Nguyên Lạc – HOA MẪU ĐƠN BIỂU TƯỢNG Ý NGHĨA VÀ TRUYỀN THUYẾT (PHẦN II) 

Hoa Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh, là “hoa phú quý” . Mẫu đơn là loài hoa vương giả sang trọng ở Trung Quốc, biểu tượng cho sự giàu có, thịnh vượng và sắc đẹp.

Hoa Mẫu  đơn đóa lớn rực rỡ lạ thường, hương thơm áp đảo mọi loài hoa khác. Vì vậy người ta còn gọi là “bách hoa vương”. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh “Chúa của muôn hoa”. Nhất là giai đoạn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 13 sau Công Nguyên. Mẫu đơn được ca tụng trong văn thơ, nhạc và tranh vẽ lúc bấy giờ.

***

U Minh tràm đước, cóc kèn (*)

Anh hùng lỡ vận vào rừng bắt ong

Bắt sao trúng phải nỗi buồn

Cảm thương phận bạc, lệ tuôn lưng tròng !

 

Dõi theo con nước lớn ròng

Bỏ đi trốn bậu mà lòng xốn xang

Nước mắt sao cứ chảy hai hàng ?

Chèo ghe lướt tới, mà lòng quay lui !

(CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH – NL)

 

CHUYỆN TÌNH ” HOA MẪU ĐƠN ” VÙNG U MINH

  1. THAI ĐỐ TRONG DỊP TẾ LỄ KỲ YÊN

Thời xưa, ở Nam Bộ, dịp tế lễ Kỳ Yên (cầu an lành) thường bày ra đấu xảo bánh khéo nhất, đấu xảo mâm xôi ngon nhất, ráo nhất. Lại chưng bài vài sản phẩm tượng trưng cho sự bội thu: củ khoai mì nặng cân ít thấy; trái bí rợ to đến mức kỳ dị; con trăn, con rùa to, khó gặp. Nhưng vui nhất có lẽ là “Thai đố “, đã thu hút mọi giới. [Thai đố  (quiz): Đố vui có thưởng]

Chủ trì là một ông kỳ lão đầu bịt khăn đỏ, ngồi ghế, giữa sân, bên cạnh là thúng đầy cam, quít, bưởi (dùng làm vật thưởng). Trước mặt ông là mõ và thanh la, với cây dùi.

Dùng cây dùi gõ vào mõ “cốc, cốc…” khi đoán câu đố sai; gõ vào thanh la nhẹ “beng” khi đoán gần đúng; gõ mạnh và liên hồi thanh la “beng beng beng” để xác nhận đoán đúng và trúng giải.

Thoạt đầu, ra những câu Thai dễ, thí dụ như:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,

Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.

 

– Xuất bỉnh (tên một thứ bánh).

Trẻ 1 hô lớn:  “bánh ướt”. Ngụ ý cầu khó đi, có thể té, quần áo ướt mem. Vì gần đúng, ông kỳ lão gõ một tiếng ” beng ” vào cái phèng la.

Cậu 2  đáp là ” bánh tét “. Ông kỳ lão gõ một tiếng ” cốc “, ngụ ý  sai lời giải.

Rốt cuộc, một cậu đáp to : ” Cái bánh bò”!.  Tiếng phèng la đổ dồn, khá to, xác nhận cậu ta trúng giải. Cây cầu khó đi thì phải bò, khom lưng.

 

Và đây là câu đó mà chúng ta cần chú ý

Kỳ lão ra câu Thai:

– Mẹ thằng cùi!

Xuất mộc (Tên một loài cây)

 

Vài người thử đáp giải, nhưng được lãnh tiếng ” cốc, cốc “, hoặc tiếng ” beng ” thật nhỏ.

Rốt cuộc, ông kỳ lão ra  Thai tự giải đáp:

– Mẹ là mẫu theo nghĩa chữ Hán.

Đơn là bịnh phong, người nổi đơn, da thịt sưng lên, sần sùi, gọi là bịnh cùi.

