Elisabeth Nguyễn – Thăm Pằng Tiêng

Pằng Tiêng (Bằng Tiên) là tên của một thôn làng người dân tộc Kơho, cách xa thành phố Đàlạt khoảng 40 cây số về hướng tây nam, cách Suối Vàng hơn 10 cây số. Địa danh này đã có từ trước cuộc chính biến 1975 trong khu vực rừng núi bạt ngàn thuộc thị trấn Lạc Dương và ranh giới Tỉnh Darlac. Thôn Pằng Tiêng khi xưa tập trung ở trong một khu vực đất đai phì nhiêu, có nhiều ruộng nước nên dân làng ở đây thường gọi là Pằng Tiêng Sre hay là Pằng Tiêng Ruộng, cách gọi khác là Làng Dưới. Khoảng năm 1995-1996 có 70 gia đình di chuyển ra một địa điểm mới, cách chỗ ở cũ 5 cây số, làm nhà gần con sông, hưởng nguồn nước từ đập Suối Vàng chảy về gọi là Pằng Tiêng Đạ Đờn = Pằng Tiêng Sông Lớn, hay còn gọi là Làng Trên.

Ở lại Pằng Tiêng ruộng (Pằng Tiêng cũ) chỉ còn 30 gia đình không di chuyển đến chỗ ở mới như những gia đình kia. Tính đến nay kể cả hai nơi cũ, mới có trên 107 gia đình = 120 hộ, dân số có khoảng 600 người, trong đó có hơn 500 người theo đạo Công Giáo. Ngành nghề chính của người dân ở đây làm rẫy, trồng cà phê, trồng lúa. Vì họ không biết kỹ thuật canh nông, nên mùa màng thường không mang lại nhiều hoa lợi, cũng như lợi nhuận bị thất thu do bản tính hiền lành chất phác, đơn sơ bị sự lừa gạt của một số con buôn ma mãnh từ thành phố len lỏi vào buôn bán đổi chác, như đem rượu đổi sản phẩm, hoặc mua sản phẩm giá rẻ tạo nên sự nghèo đói, thiếu thốn triền miên.
Cha Gioan Maria Nguyễn Xuân Thu, Dòng Chúa Cứu Thế, là cha phó nhà thờ Tùng Lâm Đàlat, đang hăng say phụ trách địa điểm truyền giáo cho người dân tộc thiểu số ở đây. Lịch sử vùng đất này, khởi đầu anh chị em được đón nhận Lời Chúa qua các cha thuộc Hội Thừa Sai Paris (Missionnaire de Paris) đến truyền giáo vào khoảng thập niên 50-60. Từ sau năm 1975, có nhiều khủng hoảng khó khăn trong việc phụng vụ đức tin, vắng bóng linh mục nhưng anh chị em người dân tộc ở đây vẫn giữ vững đức tin tôn thờ Chúa một cách đáng trân qúy, bằng cách tụ họp với nhau cùng cầu nguyện.
Trước đây vì trong làng không nhà thờ, không nhà nguyện để thờ phượng Chúa, nên những ngày lễ lớn như Lễ Phục Sinh, Lễ Giáng Sinh v.v…anh chị em phải kêu gọi nhau cơm đùm, cháo bọc, đi bộ, băng rừng lội suối về Thị Trấn Xã Lát dưới chân núi Lang Biang để dự lễ và nhận các Bí Tích. Khi Tà Nung có nhà thờ mới, đường đi lại tương đối gần hơn nên anh chị em chuyển về hướng Tà Nung gần Huyện lỵ Đức Trọng để dự lễ, tuy vậy sự di chuyển phải hai ba ngày đường đi lại, chưa kể phải tắm nắng dầm mưa trong thời gian trên.
