Trong những bài hát của trẻ em (đống dao) phần lớn ở thể nói lối như bài Phụ Đồng Chổi, bài Chi Chi Chành Chành . . .     .

Dưới đây là bài Tập Tầm Vông :

-Tập tầm vông,

Con công nó múa,

Nó múa làm sao ?

Nó rụt cổ vào,

Nó xoè cánh ra,

Nói đậu cành đa,

Nó kêu cây cải,

Nó đậu nồi bảy,

Nó nói nồi bung,

Nó đậu cành sung,

Nó kêu tố hộ .

 

2 – Thể Lục Bát : Thể Lục Bát hay thể Sáu Tám là thể thơ một câu 6 tiếng, một câu 8 tiếng .

Tiếng cuối câu 6 vần với tiếng thứ 6 câu 8 và tiếng cuối câu 8 vần với tiếng cuối câu 6 kế tiếp, cứ thế vần với nhau .  Thể này không giới hạn số câu, có thể vài câu hay vài trăm, vài ngàn câu như trong Bích Câu Kỳ Ngộ, truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Tống Chân Cúc Hoa . . .   :

-Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng .

Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây .

Xây dọc rồi lại xây ngang,

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân .

Bài ca dao trên đây thuộc thể Sáu Tám vần bằng . Thỉnh thoảng người ta cũng gặp thể này ở vần trắc, nhưng rất hiếm và không được dùng để viết truyện dài :

-Tò vò mà nuôi con nhện,

Sau này nó lớn nó quyện nhau đi .

Tò vò ngồi khóc tỉ ti,

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện đi đàng nào ?

Ở thể Sáu Tám, đôi khi người ta cũng gieo vần, tuy rất ít, ở tiếng cuối của câu 6 với tiếng thứ 4 của câu 8 :

-Việc tôi làm không bằng bác,

Bánh đúc kẹo lạc, bác chẳng bằng tôi .

-Công cha trọng lắm anh ơi,

Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang .

-Thuyền bồng chở lái về đông,

Con đi theo chồng, để mẹ ai nuôi ?

Mẹ già đã có con trai,

Con là phận gái dám sai chữ tòng .

Cũng như trong các thể thơ khác, thể Sáu-Tám cũng thoát thai từ những câu ca dao dưới hình thức và âm điệu giống Sáu-Tám nhưng không hoàn chỉnh, chẳng hạn như những câu sau đây :

-Bắt chấy cho mẹ chồng,

Như thấy bồ nông dưới biển .

-Giàu đời nay lắm kẻ ưa,

Giàu đời xưa chẳng ai màng .

-Con gà béo bán bên Ngô,

Con gà khô bán láng giềng .

-Tham thì thâm,

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham !

-Bánh đúc bẻ ba,

Mắm tôm quẹt ngược mất nhà như chơi .

-Dù buôn đâu bán đâu,

Mồng mười tháng tám trọi trâu thì về .

-Trời năng mưa năng chuyển,

Đất ngoài biển năng lở năng bồi .

Đôi ta yêu lỡ nhau rồi,

Chàng than, thiếp thở phụ mẫu ngồi sao yên .

-Ăn mày là ai ? –Ăn mày là ta,

Đói cơm rách áo hoá ra ăn mày.

-Hoài hòn ngọc cho trâu vày,

Hoài bánh dầy cho thằng méo miệng ăn .

Trong ca dao của ta, số lượng ở thể Sáu-Tám hoàn chỉnh chiếm đa số và về sau những thi sĩ dùng thể này hay thể Song-Thất Lục-Bát – Hai-Bảy Sáu-Tám – để viết sử, viết truyện dài vài trăm câu, có khi cả hàng ngàn câu ( Cung Oán Ngâm Khúc, Bần Nữ Thán, Phan Trần . . . ).

 

3 – Thể Hai-Bảy Sáu-Tám (Song Thất Lục Bát) : Trong thể 7-7/6-8 chữ (tiếng) cuối câu thứ 7 là trắc vần với chữ thứ 5(trắc) của câu 7 thứ hai, chữ cuối câu 7 thứ hai là bằng, vần với chữ cuối câu 6, chữ cuối câu 6 vần với chữ thứ 6 của câu 8 và chữ cuối câu 8 vần với chữ thứ 5 câu 7, cứ thế mà diễn tiến theo chu kỳ .   Thí dụ :

-Ngòi đầu cầu, nước trong như lọc,

Đường bên cầu, cỏ mọc còn non .

Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,

Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền .

Nước có chảy, mà phiền chẳng giã,

Cỏ có thơm, mà dạ chẳng  khuây .

Nhủ rồi, nhủ lại cầm tay,

Bước đi một bước, dây dây lại dừng . . .     .

(Chinh Phụ Ngâm, bản Phan huy Ích, Hoàng xuân Hãn chú giải, Minh Tâm xb,10/1954)

 

 

Thể này là sự kết hợp của 2 Câu Bảy và 2 câu Sáu Tám (7-7/6-8) có khá nhiều trong tục ngữ ca dao của chúng ta .  Hình thức không hoàn chỉnh hay đã hoàn chỉnh của hai câu 7 chữ có rất nhiều :

Hai câu 7-7 không hoàn chỉnh:

-Chửa được thì hứng bằng rá,

Đã được thì đá bằng chân .

-Chửa đánh được người mày xanh mắt tía,

Đánh được người hồn vía lên mây .

-Đèn nhà ai rạng nhà ấy,

Khách qua đường biết đấy là đâu .

-Sống về mồ về mả,

Chẳng ai sống về cả bát cơm …  .

Hai câu 7-7 hoàn chỉnh :

-Đi ra đường soi gương đánh sáp,

Khi về nhà liếm láp nồi niêu !

-Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

Năm canh chầy thức đủ năm canh .

-Chốn ước mơ lất lơ mà hỏng,

Nơi tình cờ mà đóng nhân duyên .

-Áo xông hương của chàng vắt mắc,

Đêm em nằm, em đắp lấy hơi .

-Vợ ba con anh còn để bỏ,

Huống chi nàng ngọn cỏ phất phơ .

-Đó với đăng kêu rằng một họ,

Trăng với đèn ai tỏ hơn ai ?

-Mồ côi cha ăn cơm với cá,

Mồ côi mẹ liếm lá đầu chợ . .  .   .

Và trong ca dao có những bài kết hợp dưới hình thức 7-7/6-8 không hoàn chỉnh :

-Ai lấy thì lấy giúp,

Ai không lấy thì úp một nơi .

Ai lấy thì lấy chơi,

Ai không lấy thì phơi đầu hàng .

-Quế càng già càng tốt,

Mía càng đốt càng ngon,

Anh thương em đặng nghĩa vuông tròn,

Mấy sông cũng lội, mấy hòn cũng leo .

-Chiếc thuyền kia nói có,

Chiếc ghe nọ nói không,

Phải chi miễu ở gần sông,

Em thề một tiếng kẻo lòng anh nghi .

-Ngó lên trời, trời cao lồng lộng,

Ngó xuống đất, đất rộng thinh thinh.

Anh với em gá nghĩa chung tình,

Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng .

-Chim xa rừng thương cây nhớ cội,

Người xa người tội lắm người ơi,

Thà rằng chẳng biết thì thôi,

Biết nhau mỗi đứa một nơi cũng buồn .

Dưới đây là những bài ca dao ở thể 7-7/6-8 :

-Sông Thạch Bàn quanh co uấn khúc,

Núi Đá Bia cao vút từng mây,

Sông kia, đá nọ còn đây,

Mà người non nước ngày nay phương nào ?

-Chén tình là chén say sưa,

Nón tình em đội nắng mưa trên đầu .

Lược tình em chải trên đầu,

Gương Tàu soi mặt làu làu sáng trong .

Ngồi buồn nghĩ đến hình dong,

Con dao lá trúc cắt lòng đôi ta .

Duyên đôi ta thề nguyền từ trước,

Biết bao giờ ta được cùng nhau,

Tương tư mắc phải mối sầu,

Đây em cũng giữ lấy mầu đợi anh .

-Sông Tương ai gọi rằng sâu,

Chẳng bằng một nửa mạch sầu của ta .

Sông tuy sâu hãy còn có đáy,

Bệnh tương tư không bãi không bờ .