Vậy “Mẹ thằng cùi” là ” bông mẫu đơn “! (hoa mẫu đơn)

(Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam – Sơn Nam)

 

Lời giải đáp câu Thái nầy dẫn đến một chuyện tình rất buồn ở vùng U Minh, cực nam Nam Bộ, mà cụ Sơn Nam sẽ kể cho chúng ta nghe.

 

  1. CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là câu chuyện tình buồn của Hoàng Mai, cô gái ” hoa mẫu đơn” trong HƯƠNG RỪNG của nhà văn Sơn Nam:

[…Ngày ngày lớn khôn, Hoàng Mai càng yên tâm tin tưởng nơi dòng máu quí phái của mình. Cội hoàng mai cổ thụ trước sân, há chẳng là một bằng cớ? Bao năm rồi, nó vẫn bền gan khoe sắc khi gió Tết thổi về; vùng U Minh này mấy ai biết thưởng thức giống hoa vương giả lạc loài! Bản Nam Bình réo rắt trong ruột cây đàn thập lục chỉ để riêng cho nàng thông cảm đó thôi… Nhưng cơ trời không ai ngờ được, tránh được. Mây đẹp của đỉnh Ngự còn có khi tan, nước yên làng của dòng Hương thường bị gợn những làn sóng nhỏ. Năm ngoái, năm kia, khi vừa quá tuổi trăng tròn, một buổi chợt soi mặt vào lu nước mưa, nàng bắt gặp cái màu trắng trong leo lẻo của dàn da mình. Miệng chúm chím hàm tiếu, nàng vuốt mớ tóc đen huyền; bàn tay ngà đặt trên má đỏ hây háy, mơn man chuyền suối tóc về trên sau lưng gầy. Nhưng… lạ kìa! Hàng chục sợi tóc thi nhau tuôn xuống.

Gió nhẹ thoảng qua; chân tóc lấm tấm đung đưa, vướng bận chưa chịu bay đi như còn than van niềm biệt ly vô cớ. Nàng cau mày trở vào phòng, cầm lược chải kỹ. Nàng toan rú lên. Lược đùa đến đâu là tóc rụng đến đó như lá úa trên cành đến độ gió trở mùa. Nàng e thẹn. Nàng giận dỗi.

Thân phụ nàng – Ông hương giáo – chạy tới. Nàng soi gương, không day lại rồi trả lời về tiếng rú khi nãy:

– Không gì lạ đâu, thưa cha.

Ông hương giáo đã hiểu nguồn cơn. Mớ tóc rối nằm cuộng đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che giấu được cơn buồn. Chiếc gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu ửng đỏ lạ thường, không biến đổi dầu khi nàng sợ hãi.

– Từ hồi tấm bé, làn da của Haòng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm sự đều do đó mà ra…

Ông thở dài, cũng như ông đã thở dài hồi mấy năm trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi, rồi dẫm chân lên than hồng mà cưòi. Ðêm đến, ông nghe tiếng rên khe khẽ. Ngỡ là con gái nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba lần. Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mắt úp vào chiếc gối mềm như trốn tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung làm hở ra mấy mí lá che trên đầu vách.

Bịnh của nàng, ông doán được, ngặt không muốn nói rõ tên ra: bịnh nan y – bịnh cùi

Tư Lập, tay thanh niên khét tiếng về nghề ăn ong ở xóm Cán Gáo được ông hương giáo mời về nhà, bày rượu thịt thết đãi, đối xử như thượng khách.

Trang gia phổ lại giở ra, đọc nho nhỏ vừa đủ cho Tư Lập nghe. Tư Lập gật đầu.

Trong rừng già này, bên kia Ao Sấu, thỉnh thoảng loài ong ngũ sắc ấy trở về. Ban đầu chú Tư dùng con dao xương nai mà cạo lấy mật, nhưng không hiệu quả. Lần sau, chú mài miếng xương người, dẹp như cây dao, theo ý muốn của ông hương giáo. Ngọc ong đã lấy được, đem về. Chú bán tín bán nghi vì thấy “ngọc” chỉ là mớ nhụy bông quế kết lại thành ké mà loài ong dự trữ bên góc ổ. Từ đấy, ông hương giáo mời Tư Lập ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng, khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. Tư Lập như không chú ý đến điều vô lý đó, cứ ra vào nhìn trộm hình dáng giai nhân, rồi nằm trằn trọc… Mãi đến một đêm nọ, lúc đứng ngắm thẫn thờ cội mai già trước sân, chú nghe hơi thở nào ấm nồng, nhồn nhột sau gáy:

– Anh Tư ở đây vui chớ? Nãy giờ em không dám hỏi.