Một điều may mắn cho những người con yêu của Thiên Chúa, vào những năm 2000 – 2001 có mấy em trong Thôn được ra học và nội trú tại Trường Đống Đa tức Trường Minh Đức khi xưa của Dòng Chúa Cứu Thế, trên địa bàn Tùng Lâm, từ đó có mối dây liên lạc, anh chị em ở Pằng Tiêng bắt đầu về Tùng Lâm, dù đường đi cách xa nhau khoảng 25 cây số để dự các Thánh Lễ và sinh hoạt học giáo lý ở đây. Cứ mỗi thứ bảy chừng 300 đến 400 người, đi bộ, đi xe đạp, xe thồ v.v… dự lễ tối thứ bảy, ngủ lại nhà xứ và trưa Chúa Nhật lại gồng gánh bồng bế nhau về lại buôn làng. Điều đáng nói ở đây là đã suốt gần 10 năm qua, họ liên tục chuyên cần, hầu như không tuần nào không về tham dự Thánh lễ. Họ về đây để học giáo lý với cha Giuse Maria Nguyễn Xuân Thu….Kể từ thời điểm này Pằng Tiêng trở thành một họ nhánh của giáo xứ Chúa Cứu Thế – Tùng Lâm.

Từ khi nhiều người được rửa tội từ thời các cha thừa sai ngoại quốc, hoặc cha Anrê Thành vào đây truyền giáo trước năm 1975, bị gián đoạn nhiều năm. Những người này mãi đến năm 2005 mới được Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đến đây ban phép Bí tích Thêm Sức, trong dịp này gần 100 anh chị em khác cũng nhận được bí tích khai tâm Kitô giáo. Một số đôi vợ chồng cũng được nhận bí tích hôn phối.
Qua những sự kiện hy sinh gian khổ của anh em làng Pằng Tiêng, với lòng kính Chúa kiên trung. Giáo phận nhận thấy những nhu cầu thiết thực của anh chị em, đã can thiệp với nhà cầm quyền giúp đỡ 600 anh chị làng Pằng Tiêng nghèo khổ này có một ngôi nhà nguyện tại chỗ, để anh chị em đỡ phải đi lại đường sá xa xôi vất vả, tốn kém, tiết kiệm được sức khỏe, giờ giấc… và có thời gian nhiều hơn để canh tác mang lại sự phát triển lớn mạnh cho thôn làng.
Được nhà cầm quyền cho phép. Một số anh chị em ở chung quanh khu vực tốt đẹp được chọn lựa, đã hy sinh nhượng phần đất riêng tư của gia đình mình lại cho nhà chung, vì họ biết với nguyên tắc đương thời còn quá nhiều phiền toái, rắc rối sẽ làm đình trệ ước mơ của họ, họ chỉ ao ước nơi đây có ngay nơi thờ phượng xứng đáng để họ tôn thờ Thiên Chúa của họ. Do đó họ đã quyết tâm làm giấy cho phép nhà chung làm nhà nguyện trên phần đất của gia đình họ, họ chỉ xin nhận lại số tiền đền bồi thường tương đối gần như hiến dâng, để Nhà Nguyện có thể thực hiện được nhanh chóng. mà không phải rắc rối chờ đợi sự giải quyết theo nguyên tắc giấy tờ phiền phức của nhà cầm quyền.
Ngày 18.11.2009, Làng Pằng Tiêng đã vinh dự đón tiếp Đức Cha Phêrô Nhơn và 50 linh mục trong Giáo phận hội tụ về Pằng Tiêng giữa vùng đồi núi trùng điệp hiệp dâng Thánh lễ đồng tế, lập nghi thức làm phép diện tích và đặt viên đá đầu tiên xây dựng Nhà Nguyện mang tên „Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam“, cùng với sự hiện diện của các cộng đoàn tu sĩ nam nữ và khoảng 1.400 giáo dân từ nhiều nơi đến tham dự.
