Võ Quang Yến – HOA GẠO NGẬP ĐỎ LÀNG QUÊ SÔNG HỒNG

Tôi thương em từ dạo
Em mới tròn đôi mươi
Cũng vào mùa Hoa Gạo
Đã bắt đầu rơi rơi… 
HoaTiNa (Hoa Gạo)

Phim Mê Thảo (phỏng theo cuốn tiểu thuyết Chùa Đàn của Nguyễn Tuân) qua tay nhà đạo diễn Việt Linh (*) để lại trong tôi một ấn tuợng khó quên : cõi âm nhạc “ca trù – chầu văn ’’ hầu như văng vẳng trong từng màn. Song song, trong trí óc tôi trong rất lâu còn nhuốm một màu đỏ rực rỡ hoa gạo. Thật vậy, khi xem phim tôi chẳng biết là cây gì, hỏi chị Việt Linh mới được giải thích là cây gạo.

Ở Huế tôi không thấy, trong Nam được gọi là mộc miên hay hồng miên, ngoài Bắc thì có nhiều lắm, Ba Vì, Nam Định, trên bờ ao Long Trì chùa Thầy cũng như trên bờ hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội, …mỗi vùng, mỗi làng có cây gạo và truyền thuyết dính theo : Viên Đình, Diên Uẩn, làng Choán, đền Mõ, cây gạo đại thụ, cây gạo 200 tuổi,… Có lẽ hoa gạo đẹp, thơm nên nhiều chuyện thần tiên ma quỷ đã được gắn vào cây. Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề.

Trong sách Truyền ký mạn lực của Nguyễn Dữ có Chuyện cây gạo. Chuyện kể có chàng trai đẹp đẽ, giàu có đất Bắc Hà tên Trình Trung Ngộ, đỗ thuyền đưới cầu Liễu Khê. Trên đường đi chợ Nam Xang, chàng gặp cô Nhị Khanh ở Đông thôn là một giai nhân tuyệt sắc. Được nàng năn nỉ « nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới mầm khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén xuân quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa » chàng không đành lòng từ chối và cùng nàng xuống thuyền ái ân. Cuộc hoan lạc kéo dài nhiều ngày…

Giấc xuân mê mệt chốn hoang liêu,
Bỗng sượng sùng thay cuộc ấp yêu. .
Măng ngọc vuốt ve nghiêng xuyến trạm,
Dải là cởi tháo trút hài thêu

            Nhưng khi về thôn Đông thì biết được Nhị Khanh là một cô gái 20 tuồi chết đã nửa năm. Trung Ngộ đau đớn cũng chết theo và hai linh hồn cùng nhau phá phách dân chúng, bắt phải khấn cầu lễ bái, không được như ý thì làm tai vạ. Khi thấy không thể chịu đựng được hơn, dân làng đào mả phá quan tài, vứt bỏ hai hài cốt xuống sông. Từ đây linh hồn của hai người nương tựa vào cây gạo cạnh chùa làm yêu làm quái, hễ ai động đến cành lá cây gạo thì dao gẫy rìu mẻ, không thể nào đẵn phạt được. Năm Canh Ngọ (1330) niên hiệu Khai Hựu nhà Trần, có một đạo nhân đi ngang qua, cùng dân làng lập đàn tràng cúng tế, viết ba đạo bùa đóng vào cây gạo, thả chìm xuống sông, đốt giữa trời và quát lớn đuổi bọn dâm quỷ. Lời bình câu chuyện có câu kết thúc : Không nên lấy cớ huyễn thuật mà cho là chuyện nhảm, bảo rằng dị đoan mà dìm mất cái hay, ngõ hầu mới hợp cái ý nghĩa người quân tử trung hậu đối với người khác.