Chú nhìn kỹ: không phải là dạng hồ ly tinh trêu cợt, chính là Hoàng Mai, cô gái con ông hương giáo mà bấy lâu nay chú trộm nhớ thầm thương.

Nàng nói tiếp:

– Cha của em dặn em gọi bằng anh và đừng làm gì anh buồn.

Chú hiểu ý. “À té ra bấy lâu nay ông hương giáo thương mình”. Chú đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu:

– Em hơi mệt, như vậy…

Rồi nàng nâng tay áo lên, thứ tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài:

– Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi.

Cảm đông làm sao!… Và ngạc nhiên làm sao! Một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra  khi níu cái chéo tay áo của người đẹp. Tư Lập thấy rõ ràng bên trong, ngón tay của nàng rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải nhỏ vấn khéo léo thay thế.

Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về ở Long Xuyên …

Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại thì không được.

Chú lại trở về.

Hương rừng ngào ngạt, mùi hương xa lạ nhưng rất quen thuộc. Thằng Kim hít mạnh để hửi cho kỹ, để nhớ cho rõ nhưng nhớ mãi không ra. Chợt ngẩng đầu lên, nó trố mắt. Rừng cơ hồ không còn chiếc lá nào cả! Trên hàng vạn nhánh nhỏ, bàn tay thần nào rắc lấm tấm hằng hà sa số đợt bông gòn, không phải riêng trước mặt mà khắp các tứ phía. Rừng sáng lạn, ai dám nói là rừng âm u? Bông kết oằn sai, mịn màng, trắng tuyết; đài, cánh đâu không thấy chỉ thấy toàn là nhụy ngọt.

Nó buột miệng:

– Rừng cây gì vậy? Chú Tư.

Tư Lập day lại cười vang:

– Thằng quỉ! Hửi mà không biết mùi mật ong sao? Tràm chớ giống gì! Muôn ngàn hũ mật ong của trời ban xuống cho trần gian còn treo lủng lẳng như mù sương trên nửa lừng đó. Hửi vô thì say. Say thì không tỉnh được. Có người toan dùng nó mà luyện thuốc trường sinh, từ trăm năm nay…

 Tư Lập vội ngồi lên xuồng, chụp cây dầm, hờm sẵn:

– Bậy quá! Nó “đi bông” tới đây rồi mất dạng. Chờ một hồi nữa coi.

– Ði bông là gì? Chú Tư.

– Là đi hút nhụy bông… kìa mê quá!

. . .

Một con ong rồi hai con ong bay qua sát ngọn cỏ, lưng ngời những rằn xanh đỏ, hai chân sau quặp lại kẹp hai đốm vàng sậm mà thằng Kim đoán là nhụy bông.

. . .

. . .

… Hoảng hốt, Tư Lập nhảy ra, nắm cườm tay người khách lạ:

– Tao ở nhà ông hương giáo hồi xưa đây mà. Chú mày đến sau nên không biết rõ tao là ai.

Khách trố mắt:

– Trời! Cậu Tư. Về hồi nào! Trời… nãy giờ thấy cây búa, tôi hồ nghi là của cậu. Sao không lại thăm cô Hoàng Mai?

Tư Lập vuốt mồ hôi trán:

– Thôi! Về đi. Nhắn với ông hương giáo rằng tối nay tao tới.

– Buồn lắm! Cô Hoàng Mai yếu nhiều.

Tư Lập thở dài:

– Vậy hả? Ðừng nói nữa. Về trước đi.

