TS ĐÀM TRUNG PHÁP – TÌM HIỂU VỀ NGÔN NGỮ “GIẢ CẦY”  

LÚY BỐ-CU MÊ-XĂNG

Hồi còn nhỏ, người viết đã nhiều lần được nghe người lớn nhắc đến giai thoại về tiếng Tây bồi của một nông dân người Việt ít học. Anh ta được mướn để làm vườn trong tư dinh viên công sứ người Pháp tại miền thượng du Bắc Kỳ. Một hôm, một con hổ lọt hàng rào vào vườn, đạp nát cả vườn hoa, rồi lững thững trở về rừng. Buổi chiều hôm ấy khi viên công sứ về nhà, thấy những vết chân khổng lồ trên vườn hoa, ông không hiểu là trâu bò nhà ai đã dám cả gan vào tận tư dinh công sứ phá phách như thế. Hầm hầm tức giận, ông Tây thực dân đầu tỉnh bắt người làm vườn phải cho ông biết chuyện gì đã xảy ra.

Cố gắng hết sức bình sinh, người làm vườn giải thích cho chủ rõ là hổ đấy chứ chẳng phải trâu bò nào đâu: “Nông buýp nông bớp. Lúy tí ti dôn tí ti noa, lúy gầm lúy gừ, lúy bố-cu mê-xăng, lúy măng-dê me-xừ, lúy măng-dê cả moa” (Chẳng phải trâu chẳng phải bò. Nó tí ti vàng tí ti đen, nó gầm nó gừ, nó dữ lắm, nó xực ông, nó xực cả tôi).  Thế là ông Tây đang bực tức hiểu ngay, há hốc miệng, vung tay lên trời, chỉ nói được hai chữ “Un tigre?” (Hổ à?) rồi té xỉu. Anh làm vườn phải dìu ông chủ vào nhà, trong bụng thì mừng lắm, vì ông công sứ đầy quyền uy (nhưng cũng nhát như cáy ấy) rõ ràng đã hiểu thứ tiếng Tây “giả cầy” của mình. Đó là thứ tiếng Tây sử dụng cú pháp và lối phát âm tiếng Việt, trong đó từ vựng của hai ngôn ngữ bình đẳng giao duyên. [Trong câu nói của anh làm vườn nêu trên thì cú pháp hoàn toàn Việt, còn về phần ngữ vựng thì các từ sau đây, phát âm kiểu Việt, là gốc Pháp: (1) nông = non = không / (2) buýp = buffle = trâu / (3) bớp = boeuf = bò /(4) lúy = lui = nó / (5) dôn = jaune = vàng / (6) noa = noir = đen (7) / bố-cu = beaucoup = rất  / (8) mê-xăng = méchant = dữ / (9) măng-dê = manger = xực / (10) me-xừ = monsieur = ông / (11) moa = moi = tôi].

 

GIẢ CẦY, PIDGIN, CREOLE

Người viết tạm dùng nhóm chữ ngôn ngữ giả cầy với giá trị tương đương cho hai từ pidgincreole trong tiếng Anh. Các loại ngôn ngữ pha trộn rất lạ thường này còn tồn tại nhiều nơi trên thế giới, và từng là phương tiện truyền thông của đổi chác thương mại, của đời sống đồn điền, và của các cuộc tiếp xúc khác trong đó những người sử dụng ngôn ngữ khác nhau đã cùng nhau thỏa thuận về một tiếng nói mới.

Trong tiếng Việt, cầy cũng có nghĩa là chó trong vài phương ngữ dân dã, cho nên món ăn giả cầy là món ăn nấu bằng thịt chó giả, tức là nấu bằng chân giò lợn đi cùng với những gia vị đặc biệt để cho nó có hương vị từa tựa thịt chó (một món  khoái khẩu cho giới bợm nhậu). Do đó, trong nghĩa bóng để mô tả một ngôn ngữ, giả cầy là ẩn dụ cho ý nghĩa các hình dung từ “không chính cống, văng mạng, ba xí ba tú.”

