GS ĐÀM TRUNG PHÁP – ĐỌC THƠ HAIKU NHẬT BẢN QUA LỐI VIẾT ROMAJI

    Mỗi bài thơ “haiku” (俳句) của người Nhật Bản là một tiểu vũ trụ thu gọn trong đúng 17 âm tiết. Trong cái hạn hẹp tối đa ấy, nhà thơ diễn tả cảm nghĩ của mình trước thiên nhiên và còn cho người đọc thoáng thấy một hình ảnh vĩnh cửu phát hiện qua một cảnh trí thông thường chóng phai mờ. Về điểm này thì có lẽ mỗi nhà thơ lớn, ở phương trời nào cũng vậy, đều có đôi chút “tâm hồn haiku” – như khi William Blake (1757-1827) đã thấy cả vũ trụ trong một hạt cát, cả thiên đường trong một đóa hoa dại (“to see a world in a grain of sand, a heaven in a wild flower”) hoặc như khi Đinh Hùng (1920-1967) mới chỉ nhìn vào đôi mắt lưu ly của “kỳ nữ” mà đã “thấy cả bóng một vầng đông thuở trước, cả con đường sao mọc lúc ta đi”!

Tổng số 17 âm tiết của một bài haiku được thu xếp thành 3 dòng thơ, thông thường với 5 âm tiết cho dòng thứ nhất, 7 âm tiết cho dòng thứ hai, và 5 âm tiết cho dòng thứ ba. Ba dòng thơ ấy không bắt buộc phải vần với nhau và cũng không cần những dấu chấm câu. Thi bá Matsuo Basho (松尾笆僬) thuộc thế kỷ 17 là người đã nâng thơ haiku lên hàng nghệ thuật siêu đẳng, và cũng từ đó haiku trở nên thể thơ thông dụng nhất trong văn chương Nhật Bản. Nghệ thuật siêu đẳng này gắt gao đòi hỏi nhà thơ phải diễn tả rất nhiều, gợi ý tối đa trong một hình thức vắn tắt, cô đọng nhất. Mỗi bài haiku phải gây nên một ấn tượng trọn vẹn bằng cách đặt vào bên cạnh yếu tố thiên nhiên một câu gợi ý về một mùa trong năm hoặc một cảm xúc mạnh. Bài thơ dưới đây của Basho dùng hai yếu tố thiên nhiên (con đường vắng vẻ, lúc xẩm tối mùa thu) để làm bối cảnh cho một cảm xúc mạnh (sự hiu quạnh tột cùng):

kono michi ya  –  con đường ấy

yuku hito nashi ni – không người qua lại

aki no kure – trời xẩm tối mùa thu

Vì nhiều chữ Nhật Bản ở dạng đa âm tiết (thí dụ như danh từ “shizukesa” có nghĩa là sự thanh tịnh gồm 4 âm tiết), khi bị ghép vào mô thức haiku tiết chế, nhiều khi chỉ một hai chữ thôi đã chiếm hết cả dòng thơ rồi. Cho nên cả bài haiku chỉ là vài ba nét chấm phá để gợi cảnh, gợi tình, hoàn toàn “ý tại ngôn ngoại” (意在言外). Ba thi nhân haiku hàng đầu trong văn học Nhật Bản là Matsuo Basho (松尾笆僬1644-1694), Yosa Buson (与謝蕪村 1716-1784), và Kobayashi Issa (小林一茶 1763-1827). Basho lẫy lừng nhất, thường được ví như một William Wordsworth (1770-1850) vì ông cũng đã suốt đời đi tìm sự cảm thông với thiên nhiên. Thơ Basho phảng phất cốt cách tiên của Lý Bạch (李 白 701-762) và nhuộm mầu ly tao của Đỗ Phủ (杜甫 712-770). Buson còn là một nhà danh họa ; thơ ông rất đẹp nét, trữ tình, và nhậy cảm. Issa mồ côi mẹ từ thuở ấu thơ và bị mẹ ghẻ hắt hủi ; từ năm 14 tuổi đã tự lập và nghiên cứu haiku. Thơ Issa bình dị và nhắc đến các sinh vật nho nhỏ như chim sẻ, dế, bươm bướm với nhiều thân thương trìu mến.