Khi làm nghi thức đặt viên đá đầu tiên, qua bài Kinh Thánh „ Ông Phêrô tuyên xưng Đức Giê-su là con Thiên Chúa“ (Mt 16,13-19), Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Giáo phận Đàlạt nhắn nhủ thêm :
„Làm phép diện tích Nhà thờ hay đặt viên đá đầu tiên chỉ là tượng trưng. Việc xây dựng này không chỉ dựa trên vật chất mà còn phải dựa trên nền tảng đức tin: Viên đá được làm phép, đặt trân trọng vì là biểu tượng chính Đức Kitô. Ngài là Đá Tảng và chúng ta là những viên đá thiêng liêng được xây dựng trên nền tảng đó. Việc làm này đòi chúng ta phải có đức tin, bằng không, chúng ta chỉ làm một công việc trần tục, chẳng bõ công và không mang lại lợi ích gì.
Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin thì Chúa đã chọn và xây dựng Hội Thánh trên Phêrô. Chúng ta bắt đầu xây dựng một ngôi Nhà thờ, phải hiểu rằng đây là việc xây dựng Hội Thánh, cách riêng là Hội Thánh tại Pằng Tiêng. Nhà thờ này là nơi anh chị em Pằng Tiêng đến để cầu nguyện, nghe Lời Chúa, đón nhận Bí tích, gặp gỡ nhau. Chúng ta khấn cầu Thiên Chúa để Ngài ban ơn chúc phúc cho việc làm hôm nay“.
Vợ chồng tôi được ưu ái mời về tham dự buổi lễ đặt viên đá đầu tiên Nhà Nguyện Pằng Tiêng như các anh chị em tham dự khác, rất tiếc vì giờ giấc, thời gian không thu xếp được và ở xa… nên chúng tôi lỡ dịp.
Hôm nay dù trễ nhưng có dịp về thăm quê hương và mang theo một món quà nhỏ của anh chị em thiện nguyện ở München chuyển đến nhờ cha Thu giúp các em Thượng Pằng Tiêng nghèo khó, mà mỗi buổi sáng các em phải nhịn đói di chuyển đến trường học cách xa hơn 10 cây số, để bắt được vài ba cái chữ (theo tiếng nói của đồng bào ở Pằng Tiêng) mở mang trí thức. (Hằng năm chúng tôi trợ giúp cho các em những bữa ăn sáng, vì các em chỉ có cái bụng rỗng mà băng qua suối và qua một ngọn đồi mới tới trường học. Nơi đây các em được ăn sáng bằng những ổ bánh mì xíu mại trước khi vào lớp học, vì thế em nào cũng hăng hái)
** Thăm Làng Păng Tiêng: (lời kể của ông xã xệ tôi)
Từ Tùng Lâm, tôi được bác tài xe ôm là cha Thu với chiếc xe Honda hai bánh cũ kỹ, rã rời nhiều bộ phận, ọp ẹp đèo tôi phom phom lên đường hướng về phía Suối Vàng nằm hướng tây nam Lạc Lâm. Cũng may chữ Suối Vàng này chỉ là địa danh mà bác sĩ Yersin tìm kiếm ở thế kỷ trước đã in vào bản đồ, có suối nước trong mát với đập thủy điện cung cấp điện lực cho nhiều vùng chứ không phải chữ nghĩa Suối Vàng nằm ở thế giới bên kia của thế gian!!!. Tuy thế đoạn đường lắc lư ghồ ghề khó di chuyển, làm tôi rùng mình liên tưởng đến một sự bất hạnh nào đó đang chờ đợi cha con tôi. Biết đâu, rủi ro, cha con có mệnh hệ nào thì làm sao đây? Phần tôi thì đã có cha Thu sát bên, nếu có mệnh hệ nào thì có cha ban phép giải tội và xức dầu khi cần thiết. Còn cha thì sao…. Tôi chỉ biết lầm bầm cầu xin Chúa thương cho cha con đi đến nơi về đến chốn… bình an.
Từ ngã ba Suối Vàng, cha không chọn con đường rẽ phải đưa tôi xuống Suối Vàng, có lẽ biết tôi sợ vì từ ngữ ám ảnh, cha đã chọn con đường đi tiếp vào Pằng Tiêng như dự tính. Từ đây về điểm đến còn hơn 10 cây số, mặc dầu đường sá cũng chẳng tốt lành gì, con đường này được tạm thời cày bừa rải đá cấp phối cách đây đã hơn 5 năm, làm tạm cho những chiếc xe be, xe chở cây hoặc chở đá di chuyển, vả lại thời tiết mưa nắng qua nhiều mùa nên đã xấu đi rất nhiều. Tuy vậy đường lên (Pằng) Tiên vẫn có nhiều hấp dẫn hơn nẻo về Suối Vàng.