Trong tiếng Anh, có một sự khác biệt đáng kể giữa pidgincreole: không ai sử dụng pidgin như một tiếng mẹ đẻ; và khi một pidgin đã trở thành căn cơ, phức tạp hơn, hữu hiệu hơn mà lại có người sử dụng như tiếng mẹ đẻ thì pidgin đó đã thăng hoa thành một creole. Thực vậy, từ lâu đã có một số ngôn ngữ giả cầy, tuy đôi khi vẫn mang danh pidgin, nay đã trở thành tiếng mẹ đẻ của nhiều dân tộc, điển hình là Tok Pisin (do hai chữ talkpidgin mà ra) ở Papua New Guinea và Hawaiian English ở Hạ uy di.

Đại đa số các pidgins thường không thọ, kể cả tiếng Pháp và tiếng Anh giả cầy thịnh hành trong thời Pháp thuộc và trong cuộc chiến Việt Nam mà người Việt mệnh danh là Tây bồiMỹ bồi.  Nhưng, như đã nói ở trên, cũng có những creoles đã trở thành ngôn ngữ chính cống, như Haitian French Creole được hơn 4 triệu người sử dụng tại Cộng Hòa Haiti, một thuộc địa cũ của người Pháp; Gullah, với trên 200 ngàn người sử dụng dọc miền duyên hải đông nam Hoa Kỳ, là một ngôn ngữ lấy tiếng Anh làm căn bản, pha trộn với nhiều sắc thái ngôn ngữ Phi châu; và Jamaican Creole English được trên 2 triệu người sử dụng tại Cộng Hòa Jamaica.

Về nguồn gốc chữ pidgin thì không ai dám cả quyết. Có người cho rằng đó là cách người Trung Hoa phát âm chữ business, lại có người cho rằng pidgin phát xuất từ chữ Do thái pidjom (có nghĩa là đổi chác), cũng lại có người cho rằng chữ pidgin và chữ pigeon (có nghĩa là chim bồ câu, thường được huấn luyện để đưa thư) chắc chắn có liên hệ mật thiết. Còn chữ creole thì do chữ crioulo trong tiếng Bồ đào nha (có nghĩa đen là một người da trắng sinh ra và lớn lên tại một thuộc địa) mà ra.

 

KHI  PIDGIN NẨY MẦM

Lúc mới xuất phát, các pidgins chỉ có một công dụng rất hạn chế, như để đổi chác hàng hóa giữa người Tây phương và người bản xứ Phi châu hoặc Á châu. Trong thế kỷ 19, các đồn điền do người Tây phương làm chủ thường có một số nô lệ nói vài ngôn ngữ khác nhau làm việc. Những nô lệ nào cùng nói một thứ tiếng thường bị chủ nhân không cho liên lạc với nhau, e rằng họ có thể cùng dùng ngôn ngữ đó để mưu mô trốn thoát đồn điền hoặc làm phản. Thành ra khi các nô lệ phải nói chuyện với nhau hoặc với chủ nhân, họ phải đồng ý phát minh ra một thứ tiếng nói mới với bản chất giả cầy.

Thoạt đầu, một ngôn ngữ loại này chỉ có một cấu thức giản dị tối đa và một số từ vựng nhỏ nhoi. Các hình dạng để diễn tả số nhiều (như “books” và “houses” trong tiếng Anh), các tiếp vĩ ngữ để phân biệt nam và nữ (như “alumno” có nghĩa là nam sinh và “alumna” có nghĩa là nữ sinh trong tiếng Tây ban nha), các bảng chia động từ đều biến mất trong ngôn ngữ giả cầy này. Về từ vựng thì chỉ có từ 50 đến 300 chữ cho nên người nói tiếng này phải vận động tối đa lối nói quanh co, bóng bẩy. Chẳng hạn, khi muốn diễn tả ý nghĩ “Tôi đói bụng” thì tiếng Tok Pisin (lấy Anh ngữ làm chủ lực) phát ngôn thành “Bụng thuộc về tôi đi tản bộ dài dài” tức là “Belly belong me plenty walk about.”