Truyện có ý nghĩa nên gần đây, trên mạng TruyenViet.com, với phong cách hiện đại, tác giả Tuyết Trinh, trong bài Cây gạo có kể lại một chuyện tương tự với cậu học trò Đỗ Sinh, quê gốc Phủ Lưu, Hà Nam, ái ân cùng cô Phương Lan trên một chiếc thuyền ỏ Hồ Tây. Và khi chàng theo lời nàng về thôn Đông ở phía Nam Thăng Long, tìm đến căn nhà cạnh cây gạo thì chỉ thấy một cỗ quan tài sơn đỏ. Đau đớn chết đi, linh hồn Sinh cùng với linh hồn Phương Lan tác oai tác quái thường gây tai vạ khiến người dân không chịu nổi, quật mồ của hai người lên, đem xương cốt ném xuống sông. Linh hồn hai người phải bay về nhập vào cây gạo cổ thụ, lấy nó làm chốn nương thân. Từ đó cây gạo trở thành cây gạo ma, dao chém, rìu chặt cũng không làm nó suy suyển, hai con ma phong tình thỉnh thoảng vẫn hiện hữu gây tai vạ cho dân chúng trong vùng. Năm Canh Ngọ, niên hiệu Thiên Hựu nhà Trần, có một nhà sư pháp hiệu Pháp Vân đi ngang qua, dùng phép làm trọng thương hai con yêu, bắt chúng phải trốn đi biệt tích….

Cây gạo làng Diên Uẩn (Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh), được xem là sinh vật gắn liền với một số sự kiện lịch sử Việt Nam những thế kỷ X, XI. Theo sách Thiền uyển tập anh, cây gạo do thiền sư Đinh La Quý trồng ở chùa Châu Minh, năm 936 thời Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ. Thiền sư muốn trấn 19 chỗ do Cao Biền đào đứt con sông Điềm và những ao Phù Chân để trấn yểm. Như đã xảy ra tại chân chùa Thiên Mụ ở Huế, thiền sư nhằm khôi phục lại long mạch bị Cao Biền phá gãy, ngoài mục đích sinh ra chân mạng đế vương, chấn hưng đất nước còn vì bậc đế vương đó có thể phò dựng Chính pháp làm hưng thịnh Phật giáo. Năm 1009, sau 73 năm tồn tại, cây gạo làng Diên Uẩn bị sét đánh nhưng không chết. Tại chỗ sét đánh trên thân cây có bài thơ sấm mà có ý kiến cho rằng tác giả chính là sư Vạn Hạnh. Bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán việc nhà Lý nối nghiệp nhà Tiền Lê, cũng như tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt Nam như nhà Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, chúa Trịnh. Vì sự kiện cây gạo bị sét đánh, làng Diên Uẩn còn được mang tên là làng Dương Lôi hay Đình Sấm. Làng Diên Uẩn chính là nơi sinh ra Lý Công Uẩn. Không lâu sau khi bài thơ sấm xuất hiện, Lý Công Uẩn lên ngôi vua thay thế nhà Tiền Lê, tức là vua Lý Thái Tổ. Năm 1966, trong một trận bão lớn cây gạo già yếu quá bị đổ. Tính từ khi được sư Đinh La Quý trồng tới khi chết, cây gạo tồn tại 1030 năm (theo Wikipedia). Lời phê trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục : Bờ cõi Bắc Nam tuy có khác, nhưng vận hội vẫn như nhau: nhà Lê thì có chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống chuyện với bên Tống thế ! Hay là người làm sử thấy thế, gò ép gán gẩm vào với nhau để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu.:

(Bài thơ sấm dịch)

Gốc rễ thăm thẳm

Ngọn cây xanh xanh

Dao chặt cây rụng

Mười tám hạt thành

Cành đâm xuống đất

Cây khác lại sinh

Đông mặt trời mọc

Tây sao náu mình

Khoảng sáu, bảy năm

Thiên hạ thái bình   (**)