Khách rút lui. Tư Lập nói ngậm ngùi:

– Trốn mà không khỏi. Trốn Tây ta là chuyện dễ; trốn người quen là chuyện khó hơn. Ta ăn cắp ổ ong khi nãy mà chi? Nghề ăn ong có nghiệp chướng… Ðây là ổ ong cuối cùng của tao trong nghề…

Thằng Kim hỏi:

– Sao vậy? Ai đau nhiều vậy chú? Cô Hoàng Mai là người bà con…

– Bà con không phải bà con. Người dưng không phải người dưng. Tối nay mày thay mặt tao, lại đó mà thăm ông hương giáo. Phần tao, tao phải xa rừng này. Ở lại đây, mày có dịp học khôn. Ðừng buồn. Ðể tao nói lại đầu đuôi sự tích, hồi năm trước…

. . .

…Ông hương giáo nói:

– Chú em thức hả? Kìa! Trên bàn thờ, từ bao năm rồi, tôi luyện “ngọc ong” để trị bịnh. Bịnh gì, chắc Tư Lập nói sơ cho chú em hiểu rồi. Tôi buồn quá. Tư Lập không trở lại nhà này nữa đâu. Chú em cứ nói thiệt. Phải vậy không?

Thằng Kim nói:

– Dạ cháu không biết. Chú Tư không nói rõ…

– Ta hiểu lắm. Dầu sao, trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa! Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quí phái huyền hão. Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa, xiêu lạc đến đây! Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn đủ sức lực mà bắt chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Câu thúc Tư Lập ở mãi tại đây chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn gì? Ừ! Tôi lo là tôi lo cho Hoàng Mai. Năm nay, nó ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết.

Sáng hôm sau, thằng Kim từ giã ông hương giáo rồi đến ngồi bên mé rạch. Bông vừng tươi thắm, cây cối hai bên bờ giao đầu lại, mát mẻ. Nó chờ đón bất cứ xuồng ghe ai, đi về đâu cũng được, để quá giang. Sau lưng nó, trên thềm nhà, trong bóng mát, hình dáng của Hoàng Mai với đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong chiếc khăn. Chiếc tay áo của nàng lòng thòng che khuất mấy ngón tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một hình bóng … ] HƯƠNG RỪNG- Sơn Nam (1)

Chuyện tình cô “bông mẫu đơn” Hoàng Mai buồn quá phải không bạn ? Áng văn tình này của nhà văn Sơn Nam đâu có thua bất cứ áng văn tình nào của các nước ngoài đâu?

Ôi đẹp quá cảnh rừng tràm lúc ong “đi bông”. Đẹp quá cảnh sông nước Cửu Long với rừng tràm, rừng đước. Có còn không khi thượng nguồn đã bị ngăn chặn bởi dã tâm của NƯỚC LỚN ?! (2)

 

NHẠC THƠ VĂN CÓ BIỂU TƯỢNG MẪU ĐƠN

  1. THƠ VĂN
  2. Thơ văn cổ:
  3. Lưu Vũ Tích: một thi hào đời nhà Ðường có làm bài “Am tửu khán Mẫu đơn” để diễn tả cái tâm lý tự trị của một người già trước sắc đẹp:

Ẩm Tửu Khán Mẫu Đơn

Kim nhật hoa tiền ẩm

Cam tâm túy sổ bôi

Đản sầu hoa hữu ngữ :

Bất vị lão nhân khai

 

Uống rượu ngắm hoa Mẫu đơn

Hôm nay uống rượu ngắm hoa

Cạn đôi ba chén gọi là mua vui

Chỉ e hoa nói lên lời :

Em không phải nở cho người già nua

(Bản dịch: Tương Như)

 

  1. Truyện Kiều: Ðoạn miêu tả tên Mã Giám Sinh đến gặp Kiều để mua Kiều về lầu xanh, nhìn sắc đẹp của Kiều, Mã say đắm toan tính:

Mừng thầm: Cờ đã đến tay

Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng

Ðã nên quốc sắc thiên hương

Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa

(Truyện Kiều câu 823 đến 826)

Tác giả Truyện Kiều mớm miệng cho Mã Giám Sinh, một tên chuyên mua gái bán dâm, đánh giá con người Kiều, bằng cách so sánh bóng bẩy văn vẻ như thế, càng cho ta cảm thấy nỗi đau đớn thấm thía của một kiếp người. Có sắc đẹp “quốc sắc thiên hương” như Kiều mà hắn cho là “cờ đã đến tay” !