Pidgin là sản phẩm của cả hai phe nói tiếng khác nhau. Trên lý thuyết thì cả hai thứ tiếng đều đóng góp về âm thanh, từ vựng, và yếu tố ngữ pháp. Tuy nhiên, ngôn ngữ có uy tín hơn (thường được coi là thượng tầng như tiếng Anh, Pháp, Tây ban nha, Bồ đào nha, Hòa lan) hầu như cung cấp phần lớn từ vựng, và ngôn ngữ kia (thường bị coi là hạ tầng như tiếng Tàu, tiếng Tolai, tiếng Hạ uy di, và các tiếng Phi châu) có ảnh hưởng lớn hơn về ngữ pháp.  Điển hình là trong Tok Pisin 80% từ vựng là Anh ngữ, và ngữ pháp thì chịu ảnh hưởng lớn của Tolai, một thổ ngữ quan trọng trong gia đình ngôn ngữ Papuan.

Các pidgins khi trở thành creoles cần phải có chữ viết. Lối viết tốt nhất, theo ý kiến các nghiên cứu gia về ngôn ngữ giả cầy, là theo cách phiên âm với mẫu tự la-tinh (thay vì dùng chính tả quy ước của các ngôn ngữ thượng tầng xuất phát từ Âu châu). Vì vậy mà tiếng Tok Pisin viết “too much” là “tumas” và mouth là “maus,” vì trong ngôn ngữ này âm “ch” và âm “th” đọc lên như âm “s.” Các thí dụ về Tok Pisin trong phần còn lại của bài này đều được viết theo lối phiên âm đó.

 

TOK PISIN THÀNH QUỐC-NGỮ

Với Anh ngữ đóng vai trò thượng tầng, Tok Pisin là ngôn ngữ chính thức của khoảng 1 triệu người dân nước Papua New Guinea nằm trong Thái bình dương, phía bắc Úc châu. Ngôn ngữ này đã có một ngữ pháp chính thức và một từ vựng dồi dào. Hoàng tế Philip, phu quân Nữ Hoàng Anh Cát Lợi, đã có lần thử nói Tok Pisin nhưng thất bại vì dùng sai ngữ pháp! Khi nghe ông diễn tả “hoàng tế” là “fella belong Mrs. Queen” thì dân chúng Papua New Guinea cười vỡ bụng vì ngữ pháp Tok Pisin của họ đã bị ông hoàng tế vi phạm một cách trắng trợn. Phải nói “man bilong kwin” mới là Tok Pisin chính hiệu, vì trong ngôn ngữ này chữ “fella” (đọc và viết là “pela”) không bao giờ được dùng với nghĩa “đàn ông” hoặc “chồng.” Trong khi đó, chữ “pela” (thoát thân từ chữ “fella”) chỉ dùng làm tiếp vĩ ngữ để đánh dấu tính từ hoặc số từ trong Tok Pisin, thí dụ “tupela blakpela pik” có nghĩa là “hai con heo đen” và “yupela” có nghĩa là “các anh.” Đây cũng là dấu hiệu cho thấy Tok Pisin đã trở thành một creole, tiến bộ hơn giai đoạn khởi thủy rất nhiều rồi.

Cũng trong tiến trình nêu trên, tiếp vĩ ngữ “-im” được dùng để biến một tính từ thành động từ, như trong các thí dụ sau đây: “bik” (big, large) + “-im” = “bikim” (to enlarge); “nogut” (no good) + “-im” = “nogutim” (to spoil). Và sự thu gọn hoặc hoán chuyển vị trí các chữ trong câu cũng cho thấy Tok Pisin hiện đại mỗi ngày một thăng tiến hơn, chẳng hạn “kot bilong ren” (raincoat) trở thành “kotren” hoặc “renkot.”

Nhưng có lẽ cách ghép những chữ căn bản vào với nhau một cách đầy ấn tượng để tạo ra những chữ mới trong Tok Pisin mới thực là ngoạn mục, như các thí dụ sau đây: “mausgras” (cỏ mồm) = râu mép; “gras bilong fes” (cỏ mặt) = râu; “gras bilong hed” (cỏ đầu) = tóc; “gras antap ai” (cỏ trên mắt) = lông mày; “gras nogut (cỏ không tốt) = cỏ dại.