Đền Mõ thuộc thôn Nghi Dương, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng, thờ Huyền Trân công chúa, người có công khai hóa mảnh đất nầy. Nơi đây có cây gạo hơn 700 năm tuổi được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường (VACNE) công nhận là cây di sản Việt Nam. Cây có hai thân, cao khoảng 30m, đường kính hơn 2m, tàn cây phía bắc 18m, hướng đông 25m, phía nam 16m, phía tây 12m, diện tích toàn tàn cây khoảng 1200 m2, hoa đỏ nở vào tháng 2. Năm Quí Mùi (1283), công chúa Quỳnh Trân xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia quy y nơi cửa Phật, chọn đất làng Nghi Dương  làm nơi lập am. Bà đến nơi thôn dã, dạy bảo dân lành khai khẩn ruộng nương, gieo hạt, ươm mầm, trồng dâu nuôi tằm lấy tơ dệt vải. Bà chiêu mộ dân đến khai hoang lập ấp, rồi cùng với dân xây dựng ngôi chùa Mõ. Huyền thoại truyền tụng đến ngày nay rằng đêm đến công chúa gõ mõ, tụng kinh niệm Phật, ban ngày tiếng mõ cũng là hiệu lệnh tập hợp nhân dân. Công chúa đặt hiệu lệnh bằng tiếng mõ để mọi người nghe đó mà nghỉ ngơi, ăn uống, đi làm… rồi tụ tập trai tráng mở hội vật, cầu trời mưa thuận gió hòa, có nước cho nhà nông cấy trồng, mùa màng tươi tốt. Vì thế mọi người gọi công chúa là Bà chúa Mõ. Trong những tháng ngày tu hành ở chùa Mõ, năm 1284 công chúa Quỳnh Trân đã trồng cây gạo với ước nguyện thóc gạo dồi dào, nhân dân no đủ  và cho đến nay cây gạo vẫn tươi tốt. Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập đền thờ. Đền Mõ có từ đó và được lưu giữ đến ngày nay. Hằng năm, lễ hội đền chùa Mõ được tổ chức vào mồng 6 tháng Giêng (lễ Kỳ Phúc) và thường kéo dài ba ngày, với nhiều hoạt động như lễ rước Thành Hoàng làng, hội vật Cầu Đảo, các trò chơi đánh cờ, chọi gà, tổ tôm điếm. Đền Mõ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, một di tích lịch sử văn hóa (baohaiphong.com.vn)

                                        

Một cây gạo đại thụ cũng được vinh danh và được Hội đồng Di sản Việt Nam (VACNE) công nhận là Di sản văn hóa Việt Nam mọc ở làng Hồ Đàm (Thiệu Lý, Thiệu Hóa, Thanh Hóa), Cây cao khoảng 40 – 45m, chu vi thân cây tại độ cao cách mặt đất 1,3m là 7m, đường kính 2m, tính ra có tuổi trên 200 năm. Người làng Hổ Đàm cho rằng cây gạo mọc ở đầu làng là tượng trưng của đầu con hổ, biểu hiện cho sức mạnh quật cường trong chiến đấu và trong lao động của người dân nơi đây. Được biết, trước đây, nơi cây gạo mọc lên là một cái đình làng, về sau vào khoảng những năm 1967-68 do thiên tai và chiến tranh tàn phá, đình làng không còn nữa nhưng cây gạo vẫn còn đó, vẫn vươn cành, ra hoa mỗi độ tháng 3 về, thấy rõ sức sống mãnh liệt vô cùng. Thân cây gạo to đến mấy người ôm, thời gian đã tạo nên những u bướu xù xì, lồi lõm như mắt quỷ từ phần rễ cho đến giữa thân cây, cành lá ngang tàng vươn lên và phủ xanh cả một vùng trời như một thiên sứ. Các cụ già trong làng kể lại, thời chiến, cây gạo là nơi gắn cái chòi phát thanh trên đó, hễ có hội họp, đình đám là các thôn trưởng bắc loa lên cái chòi đó để kêu gọi bà con. Trải qua bao nhiêu thời gian, cây gạo chứng kiến bấy nhiêu những ngày bình yên của xóm làng, những đêm trăng rằm gió mát là nơi hẹn hò của những đôi trai gái, cũng là nơi người dân tìm đến sau những mệt nhọc đồng áng, rồi cả những chết chóc tang thương, những trận bom càn quét, những lần đốt phá của giặc ngoại xâm. Khi có thông tin chính thức cây gạo được công nhận là Di sản văn hóa Việt Nam, cán bộ, nhân dân địa phương vô cùng phấn khởi (***). Đây là cây cổ thụ không những có giá trị về mặt sinh thái, cảnh quan mà còn có giá trị về văn hóa, lịch sử, khoa học và về nguồn gen quý hiếm (dantri.com.vn)

Thắp bông gạo đỏ đèn trời
Thoả cho ánh mắt xa vời mộng mơ
Một mai quả gạo vương tơ
Bờ vai hứng gió em chờ trăng lên.