Đầu sông chàng đợi, chàng chờ,

Nào hay thiếp đợi lững lờ cuối sông .

Những bài thơ loại 7-7/6-8 trong ca dao khá nhiều và hai câu 7-7 có thể đứng ở đầu bài hay bất cứ chỗ nào trong bài .  Chỉ khi được các thi sĩ dùng để sáng tác, thể này mới có quy tắc nhất định như chúng ta thấy trong các tác phẩm của cụ Ôn Gia Hầu, bà Đoàn thị Điểm, Công Chúa Ngọc Hân . . .    .

Thơ Biến Thể hay không hoàn chỉnh : Một vài người viết rằng những bài thơ có hình thức và âm điệu của hai thể kể trên nhưng không đúng niêm, luật là thơ biến thể .  Nói như vậy là ngay từ nguyên thủy đã có các thể thơ kể trên .

Thực ra như chúng tôi đã trình bày, các thể thơ kể trên được những thi sĩ lấy ra từ tục ngữ ca dao để làm thơ và họ chỉ sáng tác theo những thể thơ đó .  Cả hàng bao nhiêu ngàn năm trước, những tác gỉả của tục ngữ ca dao “nói thơ” theo nguyên lý của vần điệu, sao cho êm ái, trầm bổng dễ nghe, tiến từ những câu ngắn gọn, đơn sơ mới tới được ca dao.  Kể cả bây giờ, sau gần ngàn năm hay ít nhất là mấy trăm năm, những nhà thơ của chúng ta sáng tác những cuốn truyện tuyệt vời (Trê Cóc, Trinh Thử, Chinh Phụ Ngâm, Bần Nữ Thán, Bích Câu Kỳ Ngộ, truyện Kiều …) với hai thể thơ sáu-tám và bảy-bảy/sáu-tám thì người bình dân vẫn làm thơ theo con đường riêng của họ : nói thơ theo vần điệu, không theo niêm luật . Lý do rất dễ hiểu là họ có biết thể đâu mà bảo họ biến thể .  Sau đây là một vài bài ca dao làm sau này :

Ca dao miền Nam :

-Nếu em còn ngại, qua thề lại cho em mừng,

Đứa nào được Tấn quên Tần,

Xuống sông cọp ních, lên rừng sấu tha . (Trọng Toàn, Ca dao miền Nam)

Thời thuộc Pháp :

-Chợ Saìgòn cẩn đá,

Chợ Rạch Giá cẩn xi mon (măng),

Giã em ở lại vuông tròn,

Anh về xứ sở không còn ra vô . (Trọng Toàn, Ca dao miền Nam)

 

Giáo sư Dương Quảng Hàm trong VNVHSY gọi những câu không hoàn chỉnh của hai thể 6-8 và 7-7/6-8 là biến thức, tức là số chữ trong câu thơ không đúng quy định :

                 “ -Thể lục bát chính thức :

                                   Tò-vò mà nuôi con dện (nhện),

                                   Ngày sau nó lớn nó quến nhau đi .

                                   Tò-vò ngồi khóc tỉ-ti,

                                 “Dện ơi! Dện hỡi ! Mày đi đằng nào ?”

 

                   Thể lục bát biến thức :

                                   . . . .

                                   Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu,

                                   Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia .

                                   Bắc thang lên thử hỏi trăng già,

                                   Phải chăng phận gái hạt mưa sa giữa trời . . .   .

                    Thể song thất chính thức :

                                   Bác mẹ già phơ-phơ đầu bạc,

                                   Con chàng còn trứng-nước thơ-ngây,

                                   Có hay chàng ở đâu đây,

                                   Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng .

                     Thể song thất biến thức :

                                   . . . .

                                   Gái có chồng như gông đeo cổ,

                                   Gái không chồng như phản gỗ long đanh .

                                   Phản long đanh anh còn chữa được,

                                   Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi . . .  . “

(Dương quảng Hàm, VNVH Sử Yếu, trang  16)

Những câu ca dao trên là những câu không hoàn chỉnh của thể 6-8 và 7-7/6-8, không thể gọi chúng là biến thể .

 

(Trích trong Khảo Sơ về Tục Ngữ Ca Dao)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s