Vũ Nam – Hoa Forsythie

Cảnh buổi sáng mùa thu ở nước Đức với mây mù giăng thấp giống y như trời Đà Lạt. Những người du lịch từ Việt Nam qua hay nói với sư cô Diệu Huê như vậy. Cô chưa đến Đà Lạt lần nào nên cô không thể cảm nhận được điều này. Trước mắt cô chỉ thấy, như các mùa khác trong năm, mùa thu ở đây cũng là mùa đẹp. Lá cây trở nên vàng rực. Cũng có những loại cây trong mùa thu lá úa tàn, xen sắc nâu vàng lẫn lộn, không đẹp, nhưng cây dẻ gai đứng trước chùa cô đang trụ trì đặc biệt cho sắc lá vàng tươi. Khổ nỗi, trong hàng cây trước chùa lá từ cây này lại rụng nhanh nhất. Chỉ vài ngày lạnh, thân cây chỉ còn lại trơ trụi cành nhánh. Những chiếc lá vàng tươi ấy không nằm được lâu trên thân cây để cho người đời chiêm ngưỡng.

Ở Việt Nam sư cô Diệu Huê đã từng quen với nhiều loài hoa như hoa sen, hoa lan, hoa cúc.v.v… Hoa nào cũng đẹp. Có hoa, không những đẹp mà còn thánh khiết, như hoa sen. Nhưng nếu ai hỏi cô thích hoa nào nhất, không ngại ngùng cô sẽ trả lời đó là hoa bằng lăng. Chính cô cũng không hiểu tại sao tự nhiên cô lại thích giống hoa…rừng này! Nhưng trong một năm ở Đức, sư cô lại thấy thích nhất hai loại hoa trong vô số loài hoa ở đây mà cô không thể nào biết tên hết được. Hai loại đó là hoa trên cây Kirsche và hoa Forsythie. Kirsche có vài giống, thường cho trái ăn rất ngon, nhưng với cô, chỉ có Kirsche cho hoa màu tím thẫm là đẹp. Hoa thôn dã như hoa trên những cành táo, lê cũng đẹp, nhưng không thể nào so sánh với hoa này. Khi xuân đến, toàn cành nhánh chìm ngập trong ” màu tím hoa cà “.

Còn hoa Forsythie vàng như hoa mai khi nở rộ. Đặc biệt không thấy lá nên thân cây toàn là hoa với một màu vàng tinh anh. Nhìn hoa Forsythie nở người Việt Nam nào không nhớ Tết? May mắn trước Chánh điện chùa sư cô đang trụ trì đã có cây hoa Forsythie. Cô định khi có dịp cô sẽ mua một cây Kirsche tím về trồng trên mảnh đất bên hông chùa.

Như mọi buổi sáng khi kéo tấm màng che cửa sổ qua một bên, sư cô Diệu Huê lại nhìn được vẻ đẹp thiên nhiên, trời đất, đang hiện ra bên ngoài. Có hôm trời âm u, sương mù màu trắng giăng như dải lụa mỏng trên các ngọn cây, mái nhà. Có hôm trời trong vắt, mới buổi sáng đã thấy bầu trời xanh không gợn một làn mây. Cảnh vật thay đổi từng ngày như vậy nhưng tâm hồn sư cô không mảy may dao động. Cô thích trời mùa thu, không khí màu hè, cánh đồng có tuyết phủ trắng mùa đông ở vùng núi đồi Âu châu này, y như tình yêu với lẽ nhiệm mầu Phật pháp: kính cẫn, trang trọng.

Mở cánh cửa sổ ở phòng Chánh điện chùa để nhận không khí ban mai sau một đêm ” cửa đóng then cài ” , sư cô hít một hơi dài. Ngày mới đến Đức, sợ lạnh, sư cô Diệu Huê không dám mở cửa sổ vào mỗi sáng sớm. May có chị Thiện Hạnh, dân du học từ trước năm bảy mươi lăm, đã lấy xong bằng kỹ sư Hoá học, khi đến chùa đãnh lễ đã khuyên cô như vậy, nên cô làm theo. Thiện Hạnh nói mở cửa sổ khoảng năm phút mỗi buổi sáng rất tốt sức khỏe cho sư cô. Cô còn thêm: Nhưng trong mùa đông sư cô nhớ mặc áo ấm vào khi đứng lâu ở cửa! Dân từ Á châu qua Âu châu ai mà không sợ lạnh, vì thế với sư cô cũng không phải là một ngoại lệ. Đạo hữu Thiện Hạnh khi đến chùa hay chỉ dẫn cho sư cô nhiều điều hay. Đạo hữu yêu mến sư cô không chỉ vì tình đạo, quý mến vị nữ tu, mà còn một tình cảm thầm kín khác: Thiện Hạnh có một cô em gái đang tu ở Việt Nam.