Công Văn Dị (Đến trời)

Cây gạo Nàng Niến được cho là ly kỳ vì mọc lên trên nấm mộ nàng Niến, còn gọi Công chúa Niến. Truyền thuyết kể rằng năm 7 tuổi, nàng bị chết đuối ở sông Chảy, rồi được chôn cất ngay bên bờ sông. Nhìn từ thôn Trung Đô (xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai) ra phía sông Chảy, cây vươn cao hơn hẳn những lùm cây lớn khác. Không có ngọn, nó tỏa ra 9 nhánh lớn trên cùng nên tán lá trông như một chiếc lọng thiên tạo khổng lồ. Theo thần phả và truyền ngôn trong vùng, nàng Niến là con gái của An Tây vương Gia Quốc công Vũ Văn Mật, còn gọi là “Chúa Bầu”, người chủ tướng cầm quân cai quản cả mạn biên giới phía Bắc vào thời Lê Trung Hưng và đang được thờ cúng tại đền Trung Đô. Không ai rõ ông Vũ Văn Mật sinh, mất năm nào. Nhưng ông và anh trai mình liên tiếp chống cự Mạc Đăng Dung, thủy tổ nhà Mạc. Như vậy, thời gian nàng Niến con gái ông mất, rồi cây gạo ngay sau đó tự mọc lên bên mộ, tính ra đến nay cũng đã ngót nghét 500 năm. Đối với cây gạo Nàng Niến, bà con đều có sự kính cẩn, không ai dám xâm phạm. Trước đây, mỗi khi đi qua bến sông, những người đang cưỡi trâu, cưỡi ngựa đều phải xuống dắt từ xa, khi đi qua một quãng mới dám trèo lên cưỡi tiếp. Ai đi qua cũng cúi đầu bước gấp, không dám bỡn cợt bao giờ. Gần đây, trong làng có hai anh em trai họ Trần bất chấp mọi lời cảnh báo, dám cả gan vác dao rựa đến để hạ cây gạo Nàng Niến. Họ bập được ít nhát dao vào thân cây thì bỗng thấy mặt mày xây xẩm, tinh thần hoảng hốt, phải vứt đồ nghề đó mà bỏ về. Mấy năm sau, cả hai anh em đều lần lượt chết trẻ. Sự việc là trùng hợp, nhưng điều đó càng khiến bà con kính sợ cây gạo hơn (VTC News).

Cây gạo hay bông gạo là một cây trung bình cao 15m hay hơn, cành mọc ngang với những gai hình nón, thân cũng có gai. Hoa đỏ, nhiều, 5 cánh, mọc trên những cành nhỏ, quả hình thoi, mặt trong có nhiều sợi bông, hột hình trứng, xung quanh có lông dài, trắng, mịn. Nguồn gốc Ấn Độ, còn mang tên mộc miên (cây bông thân gỗ), hồng miên (bông đỏ), cây anh hùng (do thân cây cao và thẳng), ngày nay mọc ở Trung Quốc, Đài Loan, Mã Lai, Indonesia, Campuchia, Lào, miền nam, miền bắc nước ta. Tên khoa học là Bombax malabaricum tức Gossampinus malabarica Merr. hay Bombax heptaphilla Cav. hay Bombax ceiba L., họ Gạo Bombacaceae. Ngoài cây gạo hoa đỏ còn con có cây gạo rừng, cây gạo trắng Bombax anceps Pierre tức là cây pơ lăng của người Tây Nguyên. Hoa, rễ, vỏ nhựa đều được dùng, thu hái hoa vào mùa xuân; rễ vào mùa xuân hay mùa thu, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, vỏ vào mùa hè-thu. Hoa chứa nhiều amin acid, pectin tanin, đường. Nhựa chứa catechutannic acid. Hạt chứa 22,3% dầu béo khô với 0,5% stearin. Rễ của cây non có chứa protein 1,2%, chất béo 0,9%, phosphatid (cephaclin) 0,6% semul đỏ 0,5% tanin 0,4% arabinose và galactose 8,2% chất có pectin 6,9% và tro 71,2%. Chất nhầy trong vỏ biểu hiện của một ester salicophosphoric manogalactan (thuoc dong duoc.vn).

  