Ðoạn nói về Kiều khi ở lầu xanh lần thứ nhất tại Lâm Tri, gặp Thúc Sinh, định theo về làm vợ lẽ; nhưng bị Thúc Ông (cha của Thúc Sinh) đến thưa quan sở tại, bắt Kiều vừa đóng gông, vừa đánh đòn có câu:

Dạy rằng cứ phép gia hình

Ba cây chập lại một cành Mẫu đơn

(câu 1425 và 1426)

 

Mẫu đơn ám chỉ  Kiều.

(Theo Ðiển tích Truyện Kiều – NXB Ðồng Tháp)

 

  1. Thơ văn hiện đại:

SÁNG CẢM

Sáng nay anh chậm rãi buồn

vì mẫu đơn không chịu nở

anh phát giác ra mình yêu vợ

từ rất lâu

trong khi vợ anh suốt ngày chì chiết

bụng anh bự thế kia

suốt ngày ngồi miết

bịa ra những mối tình thống thiết

mua vui cho người mà mình lại đau

Sáng nay anh ra vườn bắt sâu

không để nó thậm thụt với mẫu đơn hàm tiếu

những nàng quế, tía tô, ngò, hành, đậu bắp buồn rung rinh

anh chợt hiểu

đời mình chỉ đeo đuổi cái phù du hương hoa

vô ơn với rau cỏ nuôi mình

có thêm vitamin qua cơn táo bón

Sáng nay và nhiều buổi sáng khác

anh chỉ bận tâm

tại sao mẫu đơn không chịu nở

tại sao phù dung lại mau tàn

nhưng thế nào cũng hái một bó rau lang

cho nồi canh trong bếp

Rau cỏ ơi !

có bao giờ là hoa đâu

mưa nắng kiếp nào cũng

truyền đời thiêm thiếp

Anh chậm rãi buồn

ngồi vào bàn viết tiếp

vô tích sự những bài thơ

vô dụng những bài thơ

(Nguyễn Hàn Chung)

 

NGÀY HÁT KHÚC TÌNH THUA

cả đời ta vì một khúc tình thua

mà vác kiếm dạo quanh trời gái đẹp

 

mỗi quốc sắc chỉ một lần được chết

đã đâu yên – kìa năm bảy nấm mồ

cái thời ta cầu bại phải ngao du

bài ca cũ dễ chi đành tuyệt tích?

 

cái thời mỗi tên hoa lần hồi ta xoá sạch

những môi thơm bặm kín nỗi u tình

những kỳ nữ xuôi tay còn trợn mắt

vu oan ta chỉ để nhẹ hồn mình

 

cái thời mỗi khi ta buồn dừng vó ngựa

là một quan tài lê lếch qua sông

kiếm báu cứ lần chồm lên miệng vỏ

là bên kia trời lật xác thiên hương

 

thời tóc xanh bay rừng lòng ngạo mạn

đất thẳm trời dày trong tay hảo hán

tiếng cười gằn quên khấy chút khoan dung

đầu tình bay mà lưỡi kiếm còn rung

 

cái thời dưới khuya sương đau lòng bất bại

giặt áo phơi trăng hát lời độc cô

tiếng hát nổi chìm truyền ra miệng thế

mỗi khen chê đủ dằn mặt giang hồ:

 

“…thèm nhát kiếm lia ngang trời kiêu bạc

trần gian ơi, tri kỷ dễ còn ai ?

ráng huề giùm ta ví không thắng được

cho ta riêng ngậm thử chút tình hoài…”

*

em thuở ấy hẳn chưa từng biết mộng

trò cung tên chỉ quanh quẩn hiên rào

đâu tưởng nổi có lần em bắn trúng

con chim về từ cõi biển xanh dâu

 

đâu tưởng nổi lòng chưa khuây gió sóng

tóc đôi màu còn ướt ngọn sương mưa

lại có thể ta bàng hoàng chết lặng

mũi tên buông sau một nhát gươm đùa

 

