NTT – Bậc Đáng Kính Phanxicô Xavier NGUYỄN VĂN THUẬN

Ngày 04.05 2017 Đức Thánh Cha Francis đã chính thức ký một văn thư công nhận vị mục tử Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận là Bậc Đáng Kính trong Giáo Hội Công Giáo Lamã. Đây là một tin rất vui cho Giáo Hội Hoàn Vũ và là một niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng ngời cho tín hữu giáo dân VN noi theo. Trong suốt 13 năm tù (có 9 năm bị biệt giam) Ngài đã sống can đảm và anh hùng trong đức tin Kitô giáo. Những ai sống gần Ngài đều được ơn biến đổi trở nên tốt lành. Giáo Hội Việt Nam của dân tộc ta đã có một người con củaGiáo Hội đã trở thành một ngọn nến Phục Sinh, chiếu sáng trong bóng đêm nhà tù cộng sản đầy tội lỗi và đầy sợ hãi trong căn nhà tù biệt giam.

Từ nơi đó Ngài đã sống dưới ánh sáng Chúa Thánh Thần trong tâm hồn Ngài. Ngài đã kể lại cho chúng ta về tình yêu, về hy vọng, về sự tha thứ, về sự giao hòa. Tình yêu, sự tha thứ, ơn giao hòa đã là sức mạnh Ngài viết lên cuốn „ĐƯỜNG HY VỌNG“ trong nơi tối tăm nhất là nhà tù cộng sản.

Bậc Đáng kính Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17.04.1028 tại Phú Cam, Huế trong một gia đình truyền thống rất đạo hạnh, đã sản sinh nhiều vị tử đạo..  Từ thuở bé, bà thân sinh cậu Thuận dạy con biết nhìn nhận cuộc sống là một ơn ban của Thiên Chúa và cuộc đời con người thật cao quý vì thế phải biết tôn trong cuộc sống của người khác dù họ là ai, thế nào…  Cậu Thuận được dạy khi ăn, khi chơi, khi học v.v… đều luôn làm đẹp lòng Chúa, biết chia sẻ giúp đỡ người khác, nhất là người nghèo khổ, mỗi sáng đi dự Thánh Lễ với mẹ cậu Thuận luôn luôn đem theo tiền lẻ để biếu người ăn xin trước nhà thờ. Cậu không cầm đồng xu mà ném vào giỏ của người ăn xin, cậu ngồi xuống bên cạnh thăm hỏi tên người đó và trao tiền vào chiếc mũ hay chiếc giỏ một cách ân cần trân trọng.

Từ tuổi thơ ấu cậu Thuận đã nhận ra ơn gọi đời sống thánh hiến của mình. Năm 13 tuổi  cậu được cha đưa vào tiểu chủng viện An Ninh ở Cửa Tùng, Quảng trị. Cậu là một cậu ấm trong gia đình bề thế, nên được bà nội và bố mẹ cưng chiều quá sức, nhưng khi nghe cậu muốn vào chủng viện thì cả nhà ai cũng mừng vui, vì những bậc song thân đạo đức của cậu đã rất quảng đại cho con mình được tự do thực hiện ao ước cuộc đời của con mình. Song bà nội của cậu sợ cậu ở chủng viện thì ăn uống cực khổ nên không đành lòng vì thế khi cậu Thuận xách vali ra đi xuống đò đến tiểu chủng viện, bước những bước chân đầu đời xa mái ấm thân yêu, phải tránh mặt bà nội và mẹ mình vì sợ hai bà khóc quá mà đi không đành.