Người Trung Quốc và Hồng Kông biết cây gạo rất sớm và chính họ đã sử dụng cây này như một nguồn dược liệu điều trị rất nhiều bệnh khác nhau. Nhiều bộ phận của cây, từ rễ, vỏ thân, đến hoa, lá đều được dùng để chữa nhiều bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hóa, đường tiết niệu, trĩ, bong gân, gãy xương, phù nề, sưng tấy… Hoa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, được dùng trị viêm ruột, lỵ. Cũng dùng như trà uống vào mùa hè. Nước hoa gạo được xem như một dung dịch bổ âm, dùng chữa thiếu máu suy nhược hoặc do các nguyên nhân khác (rong kinh, đa kinh, chảy máu dạ dày – tá tràng, mất máu sau mổ vết thương, sỏi thận mà tuỷ xương bình thường) và do cả trường hợp suy tuỷ. Vỏ dùng trị thấp khớp, đụng giập gãy xương, bọc máu. Cũng dùng cầm máu trong các chứng băng huyết, (phối hợp với rễ non và hạt cây tươi). Rễ đắng, mát, có tác dụng kích thích, bổ, cũng gây nôn và giảm đau, dùng chữa đau thượng vị, viêm hạch bạch huyết dạng lao và làm thuốc lợi tiểu. Vỏ có vị đắng, tính mát; có tác dụng lợi tiểu, tiêu sưng, gây nôn. Trong dân gian, vỏ cây gạo, rửa sạch được thái nhỏ phơi hay sấy khô sắc uống hay giã nát dùng tươi để chữa các chứng bệnh như viêm loét dạ dày, tiêu chảy, viêm đau xương khớp, tê thấp đau mỏi, chấn thương bong gân, gãy xương, đau răng, sưng đau vú sau khi sinh ,… Nhựa cây gạo kích dục, làm nhầy, cầm máu, làm săn da, bổ và gây khát.cho vào nước chữa bệnh lậu, cũng dùng chữa lỵ ỉa chảy và rong kinh. Dĩa mật trong hoa dùng lợi tiểu và tẩy. Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ làm thuốc kích dục cho trường hợp bất lực và dùng hoa, quả trị rắn cắn. Người Quảng Đông và Hồng Kông còn chế biến gạo thành một loại trà giải cảm và trị bệnh, bày bán phổ biến ở nhiều siêu thị. (ShopCaycanh 24h.com)

Bàn đến những môn thuốc dùng cây gạo chữa bệnh, ngoài lá, vỏ, hoa, nhựa, mật, rễ cây, cũng cần nhắc đến tầm gửi cây gạo (Scurrula parasitica L.) tuy nó chỉ là cây nửa ký sinh, sống nhờ trên cây gạo. Hạt của tầm gửi được phát tán qua mỏ, chân và cơ quan tiêu hoá của loài chim như chim chào mào. Đó là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi: Nhiều loài chim sử dụng tầm gửi để làm tổ. Đến nay, những kinh nghiệm chữa bệnh được lưu truyền trong dân gian chứ chưa có một công trình hay tài liệu khoa học nào nói về tầm gửi cây gạo và tác dụng chữa bệnh của nó. Theo GsTs Nguyễn Lân Dũng, trên báo Công nghiệp Việt Nam, trong nhân dân có nhiều người cho rằng tầm gửi cây gạo có công dụng giải nhiệt, điều hòa huyết áp và tốt cho người bệnh gan, thận. Tầm gửi cây gạo có mặt trong rất nhiều các bài thuốc nam, thuốc bắc, sắc uống hằng ngày làm mát gan, thải độc cho người bị thận (viêm cầu thận); chữa sỏi thận, phù thận, chức năng gan yếu, tăng thể lực cho người mệt mỏi, gây thèm ăn, dễ ngủ, tiêu phù. Vì vậy, PgsTs Nguyễn Duy Thuần nhận định không thể phủ nhận giá trị của y học dân gian vì y học dân gian là một bộ phận của y học cổ truyền ; nhưng y học dân gian chỉ là kinh nghiệm chữa bệnh của một nhóm người hay một khu vực nào đó, nếu muốn y học sử dụng như một loại thuốc phổ biến thì cần phải có sự nghiên cứu theo quy trình khoa học cụ thể. Dù sao, ngày nay có phong trào đến xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ mua cây tầm gửi, giá rất đắc, về làm thuốc. Được biết trong làng có hằng trăm cây gạo nhưng chỉ có những cây gạo tía cho tầm gửi tốt còn những cây gạo trắng thì không. Lúc trước, họ chỉ biết sao khô cây tầm gửi để sắc lấy nước uống bồi bổ sức khỏe cho phụ nữ sau sinh. Từ mấy năm nay, khi tình trạng các quý ông uống quá nhiều rượu, bia khiến những bệnh liên quan đến gan, thận tăng vùn vụt thì những cây tầm gửi tưởng chừng chỉ là cây dại, vô giá trị kia đã trở thành “cần câu cơm” của dân làng Hiền Quan…. (phunu.net)

