Phạm hy Sơn – Phân Loại Tục Ngữ Ca Dao

 Tục ngữ ca dao là những tiếng chỉ chung văn chương bình dân  từ nhiều đời tích tụ lại  .  Loại văn chương bình dân này bao gồm : ngạn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn, cách ngôn, phương ngôn, đồng dao (những bài hát của trẻ con), ca dao .

  • Ngạn ngữ : Giáo sư Dương quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu định nghĩa ngạn ngữ là câu nói của người xưa để lại . Định nghĩa như thế quá bao quát vì câu nói nào (phương ngôn, châm ngôn, tục ngữ . . . ) mà không do người xưa để lại . Để sự phân biệt được rõ ràng, thiét nghĩ nên định nghĩa ngạn ngữ là câu nói của người xưa để lại diễn tả trực tiếp – với nghĩa đen, không có nghĩa bóng – về một sự, một vật nào đó :

-Ếch tháng ba, gà tháng tám (ngon, béo) .

-Ăn cơm lựa thóc, ăn cóc bỏ gan (gan cóc rất độc ) .

-Cháu bà nội, tội bà ngoại .

-Khôn đâu đến trẻ, khoẻ đâu đến già .

-Mất lòng trước hơn được lòng sau .

-Của một đồng, công một nén . . .   .

2-Thành ngữ là câu nói phần lớn ngắn, gọn, rõ ràng nhưng ý nghĩa của cả câu lại khác hẳn với nghĩa đen của những tiếng (chữ) kết hợp lại :

-Trắng tay                 : mất hết .

-Tay trắng                 : không có của cải, tiền bạc (tay trắng làm nên

cửa nhà ) .

-Trắng mắt ra            : mở mắt ra mà nhìn sự thất bại .

-Ruột để ngoài da     : nông nổi, nghĩ gì nói đấy .

-Ăn xổi ở thì             : tạm bợ, không lâu bền .

-Dạ cá lòng chim      : nham hiểm, khó lường .

-Cá lớn nuốt cá bé    : lớn bắt nạt bé, mạnh hiếp yếu .

-Đãi cứt sáo lấy hạt da,

đại cứt gà lấy tấm    : keo kiệt, bủn sỉn .

Hoặc làm cho nghĩa của một chữ mạnh hơn, rõ ràng hơn :

-Dày như mo .

-Dữ như cọp .

-Rát như lửa bỏng .

-Tối như đêm ba mươi .

3-Cách ngôn là lời nói được coi như mẫu mực, khuân phép mọi người phải noi theo :

-Thương nguời như thể thương thân .

-Đói cho sạch, rách cho thơm .

-Ăn có nhai, nói có nghĩ .

-Giấy rách phải giữ lấy lề .

4-Châm ngôn là lời khuyên răn, dạy bảo :

-Có chí thì nên .

-Có công mài sắt có ngày nên kim .

-Làm người suy tính, xét xa,

Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài .

Người Việt từ ngàn xưa đã đặt giáo dục lên hàng đầu như “Gọi dạ, bảo vâng”, “Liệu cơm gắp mắm “, “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” . . . nên những câu cách ngôn, châm ngôn có rất nhiều với mục đích khuyên răn, dạy bảo con cháu ăn ở sao cho thành người tử tế, có tư cách, khôn ngoan, lịch sự trong giao tế, ý tứ hoặc khuyên dạy thanh niên luyện chí hào hùng để giúp ích  cho bản thân, cho đời, cho đất nước .

5-Phương ngôn là câu nói của địa phương hay liên quan đến địa phương :

-Rau lang ăn với củ lang,

Ở đâu sung sướng bằng làng (Nguyệt) tôi .

-Cối làng Tông, chuông đồng làng Đống, cua Phụng Pháp, rau

muống Hiên Ngang .

-Bặc Liêu là xứ quê mùa,

Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu ( Ca dao Bặc Liêu).

-Bến Tre biển rộng sông dài,

Ao trong nuôi cá, bãi ngoài thả nghêu (Ca dao Bến Tre) .

6-Tục ngữ : Tục là thói quen, nếp sống có từ lâu đời .  Tục ngữ là câu nói về phong tục, tập quán :

-Dâu là con, rể là khách .

-Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì .

-Lấy vợ không treo, que nghèo không mấu .

-Có cưới mà không có treo,

Nhân duyên trắc trở như kèo không đanh .

-Lạy cha ba lạy một quỳ,

Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng .

-Tháng giêng ăn tết ở nhà,

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè . . .   .

7-Ca dao : Giáo sư Dương quảng Hàm định nghĩa  “Ca dao (ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian thường tả tình, phong tục của người nông dân .  Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (Phong: phong tục )nữa .(VNVHSY trg 15, Bộ QGGD xb 1958) .  Có lẽ vì quan niệm như vậy nên hầu hết những tác giả viết về ca dao dựa vào Kinh Thi, một trong năm kinh dùng dạy Nho sĩ, chia cách diễn tả làm 3 loại : phú, hứng và tỷ . Thực ra ca dao của chúng ta không hẳn chỉ tả tính tình, phong tục mà bao trùm mọi khía cạnh của cuộc sống từ tôn giáo, triết lý, đạo đức, luân lý, giáo dục, thời tiết, thời vụ, cách trồng trọt . . .  nên có nhiều cách diễn tả khác nhau không hẳn nằm trong 3 cách diễn tả nói trên :

* Tôn giáo :      -Dù ai nói ngược nói xuôi,

Ta đây vẫn giữ đạo trời khăng khăng .

-Đừng cậy khoẻ, chớ khoe giàu,

Trời kia còn ở trên đầu còn kinh .