Nếu không đi tu, ắt sư cô Diệu Huê cũng là một cô gái đẹp. Nhiều người xác nhận như vậy. Sư cô vóc người mảnh mai, nước da trắng, cao đến một mét năm mươi tám, mặt chưa bao giờ đánh phấn nhưng đôi má lúc nào cũng như được đánh phớt một làn phấn mỏng. Nhiều đạo hữu nhìn cô, dù qua chiếc áo màu lam, đầu không còn tóc, vẫn nói thầm: Sư cô này đẹp thật! Nếu ai để ý sẽ thấy sư cô có cặp lông mày gọn, mảnh, như lông mày đã được nhổ tỉa cẩn thận. Nhưng trước mặt một ni cô chẳng ai dám mở miệng khen cô có cặp lông mày đẹp bao giờ. Và dù đã hai mươi chín tuổi, tu đã gần bảy năm, nhưng sư cô Diệu Huê, đôi khi, vẫn còn để ngoại cảnh chi phối. Khi một đạo hữu hỏi đến cô điều gì, đôi khi rất bình thường, về chuyện tình tự trai gái, vợ chồng, mong cô cho một lời chỉ dẫn để giáo huấn con cái, cô lại mắc cỡ, đôi má ững hồng như ánh đỏ của mặt trời tỏa ra chung quanh trong buổi sáng trên biển. Khi ấy cô hay mĩm cười đầu cuối xuống đễ giấu vẽ ngượng ngùng, sau đó mới tiếp tục đàm đạo.

Khi trở vào Chánh điện, sư cô đi lại nơi chậu kiển Pflanzen để nhìn những cánh lá, xem trong một đêm đã có sự thay đổi nào, bao nhiêu chiếc lá đã rụng. Kiển Pflanzen rất dễ trồng, trong nước hay trong đất kiển vẫn tươi mát vươn lên cho những chiếc lá màu xanh đỏ tươi tắn. Sư cô lại đến bên cây Feige, loại cây cho những chiếc lá lớn và trái có ruột giống như ruột trái sung ở miền nam Việt Nam, nhưng có vị ngọt. Ở Đức người ta trồng cây Feige để làm cảnh vì khí hậu lạnh, không như ở Hy lạp, ấm áp, người ta trồng để lấy trái ăn hoặc bán. Chiều hôm qua có vị đạo hữu đem tặng chùa cây Feige nhỏ này. Đạo hữu nói trời lạnh, cây Feige sống bên ngoài không nổi, phòng khách nhà đạo hữu chật hẹp, nên đem tặng chùa để cảnh Chánh điện chùa có thêm mầu xanh cây lá. Chùa là của chung, bà con đạo hữu trong vùng cùng nhau góp tiền bạc, công sức tạo nên, nên các đạo hữu rất quan tâm. Sư cô rất vui về việc này. Từ Chánh điện đến nhà bếp, chỗ nghĩ ngơi cho sư trụ trì, đều được các đạo hữu cho giúp ý kiến, tạo dựng. Sư cô Diệu Huê được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bảo lãnh từ Việt Nam qua, rồi gửi đến đây để làm Phật sự cho địa phương, nhưng cũng là cho Giáo Hội. Ai đó đã viết những nhánh cây cành hoa như con người, lúc đầu sư cô không thấy điều này, ở một mình trong chùa lâu cô mới thấy lời nói ấy là đúng. Có chăm sóc kỹ càng, tưới nước đầy đủ và có ” hơi người ” cành hoa chiếc lá mới đẹp. Thiếu vắng chăm sóc, chúng cũng lộ vẻ tiều tụy, u hoài và cũng chẳng thèm cho ra hoa lá mới.