Ngày nay tại Papua New Guinea, hiến pháp, văn học, và các sinh hoạt xã hội chính yếu khác như giáo dục, truyền thông, và thương mại đều được thể hiện thành tựu qua quốc ngữ Tok Pisin.

 

PLES BILONG MI I NAMERWAN

Theo lời khảo cứu gia Loreto Todd (1974, trang 80-81) trích dẫn, tác giả H. I. Gogbin trong cuốn sách tựa đề Experiments in Civilization, xuất bản tại Luân đôn năm 1939, đã cho người đọc thưởng thức một bài thơ rất cảm động viết bằng tiếng Tok Pisin bởi một nhà thơ khuyết danh, với lời lẽ giản dị bộc trực. Chỉ vì miếng cơm manh áo mà nhà thơ ấy phải vượt biển đi làm việc rất xa nhà, nhưng trong lòng thì lúc nào cũng nung nấu một niềm thương nhớ quê xưa, người cũ. Nhà thơ ấy thổ lộ tâm tư qua bài thơ dưới đây bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, mà bút giả đã phỏng dịch sang tiếng Việt hầu quý bạn đọc:

Ples bilong mi i namerwan

Quê hương tôi số một ở trên đời                                                                                                                       

Mi laikim im, tasol

Tôi yêu mến nó nhiều, có vậy thôi                                                                                                                                             

Mi tink long papa, mama tu

Tôi nghĩ đến cha tôi và mẹ nữa                                                                                                                                                                                                                                                                                              

Mi krai long haus bilong ol

Tôi trạnh lòng nhớ tới mái nhà chung                                                                                                                         

  • • • • •

Mi wok long ples i longwe, tru

Tôi mưu sinh quá xa nhà, quả thực                                                                                                                       

Mi stap nogut, tasol

Nhưng bỏ làm thì chẳng được, đành thôi                                                                                                                     

Brader, susa tu

Anh cùng chị thân yêu đời tôi nữa                                                                                                                           

Long taim wetim mi

Ngóng tôi về dòng dã bấy lâu nay                                                                                                                                          

Ol tink mi lus long si                                                  

Giờ hẳn nghĩ tôi nằm sâu đáy biển                                                                                                                        

  • • • • •

Nau mi kirap, mi go long ples

Đã đến lúc tôi đường dài quay lại                                                                                                                         

Mi nokin lusim mor

Chẳng thể nào vời vợi sống đơn côi                                                                                                                              

Ples bilong mi i namerwan

Quê hương tôi số một ở trên đời                                                                                                                                  

 

Mặc dù nhiều người vẫn còn coi nhẹ các loại tiếng giả cầy – người Pháp còn gọi loại ngôn ngữ này ở Phi châu là petit nègre (mọi đen con) vì nó ít từ vựng và dùng ngữ pháp thô sơ như con nít – các loại ngôn ngữ rất đặc thù này đã thành công trong sứ mệnh truyền thông giữa người với người, và đó là mục đích chính yếu của bất cứ một ngôn ngữ nào. Chúng cũng chứng minh hùng hồn được khả năng sáng tạo của bộ óc con người khi nhu cầu truyền thông đòi hỏi.

Đã đến lúc mọi người phải nhìn những ngôn ngữ giả cầy của nhân loại qua một nhãn quan hiểu biết, thông cảm, và độ lượng hơn nhiều.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO   

Crystal, D. (1997). The Cambridge encyclopedia of language. Cambridge, England:   Cambridge University Press.

Holm, J. (2000). An introduction to pidgins and creoles. Cambridge, England:

Cambridge University Press.

Malmkjaer, K. (Ed.) (1991). The linguistics encyclopedia. London and New York:

Routledge.

Romaine, S. (1988). Pidgin and creole languages.  New York:

Longman.

Siegel, J. (2008). The emergence of pidgin and creole languages. New York:

Oxford University Press.

Todd, L. (1974). Pidgins and creoles. London and Boston: Routledge & Kegan Paul.

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s