Năm 1947 cậu Thuận đã là một thanh niên khôi ngô tuấn tú tại Đại Chủng Viện Phú Xuân, Huế. Vào một kỳ nghỉ hè, cậu Thuận đưa 5 người bạn cùng học về nhà. Khi xuống đò các cậu đi nhầm đò vì thế khi về đến nhà thì đã nửa khuya, cậu Thuận không dám gõ cửa mà cậu và các bạn ngủ ngoài hàng ba (hành lang). Buổi sáng sớm bà nội cậu Thuận đi lễ. Khi mở cửa ra bà thấy có ai nằm ngủ ngoài hè nhà mình bà la lớn và khi biết cháu đích tôn cưng quý nhất của mình và các bạn, bà đã mắng cậu tại sao không gõ cửa vào nhà mà ngủ như vậy rồi sinh bịnh hay trúng gió thì còn tai hại biết bao nhiêu!…

Ngày 11.06.1953 cậu Thuận được thụ phong linh mục. Linh mục Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận nhận „bài sai“ về làm cha phó Tam Tòa, thị xã Đồng Hới, Quảng Bình. Cha Nguyễn Văn Tâm là cha chánh xứ, một vị mục tử rất nhân đức, đã từ lâu thưa với Đức Giám Mục sở tại, xin gởi cho giáo xứ một cha phó khỏe mạnh để giúp ngài trong sứ mệnh phục vụ, vì ngài đã già yếu. Khi LM Thuận đến trình diện cha xứ thì ngài hỡi ôi, Ngài nói:“Tôi đã xin giám mục gởi cho tôi một cha phó khỏe mạnh mà cha gởi một LM „liễu yếu đào tơ“ thế này thì tôi phải giúp cha thôi chứ mong gì cha giúp tôi được. Thôi thì tôi giao cho cha làm 3 chuyện. 1.làm tuyên úy nhà tù, thứ 2: làm tuyên úy trại cùi, thứ 3: coi các em thiếu nhi.“

Từ những ngày LM Thuận nhận nhiệm vụ trong mục vụ này, LM đã có cơ hội tập lắng nghe và yêu thương nhiều hơn. LM chia sẻ: khi đến với những người tù và những người bất hạnh bị chứng bệnh phong cùi thì mình chỉ đem đến cho họ lòng thương yêu, kính trọng họ“. Trong sứ mệnh phục vụ này là cơ hội ngài tập lắng nghe nhiều hơn và ngài ý thức được tâm hồn một con người dù khốn khổ bao nhiêu, không bao giờ thiếu vắng những điều trân quý tồn tại trong họ.

Thời gian này LM Thuận phải vào bịnh viện ở Huế để chữa bịnh lao phổi.. Khi chiếu điện lần đầu, bác sĩ nói ngài phải mổ để cắt đi một lá phổi… Nhưng hội đồng y bác sĩ sau khi xem xét bịnh thì đề nghị phải chiếu điện một lần nữa xem lá phổi kia có bị như lá phổi này không thì mới quyết định. Ngài nằm chờ quyết định của các bác sĩ ở bệnh viện, ngài sẵn sàng lên bàn mổ theo lệnh của họ. Thời gian chữa bịnh kéo dài 9 tháng. Sau cùng vị bác sĩ chẩn đoán bệnh cho ngài cầm sấp hồ sơ đến nói với Ngài: „Tôi không biết giải thích thế nào với ông vì bây giờ xem trong phim thì hai lá phổi của ông hoàn toàn không có dấu vết gì là bệnh, ông có thể ra về“.  LM Thuận thật bất ngờ, thắc mắc và ngạc nhiên ra về.

Năm 1954 LM Thuận làm phó xứ tại giáo xứ Phanxico Xavier. LM chánh cứ là cố Triết. Sau dó LM Thuận làm chánh xứ giáo xứ này kiêm tuyên úy lao xá Thừa Thiên, tuyên úy trường Pellerin, tuyên úy bẹnh viện Huế.

Năm 1956 LM Thuận qua Roma học giáo luật tại đai học Urbaniana.

Năm 1959 LM Thuận đậu bằng tiến sĩ giáo luật với kết quả „Maxima cum laude luận án „Tuyên úy quân đội trên thế giới“. Trở về VN làm giáo sư dạy tại tiểu chủng viện  Phú Xuân Huế.