Hơn 1 giờ đồng hồ, trên đường đá lởm chởm, có lúc phải chạy qua những đoạn đường mòn đi bộ lượn theo những triền dốc đồi thông với lá thông rơi vãi phủ đầy, độ trơn còn hơn dầu mỡ, tôi cảm thấy thiên đàng và địa ngục không xa, chỉ một cái lắc tay sơ ý là về Thiên đàng hay địa ngục ngay.
Qua những thung lũng sâu, không chỉ sâu về địa thế mà còn sâu về phương tiện xã hội (lời cha Antôn Trần thế Phiệt, Quản xứ Tùng Lâm) rốt cùng cha con chúng tôi cũng đến Pằng Tiêng bình an.
Pằng Tiêng Đạ Đờn nằm giữa một thung lũng đẹp, bao bọc bằng những đồi núi xanh mát, địa điểm chọn lựa xây cất Nhà Nguyện nằm chính trung tâm điểm, có suối nước chảy cận bên. Chung quanh là nhà của giáo dân với những gốc cà phê, cây ăn trái trồng quanh nhà, lá xanh bông trắng tỏa bóng mát xum xuê.
Cha Thu dẫn tôi đến ngay chổ phần đầu của khu đất, chỉ cho xem một hố nhỏ nơi trang trọng nhất được che đậy cẩn thận bên trên ở đầu khu đất, tháo gỡ vật che đậy tôi thấy một viên đá được đặt ngay ngắn bên dưới, cha giải thích cho biết đây là viên đá do Đức Cha địa phận đặt trong Thánh Lễ vừa qua, bàn thờ của Nhà Nguyện khi xây cất xong chính chổ này. Tôi nghĩ đến đoạn Thánh Kinh tiên tri Isaia loan báo trước sẽ có một ngày Nhà của Thiên Chúa được xây dựng trên núi cao, để muôn dân thiên hạ trông thấy và tuôn về: “Trong tương lai nơi nhà Đức Chúa, đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi, dân dân lũ lượt đưa nhau tới“ (Is 2, 2). Pằng Tiêng cũng nằm trên vùng núi, ước mong nhiều người sẽ tìm đến để gặp Chúa.
Dân chúng ở đây thật là hiền hòa, chất phác, gặp tôi và cha Thu ai cũng cúi đầu chào kính với lời lẽ thân thương lễ phép. Cha cũng dẫn tôi đi thăm một vài nhà đồng bào ở chung quanh khu vực này để biết sự tình. Ở Thôn mới này có trường cấp I đã được xây dựng. Các em học sinh cấp II phải đi bộ xuyên rừng 5 cây số để đến trường phổ thông cơ sở Đạ Nghịt, một thôn làng cách thôn này khoảng 5 cây số đường rừng. Học sinh cấp III phải đi trọ học ngoài Xã Lát, hoặc tại trường dân tộc nội trú của tỉnh.
Đức Cha Phêrô địa phận thấy tình trạng khó khăn của các gia đình có con em học sinh phải vất vả, khó khăn trong việc học hành, nơi đây chưa có trường mẫu giáo, ngài hứa sẽ xây một trường Mẫu Giáo 3 phòng với kinh phí khoảng từ 150 đến 200 triệu đồng VN. Nhưng đã nhiều năm qua chương trình này vẫn chưa thực hiện được vì chưa được giao đất. Đức Cha cũng hứa cho tiền để làng gửi 3 cô giáo đi học về hướng dẫn các lớp mẫu giáo.