Haiku là thơ vịnh thiên nhiên qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Ta hãy xem ba thi nhân nêu trên chấm phá cảnh trí thiên nhiên như thế nào qua các bài haiku lừng danh của họ, được trích dẫn bằng romaji là lối viết tiếng Nhật bằng mẫu tự la-tinh, rất dễ phát âm, dành cho những người quen với mẫu tự này như chúng ta. [Tiếng Nhật còn 3 lối viết khác là kanji, hiragana, và katakana. Kanji (漢字) dùng chữ Hán phát âm kiểu Nhật để viết các từ (words) ; hiragana (片仗名) dùng một hệ thống ký hiệu tượng trưng các âm tiết , để viết các từ Nhật bản không có trong kanji ; và katakana (平仗名) dùng một hệ thống ký hiệu tượng trưng các âm tiết,  để viết các từ mượn (borrowed words), các tên ngoại quốc, hoặc để viết các phần nhấn mạnh trong câu]. Ưu điểm của romaji là nó cho người đọc thấy rõ được các từ ngữ tượng thanh cũng như sự hòa hợp các âm tương tự (assonance) trong các dòng thơ. Trong bài viết này, các dòng chuyển sang tiếng Việt cố gắng giữ nội dung nguyên tác, mặc dù đôi khi phải thay đổi thứ tự ý nghĩa các câu để nghe cho thuận tai người Việt, và hoàn toàn không theo mô thức tiết chế của haiku.

         Vì sự ngắn gọn tối đa, thi nhân haiku không thể sử dụng cú pháp cầu kỳ, nhưng điều này lại chính là một lợi điểm cho người chưa giỏi tiếng Nhật nhưng thích đọc thơ haiku. Quả thực, chỉ cần một kiến thức căn bản về cú pháp Nhật ngữ và một cuốn tự điển Nhật dùng lối viết romaji dễ tra cứu mục từ sắp xếp theo thứ tự a, b, c (thí dụ như cuốn “Kodansha’s Romanized Japanese-English Dictionary” dầy 666 trang xuất bản tại Tokyo năm 1993 mà bút giả sử dụng) là chúng ta có thể thưởng thức thơ haiku. Chính cuốn tự điển này đã giúp bút giả hiểu ý nghĩa bài thơ của Basho viết về tiếng ve kêu, trong đó có các từ “shizukesa” (静 = thanh tịnh), “iwa” (岩 = tảng đá lớn), “semi” (蟬 = ve sầu), và “koe” (声 = giọng). Kiến thức cú pháp căn bản của tiếng Nhật giúp người đọc nhận ra rằng giới từ “ni” (trong) phải đứng sau danh từ trong một đoản ngữ với giới từ đóng vai chủ động (prepositional phrase) –ngược hẳn với thói quen trong tiếng Anh và tiếng Việt. Vì vậy đoản ngữ “trong tảng đá lớn”  khi dịch sang tiếng Nhật sẽ thành “tảng đá lớn trong” (iwa ni). Cần biết thêm, chủ từ trong câu được đánh dấu bằng tiểu từ “ga” hoặc “wa” đặt ngay sau nó, túc từ được đánh dấu bằng tiểu từ “o” đặt ngay sau nó, động từ thì lúc nào cũng phải đứng sau cùng trong câu, theo thứ tự gần như bất di bất dịch là “chủ từ + ga/wa + túc từ + o + động từ.” Còn tiểu từ “no” (của) trong tiếng Nhật được dùng như chữ “chi” (之) trong tiếng Tàu hoặc “sở hữu cách -’s ” trong tiếng Anh. Do đó, “semi no koe” phải hiểu là “thiền chi thanh” (蟬之声) hoặc “the cicada’s voice.”

Mùa xuân mang lại những sinh vật mà Issa rất trìu mến. Có lẽ khi vỗ về tinh thần chú ếch mảnh mai, thi nhân cũng tự an ủi chính mình :

yase-gaeru (chú ếch èo uột)

makeru na issa (đừng bỏ cuộc nhé)

kore ni ari (issa  đang an ủi chú đây)

Mưa xuân khiến hoa cỏ tốt tươi, nhưng phũ phàng làm sao, dưới làn mưa ấy cũng có một lá thư bị ai đó quăng đi để gió thổi vô rừng, như Issa diễn tả:

haru-same ya (mưa xuân)

yabu ni fukaruru (lá thư vứt bỏ)

sute tegami (gió cuốn vô rừng)