Năm 1962 LM Thuận làm giám đốc tiểu chủng viện Hoan Thiện, mới được thành lập thay thế tiểu chủng viện Phú Xuân.Thời gian này ngài thường xin mẹ mình thỉnh thoảng gởi cho 15 kg kẹo để cho các cậu học trò trong chủng viện, mỗi lần các cậu vào phòng ngài dọn dẹp thì tự nhiên lấy mà ăn, vì ngài biết các em ở quê, nhà nghèo rất ít khi được ăn kẹo.

Năm 1964 LM Thuận làm tổng đại diện tổng giáo phận Huế.

Ngày 04.5.1967 Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Nguyễn Văn Thuận làm giám mục Nha Trang.

Ngày 24.06.1967 lễ phong chức giám mục Nha Trang tại  tiểu chủng viện Hoan Thiện. Chiều ngày 10.07.1967 Ngài chính thức nhận chức giám mục Nha Trang do Đức Khâm Sứ Palmas chủ lễ. Khẩu hiệu của Ngài là „Gaudium et Spes = Vui mừng và hy vọng“.

Thời gian này Ngài thành lập:

  1. Hội đồng giáo dân gồm 1.200 vị được bầu từ cấp giáo xứ, giáo hạt, giáo phận có nhiệm kỳ 3 năm. Thành viên đêì được huấn luyện và phải tĩnh tâm hằng năm.
  2. Phát triển các đoàn thể công giáo tiến hành
  3. Thành lập trung tâm văn hóa Chàm tại Ninh Thuận.
  4. Thành lặp ban Công Lý và Hòa Bình.(1.1.1969)
  5. Thành lập viện Lâm Bích (1969
  6. Thành lập phong trào Cursillo và phong trào Focolare.
  7. Thành lập phong trào Học Hội Kitô gióa
  8. Công bố “Quy Chế Giáo Dân”.
  9. Phát hành tuần bào “Dấn Thân”

 

Ngày 24.04 1975 Ngài làm giám mục phó tổng giáo phận Saigon với quyền kế vị (DGH Phaolô IV bổ nhiệm).Ngày 08.5.1975 ngài về Saigon nhận nhiệm sở.

Ngày 07.06.1075 Ủy ban quân quản thành phố Saigon không cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận hoạt động tại đây.

Ngày 01.7.1975 họ bắt buộc ngài phải về nơi cư trú trước 30.04.1975 là thành phố Nha Trang. (Ông Trương Tấn Sang, lúc đó là chủ tịch UBNDTP Saigon, gửi thư cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình có nhắc lại việc bổ nhiệm TGM Nguyễn Văn Thuận như sau: “Như cụ đã biết, năm 1975, chính phủ ta đã không chấp nhận ông Nguyễn Văn Thuận về giáp phận thành phố và dứ khoát sẽ không bao giờ chấp nhận, vì ông Thuận đã từng gắn bó với một gia đình có nhiều nợ máu với nhân dân và bản thân ông Thuận cũng có một quá trình lâu dài và tinh vi chống phá sự nghiệp giành độc lập và bảo vễ độc lập dân tộc (đây chính là nguyen nhân TGM Nguyễn Văn Thuận bị giam 13 năm).

Ngày 15.08.1975 – Lễ Đức Mẹ Lên Trời, Ngài bị việt cộng đến bắt Ngài về Nha Trang giam tại Cây Vông, xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. Vài ngày sau, họ đưa Ngài về giam tại Phú Khánh, Nha Trang. Mỗi ngày, nơi bị giam giữ,  nghe tiếng chuông nhà thờ Ngài  nhớ lại  những tiếng chuông thời thơ ấu từ gia đình đầm ấm đến những quãng đời đi học và khi phục vụ Thiên Chúa.  Ngài thấy mình phải gạt bỏ qua những tiếng chuông của quá khứ. Ngài sống với tiếng chuông trong giây phút hiện tại, nghe tiếng chuông và tiếng sóng biển Ngài thương cảm biết bao đàn chiên của mình quanh đây mà họ không biết mình đang ở gần họ… nhắc nhở Ngài bổn phận chủ chiên, bổn phận của một công dân yêu nước… tia sáng hy vọng đến nhắc nhở Ngài sống giây phút hiện tại. Với thân phận tù đày trong lúc đất nước đang rối reng, Ngài trải lòng yêu quê hương qua bài thơ:

“Con có một tổ quốc”

Tiếng chuông ngân trầm

Việt Nam nguyện cầu

Tiếng chuông não nùng

Việt Nam buồn thản

Tiếng chuông vang lừng

Việt Nam khải hoàn

Việt Nam hy vọng.

Con có một tổ quốc Việt Nam

Quê hương yêu quý ngàn đời

Một nước Việt Nam

Một dân tộc Việt Nam

Một tâm hồn Việt NamMột văn hóa Việt Nam

Một truyền thống Việt Nam

Là người Công Giáo Việt Nam

Con phải yêu tổ quốc gấp bội./-

Ngày 16.08.1975, sau một ngày bị bắt, Ngài viết cuốn “Năm chiếc bánh và hai con cá”. Đồng thời ngài viết cuốn “Đường Hy Vọng” với 1001 câu suy niệm ngắn gọn để giúp giáo dân sống đạo trong hoàn cảnh mới của đất nước. Ngài kể: “Một buổi sang tháng 10.1075, tôi ra dấu cho cậu bé tên Quang, 7 tuổi, đi dự lễ 5 giờ về, khi trời chưa sang: “Con nói với mẹ mua cho cha mấy bloc lịch cũ”. Chiều tối, khi mặt trời lặn, bé Quang đem cho tôi các bloc lịch cũ. Từ khi ấy trong tháng 10 và 11.1975 hằng đêm tôi viết cho dân tôi thông điệp từ cảnh tù đày. Mỗi sang, bé Quang đua các tờ lịch ấy về cho các anh chị chép lại và phổ biến.”

Ngày 29.11.1976 Nhà nước đưa Ngài vào giam tại trại Thủ Đức. Hai ngày sau, Ngài cùng nhiều tù nhân là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa và một số chính trị gia xuống tàu Trường Xuân đưa ra miền Bắc.

Bị giam trong tù, có năm người cai ngục trẻ canh gác Ngài. Chỉ huy của họ thấy những anh này có cảm tình với người tù này nên cấm không cho họ được nói chuyện với Ngài. Ban đầu mỗi người được thay đổi 15 ngày. Rồi sau họ không dám thay đổi nữa vì họ sợ người nào canh gác Ngài cũng đều bị ảnh hưởng (họ dung chữ bị lây nhiễm) của Ngài vì lòng nhân từ yêu thương họ và dạy học cho họ nhiều điều hay, hữu ích v.v…Ngài dạy họ học ngoại ngữ, Anh và Pháp cả tiếng Nga nữa và dạy hát tiếng Latin v.v… Ngài nói với họ qua cánh cửa về cuộc sống các quốc gia mà ngài đã đến thăm, về gia đình ngài thời thơ ấu. Có một người trong số họ đã mang lại cho ngài dụng cụ để ngài có thể làm được mộtgiây chuyền có cây thánh giá, mặc dù trong tù cấm tất cả các biểu tượng tôn giáo. Ngài dấu nó trong bánh xà phòng. Sợi dây chuyền bằng một đoạn dây điện và một cây kìm mà người canh tù đem vào cho ngài, nói: “tôi sẽ đem lại cho ông nhưng ông phải hoàn thành trong bốn tiếng đồng hồ”. Thánh giá này ngài đã đem ra hải ngoại và mạ bạc và luôn đeo theo bên mình.

 

(Tiếp theo)

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s