Thấy sự sinh hoạt hằng ngày ở đây rất an bình và vui vui, kẻ thì cầm nơm đi bắt cá, người thì trải cà phê, trải lúa ra phơi. Tôi thấy một hai cô gái ở tuổi mười tám, đôi mươi đang leo trèo hái cà phê với giọng cười đùa vui vẻ đang chuyền từ cành này sang cành cây khác đuổi bắt nhau, chỉ tội áo quần quá thiếu thốn rách rưới, nghèo nàn. Ở trên cao nhưng cũng đã ơi ới chào cha khi thấy chúng tôi đến, hỏi cha có mang quà vào cho chúng con không? Tôi cũng thấy cả hơn 10 em bé khép nép sau những bụi cây, lén lút, tò mò nhìn chúng tôi đi qua. Cha Thu gọi các em lại, các em muốn đến nhưng còn sợ sệt vì thấy có người lạ. Tôi dụ ngọt và bế được một em bé nhất, thấy tôi cũng hiền từ như cha nên các em khác đều túa đến quanh tôi, thật là vui vẻ. Nghe các em trả lời tôi bằng những tiếng Việt ngọng nghịu dễ thương. Cha giới thiệu qua từng nhà, từng hoàn cảnh và từng cuộc sống của từng người, họ trả lời những câu hỏi của tôi thật niềm nở, chất phác. Lòng tôi rung động, tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi cuộc thăm viếng này. Tại mỗi nhà cha đều phân phối cho những món quà, nhà nào không có người ở nhà thì cha gởi lại cho nhà bên cạnh.
Cha Thu chỉ cho tôi những cơ sở do cha đã thực hiện được nhưng phải nhường lại cho chính quyền, cha nghĩ do ai đứng tên cũng được, miễn điều lợi thiết thực mà người dân thụ hưởng là được rồi.
Cha đưa tôi vào làng cũ để xem những ruộng nương của cư dân ở đây, trên đường đi tôi cũng thấy được một vài quán bán buôn lặt vặt, nhưng chủ yếu thấy họ bán rượu nhiều hơn các loài hàng hóa cần thiết khác, biết đó là những quán của người Kinh, cha cho biết họ lợi dụng sự thiếu hiểu biết và tính tình chất phác của anh chị em dân tộc, họ chuốc rượu vì biết anh em dân tộc người nam thích uống rượu, khi rượu đã vào thì những anh em này coi như không biết gì nữa, lợi dụng lúc đó họ dụ dỗ mua bán với giá bèo (rẻ mạt), ngay cả đất đai cũng thế. Có một con đường chính nối liền làng cũ và mới, họ đã dụ người chủ mảnh đất này bán cho họ bằng cách đổi rượu lấy đất, và khi mua xong họ đóng cọc rào con đường lại, tuyệt đối không cho ai qua lại trên con đường đó, dù đó là con đường huyết mạch nối làng trong và làng ngoài, ngoài. Không có con đường này dân hai thôn không còn con đường thứ hai, nếu phải đi con đường khác, thì con đường khác chính là những đám ruộng nước họ phải lội qua, hoặc cách khác bằng cách phải leo lên những sườn đồi dốc núi để vượt qua. Cha Thu rất bất bình đã giúp dân làng kiện tụng, cuối cùng bên kia phải nhượng bộ để cho đồng bào có một lối đi nhỏ nhưng lúc nào họ cũng hăm dọa sẽ tìm cách bứng cha đi. Họ là người nhà của những kẻ cầm quyền tại đây, đầy uy lực nhưng họ không thắng nổi lòng thương mến của đồng bào ở đây đối với cha.
Cha Thu cũng chỉ cho tôi một cây thánh giá bằng hai đòn cây ghép lại được dựng trước ngôi nhà vườn trẻ do cha và đồng bào ở đây xây dựng, cho biết đó là nơi dâng thánh lễ cho đồng bào ngoài trời, ở đây. Ngoài ra một nơi khác ở dưới một gốc cây mép bờ ruộng cũng là nơi để dâng Thánh Lễ cho đồng bào. Trong làng cũ không có nhà mẫu giáo, không có trường học. Do đó các em mẫu giáo và các em cấp I phải ra làng ngoài hoặc đi xa hơn để học, Các em mẫu giáo quá nhỏ, phụ huynh hằng ngày phải mất hơn 4 tiếng đồng hồ để đưa đón hoặc gởi ở làng ngoài.