Xuân là mùa của hạnh phúc, của tái sinh, nhưng thảm thay, Buson thấy xuân cũng là mùa của tàn sát sinh linh:

hi kururu ni (trong hoàng hôn)

kiji utsu (tiếng bắn chim trĩ vang dội)

no yama-be kana haru (triền núi mùa xuân)

Trong ánh xuân rực rỡ, Basho ước ao được tự do, không vướng lụy hồng trần, như con sơn ca kia đang líu lo giữa thảm cỏ xanh:

hara-naka ya (giữa bãi cỏ)

mono nimo tsukazu (sơn ca líu lo)

naku hibari (chẳng ưu phiền)

Mùa hạ đến, Basho chỉ nghe thấy tiếng ve sầu vang vọng vào kẽ đá. Thi nhân ghi lại cảm giác đầy thiền tính ấy qua ba dòng thơ sau :

shizukesa ya (thanh tịnh và)

iwa ni shimi-iru (thấm vào đá lớn)

semi no koe (tiếng ve ca)

Khi vui hưởng đời, mấy ai thấy chết chóc đang chờ. Những con ve sầu của Basho cũng thế – chúng có biết đâu là cuộc sống của chúng sắp tàn:

yagate shinu (ve sầu ca hát)

keshiki wa mieru (chẳng mảy may hay biết)

semi no koe (chết đã gần kề)

Nhân sinh vô thường, có khác chi đám mây trôi luôn thay hình đổi dạng, qua thi bút huyền diệu của Issa:

oni to nari (đám mây trong ngày khổ ải)

hotoke to naru ya (từ hình quỷ)

doyoo-gumo (chuyển sang hình phật)

Cỏ mùa hạ tốt tươi thật đấy, nhưng Basho cũng thấy dưới lớp cỏ ấy là mồ chôn những ước mơ hiển hách của biết bao đấng trượng phu:

natsu-kusa ya (cỏ mùa hạ)

tsuwa-mono-domo ga (đang chôn vùi)

yume no ato (giấc mơ chiến thắng cố chinh nhân)

Mùa thu đang làm đẹp thiên nhiên khi nhà thơ kiêm danh họa Buson nhìn thấy những trái ớt chín mọng trên cây:

utsukushi ya (đẹp biết bao)

no-waki no ato no (những trái ớt đỏ tươi)

toogarishi (sau trận thu phong)

Người thường khi nghe tiếng dế rên rỉ đêm thu thì có lẽ chỉ buồn thôi, nhưng thi sĩ Issa đa cảm đã vội nghĩ ngay đến ngày mình xuống mộ. Mời nghe nhà thơ cô đơn đó căn dặn người bạn nhỏ nhoi đôi lời:

ware shinaba (này chú dế)

haka-mori to nare (hãy làm người gác mộ)

kirigirisu  (sau khi ta lìa đời)

Bóng đêm dầy đặc, một vài tia chớp, và tiếng kêu xào xạc của một con chim đi tìm mồi là mấy chấm phá tuyệt diệu vẽ lên một đêm thu cô quạnh đến rùng mình qua thần bút Basho :

inazuma ya (vài tia chớp lập lòe)

yami no kata yuku (tiếng kêu vạc ăn đêm)

goi no koe (bay vào cõi tối)

Mùa đông trở lại, với băng giá ngoài trời và băng giá trong lòng thi nhân. Lúc ấy Buson chỉ ước ao được đi ở ẩn trong núi Yoshino:

fuyumori-go (mùa đông ẩn dật)

kokoro no oku no (ngọn núi yoshino)

yoshino yama (chiếm trọn tâm tư)

Basho ít khi dừng bước giang hồ. Tuy vậy, ông ngao ngán trạng huống ốm đau khi chu du mùa đông qua những vùng hẻo lánh:

tabi ni yande (lữ hành trong bệnh hoạn)

yume wa kare-no o (chờn vờn bóng ma)

kake-meguru (trên cánh đồng hoang)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

“The Japanese Haiku” (1957) của Kenneth Yasuda, NXB Tuttle, Tokyo.

“Matsuo Basho” (1970) của Makoto Ueda, NXB Kodansha, Tokyo.

“Classic Haiku” (1991) của Yuzuru Miura, NXB Tuttle, Tokyo.

“Kodansha’s Romanized Japanese-English Dictionary” (1993), Tokyo.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s