đâu tưởng nổi ngày ta thèm qui ẩn

lại bất ngờ được hát khúc tình thua …

(Hoàng Lộc)

 

  1. NHẠC

Xin giới thiệu đến các bạn bài nhạc rất dịu dàng của nhạc sĩ Trần Hoàng Thụy, nói về sự cay đắng của hoa rụng với giọng ca Hoàng Nga: NGẮM HOA

 

Ngắm hoa

Hôm qua người ngắm hoa còn thắm

Mà sớm nay hoa đã rụng tơi bời

Có phải bao nhiêu là cay đắng

Hoa kia đã nhận bớt cho người

(nhạc Trần hoàng Thụy, thơ Thanh Tùng)

https://www.youtube.com/watch?v=pE_ABeWmas8)

 

KẾT

Hoa Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh, là “hoa phú quý” . Mẫu đơn là loài hoa vương giả sang trọng ở Trung Quốc, biểu tượng cho sự giàu có, thịnh vượng và sắc đẹp.

Hoa Mẫu  đơn đóa lớn rực rỡ lạ thường, hương thơm áp đảo mọi loài hoa khác. Vì vậy người ta còn gọi là “bách hoa vương”. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh “Chúa của muôn hoa”. Nhất là giai đoạn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 13 sau Công Nguyên. Mẫu đơn được ca tụng trong văn thơ, nhạc và tranh vẽ lúc bấy giờ.

Người ta dùng từ “quốc sắc thiên hương” (sắc nước hương trời) để hình dung hoa mẫu đơn. Hoặc có cách phác họa khác là: “Thiên hạ chân hoa độc mẫu đơn” (chỉ có mẫu đơn mới xứng đáng là hoa thật trong thiên hạ)

Mẫu đơn là một thứ hoa thơm, đẹp quý nhất trong các loại hoa, được gọi là Vương hoa. Cho nên có thể cho rằng khi nói “Quốc sắc thiên hương” là để ám chỉ một tuyệt sắc giai nhân với hoa Mẫu đơn. Những người đẹp trong thi văn, lịch sử như nàng Kiều của Nguyễn Du,  Dương Quý Phi, Tây Thi, hay Vương Chiêu Quân … thường được ví như hoa Mẫu Đơn, với cụm từ “sắc nước hương trời” hay “quốc sắc thiên hương” này.

Đó những lý do các thi nhân thường dùng hình ảnh hoa Mẫu đơn  trong các bài thơ của mình.

Qua trên là những lời Nguyên Lạc viết rõ để giúp  các bạn hiểu thêm được cái hay, đẹp  của các bài thơ có BÓNG DÁNG MẪU ĐƠN.

 

Nguyên Lạc        TX 2017

————————————————————————————————————-

Nguồn:

Ðiển tích Truyện Kiều, Tâm Linh Huyền Bí.net ,daohoavien.com, Tinhhoa.net,  Đại kỷ nguyên,

Tổng hợp về hoa Mẫu Đơn ( từ Internet ) Huỳnh Huệ …

 

Hình ảnh:

Hoa Mẫu Đơn ( ROSE PARK VIỆT NAM)

https://www.youtube.com/watch?v=g5kVBcIoisQ

Peony -Hoa Mẫu đơn

https://www.youtube.com/watch?v=n6ud6QmzfE4

Peonies.avi (PPS)

https://www.youtube.com/watch?v=7_jUQJWIvFc

http://vietmessenger.com/books/?title=huong%20rung%20ca%20mau&page=15

 

Ghi chú:

(*) Cây cóc kèn: Derris trifoliata rất phổ biến trong những vùng ngập mặn, rừng sác mangroves, là loại cây bò trường thuộc họ Fabaceae.

(1) Sơn Nam:  http://vietmessenger.com/books/?author=son%20nam

(2) Nhà văn Ngô Thế Vinh: Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng

http://damau.org/archives/4409

https://uyennguyen.net/?s=ngo+the+vinh&x=7&y=3

@Nhạc:  Ngắm hoa (nhạc Trần hoàng Thụy, thơ Thanh Tùng)

https://www.youtube.com/watch?v=pE_ABeWmas8)

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s