Cha dẫn tôi đến thăm một nghĩa trang của hai Thôn, thấy nghĩa trang tươm tất khang trang như một nghĩa trang ở thành phố, hàng mộ được chôn cất ngay ngắn, sạch sẽ. Cha cho biết đó là Hồng Ân của Chúa đặc biệt ban cho cha. Trước đây nơi này chỉ là những bụi rậm hoang vu, cỏ cây um tùm, vắng vẻ chỉ có dăm ba ngôi mộ nhỏ nằm lấp dưới những lùm cây cây cổ thụ to lớn, cha đã vận động bà con anh chị em tín hữu nơi đây đến xây dựng lại, tìm những ngôi mộ nằm rải rác khắp nơi gom về đây lập nghĩa trang, cha đã giải thích cho đồng bào dân tộc biết công lao của tổ tiên ông bà cha mẹ, con cái phải hiếu thảo như lời Chúa dạy bảo. „ Cha con, con hãy hết lòng tôn kính, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy, con sẽ lấy chi đền đáp cho cân xứng“ Hc 7, 27-28).
Qua hồng ân của Chúa, cha đã làm được nhiều việc kỳ lạ như những nhà ngoại cảm thường làm, cha giúp nhiều gia đình truy tìm được những thân xác của những gia đình có người thân, ông bà cha mẹ đã chết, bị thất lạc không truy tìm được. Cha đã chỉ đâu là trúng đó, thân nhân của ai – xác thân đó của người thân nào khi họ nhận được những thân xác đó với những tư vật của người thân, và vật dụng của gia đình rất chính xác.
Tôi ngạc nhiên hỏi: chẳng lẽ cha là một nhà ngoại cảm sao? Làm sao mà cha biết được những điều xảy ra chính xác như vậy. Cha cười trả lời : Em chỉ cầu xin Chúa, tin tưởng vào sự chỉ vẽ của Ngài, lời nói của em được nói ra chính lời nói của Ngải chỉ dẫn em nói, hiểu biết sao nói vậy. Điều xác quyết em biết là do Hồng Ân của Chúa luôn luôn sáng soi giúp đỡ nên sự nhận xét của em bao giờ cũng đúng, em nghĩ đó là phép lạ. Việc làm của em có phần nào ảnh hưởng đến tâm lý mê tín dị đoan của đồng bào dân tộc ở nơi đây. Ồ ra là thế… Điều gì Thiên Chúa cũng an bài cả..
Tại làng trong này chúng tôi cũng đi thăm nhiều nhà anh chị em dân tộc và nhà nào cũng niềm nở mời mọc dùng chung bữa. Rất tiếc vì giờ giấc đã ngã bóng về chiều, chúng tôi cần phải về lại thị xã Đàlạt sớm nên chúng tôi khiêm tốn từ chối, cảm ơn lòng ưu ái chân tình của họ.Tôi từ giã Pằng Tiêng bằng những cái vẫy chào luyến tiếc với những nụ hôn vội vàng trên má của các em bé nhỏ ngây thơ. Nơi đây cho tôi nhiều suy nghĩ, thúc đẩy tôi hăng say trên những bước đường kế tiếp để làm một chút gì đó cho nơi này. Tôi ao ước nơi thung lũng vùng sâu xa này, không những chỉ phát triển về đời sống vật chất mà còn được sống xứng đáng vững mạnh về đức tin.
Nguyện xin Hồng Ân Chúa ban cho cha Thu được khỏe mạnh, an bình, giúp cha đầy nghị lực cũng như sự sáng suốt để giúp đỡ hướng dẫn đoàn con cái Chúa nơi vùng núi xa xôi này.
Chuyến đi cuối năm 2009 txs
Elisabeth Nguyễn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s