Ở nước ta cây gạo được các nhà thực vật học ghi nhận phân bố khắp nơi, nhiều nhất là các vùng nông thôn kể cả ở đồng bằng lên tới miền núi. Do hoa đẹp, đỏ sặc sỡ, cánh hoa lớn, nở rộ khi cây trút lá trơ cành vào mùa khô, khiến toàn cây nhuốm một màu đỏ chói, như một đóm lửa sưởi ấm cho cái rét lộc đầu mùa xuân đây đó, gây ấn tượng mạnh cho người nhìn, nên nó đã được một số tỉnh thành chọn làm cây cảnh quan đô thị. Ngoài chuyện công chúa Huyền Trân, không hiểu bắt nguồn từ đâu mà người ta có tên gạo cho loài cây có hoa đỏ chói này. Mặc dù mọc khá phổ biến ở nhiều nơi, từ đồng bằng lên vùng trung du, miền núi, cây gạo chỉ xuất hiện ở những điểm công cộng, ít khi được trồng trong vườn nhà. Thường cây được chọn trồng ở công viên, đền chùa và một vài thắng cảnh có công trình văn hóa tâm linh. Ai yếu bóng vía lại thuộc nằm lòng câu thành ngữ Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề mà đi qua gốc gạo vào đêm, đúng lúc những hoa lìa cành rơi đồm độp trên đám lá khô bên vệ đường, có lẽ không khỏi thót tim, cứ tưởng mình đang bị ma trêu chọc. Về mặt nầy, ở miền Trung tôi chỉ thấy có một cây có thể so sánh với cây gạo là cây ngọc lan Michelia alba. Hoa trắng đẹp, đêm khuya hương thơm càng ngào ngạt, đáng sợ nhất là những đêm trăng sáng, lá cây rung động chập chờn trong đêm tuởng như có yêu ma thấp thoáng trên các cành cây.

Bông hoa gạo rơi rơi đầy dưới gốc

Để tình anh bỗng chốc hóa tro tàn

Như hoa gạo rực đỏ một phím đàn

          Buông một tiếng giữa muôn vàn tiếng gió

Cẩm Chi Châu (Ký ức cây gạo)

 

Một trong những màn luôn còn lẩn vẩn trong đầu óc tôi sau khi xem phim Mê Thảo là cảnh anh quản lý Tam, cũng là người đánh đàn, để làm vui lòng ông chủ trang trại, đốc suất công nhân bứng chở về trồng trong sân đình cây gạo đã nở hoa một màu đỏ thắm. Biết đời sống tâm linh của người miền Bắc đối với cây gạo, tôi không khỏi tự hỏi rồi đây linh hồn nào sẽ lại cư trú trong cây chở về trồng trong sân đình làng : trong số ba hai nhân vật chết bất đắc kỳ tử trong phim, anh quản lý trang trại Tam xuất huyết chết gục trên cây đàn linh thiêng, anh chủ ấp Nguyễn tuyệt vọng bỏ mình trong đám lửa các vò rượu, hay cô Câm gia nhân mồ côi, đã từng yêu thầm chủ ấp nhưng tuyệt vọng, bị dìm chết dưới nước, mỗi người có một sự tích, một mối tình khác nhau ?

Thành Xô mùa xuân 2017 

Ảnh internet

(*) Đạo diễn Việt Linh sinh năm 1952, từng học và thực hành trong lĩnh vực sân khấu ở trường điện ảnh ở Liên Xô. Là một phụ nữ làm nghề đạo diễn, lại thành công, nổi tiếng như Đặng Nhật Minh bên nam nhi, bạn thân thiết với nhà văn Nguyễn Tuân, chị là người hiếm có trong làng điện ảnh. Những  phim Gánh xiếc rong (1988), Dấu ấn của quỷ (1992), Chung cư (1999), Mê Thảo – Thời vang bóng (2002)… nói lên một phong cách vừa sâu lắng, trầm lặng vừa êm ái, sôi nối, nhiều khi đầy ám ảnh, huyền ảo, mang đậm chất văn học, đồng thời được xem như là những phim tài liệu phong phú, miêu tả xã hội Việt Nam trong cuộc tiếp xúc đầu thề kỷ XX với Tây phương. Phim Mê Thảo được tán thưởng nhiều ở Liên Hoan Deauville, đạt giải nhất Bông hồng Vàng tại Liên Hoan Bergamo. Nhà Bảo tàng Nghệ thuật Queensland Art mời chị đem toàn bộ bốn phim của chị sang giới thiệu tại Chương trình Cận đại châu Á. Những tác phẩm của chị đoạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, để lại một tiếng vang hiếm có, nhất là trong giới phụ nữ. Tuy về nước công cán nhiều lần, biên kịch những vở Đảo lửa, Tro tàn rực rỡ, Visa, Giờ của quỷ,…vì tình hình sức khỏe, chi thường định cư ở Pháp với chồng và con.