-Của Trời, Trời lại lấy đi,

Giương hai mắt ếch làm chi được Trời .

* Triết lý   :       -Dã tràng xe cát biển Đông,

Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì .

-Đời người khác nữa là hoa,

Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn .

-Núi kia ai đắp mà cao,

Sông kia biển nọ ai đào mà sâu ?

* Đạo nghĩa :     -Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng .

-Ơn cha nặng lắm anh ơi,

Ơn mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang .

* Giáo dục   :      -Cá không ăn muối cá ươn,

Con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư .

* Thời tiết    :      -Én bay thấp mưa ngập bờ ao,

Én bay cao mưa rào lại tạnh .

-Mồng tám tháng tám không mưa,

Bán cả cày bừa mà lấp lúa đi .

* Thời vụ    :      -Tháng chạp là tiết trồng khoai,

Tháng giêng tồng đậu, tháng hai trồng cà .

Tháng ba cày bở ruộng ra . . .    .

*Cách trồng trọt: -Cấy thưa thừa thóc,

Cấy dày cóc được ăn .

-Thừa mạ thì bán,

Chớ có cấy rám ăn rơm .

 

-Lúa chiêm thì cấy cho sâu,

Lúa mùa thì gảy cành dâu mới vừa .

*Phong Tục     :  -Dù ai buôn bán đâu đâu,

Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về .

-Thật thà cũng thể lái trâu,

Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng .

Trở lại với 3 cách diễn tả ca dao trong Kinh Thi (phú, hứng, tỷ) mà những nhà nghiên cứu văn học Việt Nam dựa theo .   Giáo sư Thanh Lãng (GS Đại Học Văn Khoa Sàigòn) trong cuốn Văn Chương Bình Dân viết : “Đứng về phương diện kỹ thuật, ca dao thường được cấu tạo theo ba thể :

a)- Thể phú : Phú là phô bày, mô tả .  Trong thể này, muốn nói về người nào, việc nào thì nói thẳng ngay về người ấy, việc ấy;  ta có thể nói là một lối tả chân .

                               Ngang lưng thí thắt bao vàng,

                               Đầu đội nón dấu vai mang súng dài .

                               Một tay thì cắp hoả mai,

                               Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền .

                               Thùng thùng trống đánh ngũ liên,

                               Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa .

b)- Thể tỉ – Tỉ : ví, so sánh .  Trong thể này, tư tưởng không được diễn tả một cách trực tiếp, mà diễn tả qua một sự vật đứng làm tĩ ngữ .  Người ta tự ngẫm nghĩ tìm hiểu lấy  cái ý ngụ ở trong .

                               Bầu ơi, thương lấy bí cùng,

                               Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn .

c)-  Thể hứng : -Hứng: nổi lên .  Con người nhân cảm hứng sự vật mà phát lộ tâm tưởng .  Trong thể này, công việc mô tả sự vật chỉ là một lối chuyển ý nhẹ nhàng đưa độc giả đến những tình, ý mình muốn diễn giải .

                               Trên trời có đám mây xanh,

                               Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng .

                               Ước gì anh lấy được nàng,

                               Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.

                               Xây dọc rồi lại xây ngang,

                               Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân .

(Thanh Lãng, Văn Chương Bình Dân, xb 1954, trang  87)

Ba thể kể trên không phù hợp hay đúng hơn là không đủ cho ca dao của ta, ngay cả ca dao về phong tục, như những câu sau đây :

-Chồng cô, vợ cậu, chồng dì,

Trong ba người ấy chết thì không tang .

-Lạy cha ba lạy, một qùy,

Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng .

Đây là một qui định trong phong tục, lời lẽ chặt chẽ, mạch lạc, khô khan như một điều khoản của bản văn luật pháp .   Những câu ca dao về châm ngôn, thời tiết … có nhiều câu không dùng 3 cách diễn tả của Kinh Thi :

-Dạy con, con chẳng nghe lời,

Con nghe ông hểnh đi đời nhà con .

-Làm trai cho đáng nên trai,

Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài đoài tan .

-Gió đông là chồng lúa chiêm,

Gió bắc là duyên lúa mùa .

-Mồng chín tháng chín có mưa,

Mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng .

Mồng chín tháng chín không mưa,

Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn …  .

9-Đồng Dao:  bài hát của trẻ con (đồng: trẻ con), các em hát khi tụ tập chơi với nhau :

-Ông giẳng, ông giăng,

Ông giằng búi tóc,

Ông khóc, ông cười,

Mười ông một cỗ,

Đánh nhau vỡ đầu,

Đi câu hàng huyện,

Đi kiện hàng phủ,

Một lũ ông già,

Mười ba ông điếc .

-Phụ đồng chổi,

Thổi lổi mà lên,

Ba bề bốn bên,

Đồng lên cho chóng .

Nhược bằng cửa đóng,

Phá ra mà vào,

Cách chuôm, cách ao,

Cách ba ngọn rào,

Cũng vào cho lọt .

Cái roi von vót,

Cái vọt cho đau .

Hàng trầu, hàng cau,

Hàng hương, hàng hoa,

Là đồ cúng Phật.

Hàng chuối, hàng mật,

Hàng kẹo mạch nha,

Nào cô bán quế,

Vừa đi vừa tế,

Một lũ học trò .

Người cầm quạt mo,

Là vợ ông chổi .

Thổi lổi mà lên …  .

10-Các loại dân ca như Quan Họ Bắc Ninh, hát Trống Quân, hát Bài Chòi, Hát Ví, Hò . . . đều xuất phát từ ca dao nhưng thuộc lãnh vực âm nhạc .

 

( Trích trong Sơ Khảo về Tục Ngữ Ca Dao)

phamhyson@gmail.com

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s