htrong trong

            Đọc thêm

 

(**) Việt sử lược, bộ sử cổ nhất Việt Nam, chép nội dung bài thơ chỉ có 8 câu. Các sách sử đời sau như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép thêm 2 câu nữa thành bài thơ gồm 10 câu.

(Bài thơ nguyên văn)

樹根杳杳

木表青青

禾刀木落

十八子成

東阿入地

木異再生

震宮見日

兑宮隠星

六七年間

天下太平

 

(Bài thơ Phiên âm)

Thụ căn diểu diểu

Mộc biểu thanh thanh

Hòa đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Đông a nhập địa

Mộc dị tái sinh

Chấn cung kiến nhật

Đoài cung ẩn tinh

Lục thất niên gian

Thiên hạ thái bình

 

Bài thơ được người đời sau cắt nghĩa

-Câu 3: chữ Hòa (禾) + chữ Đao (刀) + chữ Mộc (木) ghép lại thành chữ Lê (黎). Câu 3 tiên đoán nghĩa cây đổ, nhà Tiền Lê mất

-Câu 4: chữ Thập (十) + chữ Bát (八) + chữ Tử (子) ghép lại thành chữ Lý (李). Câu 4 tiên đoán nhà Lý thay nhà Lê.

-Câu 5: chữ Đông (東) ghép với chữ A (阿) thành chữ Trần (陳). Câu 5 tiên đoán họ Trần vào nước Việt làm vua.

-Câu 6: cây khác lại sinh. Sấm ra đời thời Lê. Cây lê khác lại sinh, tiên đoán nhà Hậu Lê kế tục nhà Trần –Câu.

7: phương Đông có mặt trời, ứng vào nhà Mạc khởi xuất từ phía Đông (Hải Dương) thay nhà Hậu Lê.

-Câu 8: sao náu mình phía tây. Có các ý kiến khác nhau về câu này. Có ý kiến cho rằng câu này chỉ chúa Trịnh đóng phủ ở phía tây kinh thành Thăng Long, “náu mình” là không ra mặt xưng vua nhưng lại nắm thực quyền. Có ý kiến cho rằng “phía tây” trong câu 8 chỉ nhà Tây Sơn.

-Câu 9 và câu 10: có ý kiến cho rằng “lục thất” chỉ nhà Nguyễn, nhưng cũng có ý kiến cho rằng chưa có lời giải đáp cụ thể cho 2 câu này. Tổng quát, bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán việc nhà Lý nối nghiệp nhà Tiền Lê, cũng như tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt Nam suốt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 20, từ khi nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam hình thành ổn định tới khi kết thúc thời phong kiến.

Điều đáng lưu ý là Việt sử lược ra đời thời Trần nhưng không chép 2 câu: “Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh” liên quan tới chính nhà Trần và nhà Hậu Lê. Các nhà nghiên cứu căn cứ vào đây cho rằng :

-Bài sấm này được làm ra để tạo dư luận cho Lý Công Uẩn lên ngôi;

-Hai câu cuối này do người đời sau (Trần, Hậu Lê) sáng tác xen thêm vào. (Wikipedia)

 

(***)

– Lê Đình Sáng, Công dụng chữa bệnh của cây gạo, Cây thuốc quý, Bách Khoa Y Học agarwood.org.vn 2010

– Lê Bích, Hoa gạo rực trời tháng Ba,vov.vn 30.03.2013

– Vũ Minh Quân, Hoa gạo đỏ rực làng quê Bắc Bộ, vnexpress.vn 11.4.2014

– Việt Hoa, Ngắm cây gạo trăm tuổi nở hoa đỏ rực, plo.vn.xa 06.04.2015

– Hữu Nghi, Ngắm hoa gạo đỏ rực trên phố phường Hà Nội, dantri.com 23.03.2017

 

Thứ sáu, 11/4/2014 | 04:00 GMT+7 em sưởi ấm trời riêng anh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s