Giờ sư cô Diệu Huê đang đi bên ngoài. Trời hơn mười giờ sáng, sương đã tan vì ánh nắng. Mỗi tuần một lần cô hay đi dạo khoảng nửa tiếng đồng hồ trên con đường nhỏ, không xa chùa lắm, có bảng cấm xe hơi chạy vào nhưng lại được tráng nhựa rất sạch. Con đường thẳng tấp, xa phố thị nên yên tỉnh hoàn toàn. Phía xa xa núi đồi đang mặc chiếc áo màu vàng nâu từ những chiếc lá trong mùa thu. Ở Việt Nam cảnh có vẻ đẹp khác. Ở đây có vẻ đẹp khác. Ngày trước ở Việt Nam cô tu trong ngôi chùa trên núi Dinh ở làng Chu Hải. Ngôi chùa trên núi cao, có suối chảy quanh. Đứng trên đây có thể nhìn thấy biển Long Sơn với màu nước bạc. Xa hơn là dãy núi Lớn. Ngày thường thỉnh thoảng có thiện nam tính nữ ở những vùng dưới chân núi, lân cận, lên viếng chùa. Còn ngày cuối tuần có cả những khách hành hương từ các thành phố xa đến như Biên Hòa, Sài Gòn.

Trên đường đi, khi đến ngôi ” nhà hoang ” cách đường khoảng chừng năm mét, sư cô dừng lại. Đứng lại đây là để cô có vài phút chăm sóc cây hoa Forsythie do cô trồng. Hoa vẫn bình thường, đứng yên tỉnh dưới bầu trời tịch liêu. Cách đây khá lâu sư cô Diệu Huê đã lấy một cây hoa Forsythie con mà cô đã cấy ra trong mấy ngày sau khi cô vừa đến đây trụ trì đem đến trồng trước ngôi ” nhà hoang ” này. Nhưng tại sao sư cô đem hoa đến trước ngôi ” nhà hoang ” này trồng có lẽ chỉ mình sư cô biết. Như mọi lần, trong khi ngồi vuốt ve cành hoa sư cô lâm râm niệm: Nam Mô A Di Đà Phật. Con nguyện cầu Đức Phật A Di Đà hãy ra tay cứu độ cho vong hồn tính nữ. Cầu mong Đức Phật sớm dẫn dắt linh hồn tính nữ sớm về cõi A Di Đà . Sau đó cô tiếp tục niệm Phật và rảo bước đi cho đến cuối con đường.

Giờ nói về chuyện ngôi ” nhà hoang “. Khi sư cô Diệu Huê đến trụ trì ở nước Đức này khoảng chừng đôi ba tháng, lúc đó trời vừa vào thu. Một lần, trong một buổi xế chiều, sư cô cảm thấy mệt vì vừa phải nghe qua một câu chuyện quá thương tâm của một gia đình Phật tử cư ngụ trong vùng. Sau khi tiễn vị Phật tử ra về, sư cô muốn ra ngoài đi dạo một chút để tâm hồn xa lánh những điều phiền trược. Sư cô muốn nhờ khí trời thiên nhiên để phút chốc cô sẽ quên đi được câu chuyện vừa nghe. Khi sư cô ra khỏi chùa trời còn nắng. Cũng trên con đường quen thuộc một lối đi về thường ngày cô đã đi qua nhiều lần, vậy mà hôm ấy khi ánh mặt trời vừa lặn sư cô lại đi lạc vào con đường nhỏ dẫn đến ngôi ” nhà hoang “. Lạc hồi nào sư cô không hay biết. Sư cô lẩm nhẩm rõ ràng cô đã theo hướng những hàng cây quen thuộc để về lại chùa, thế sao bước chân cô lại có thể rẽ qua một con đường khác nơi ngã ba đường? Khi thấy ngôi nhà vắng vẻ đến ghê rợn sư cô mới giật nảy mình và nhận ra mình đã đi lạc. Cô lẩm nhẩm niệm Phật và tự hỏi nhà của ai cất ở nơi vắng vẻ như thế này. Mái đã được đóng khung nhưng chưa lợp một chiếc ngói; cửa sổ, cửa ra vào vẫn còn bỏ trống, ý chừng như thợ không còn muốn tiếp tục. Bỗng nhiên sư cô thấy bức rức trong mình, tâm bất an, như linh cảm một có việc gì buồn bực, âu lo.

Mấy hôm sau, khi có vài Phật tử đến viếng chùa sư cô Diệu Huê đem chuyện ngôi ” nhà hoang ” ra hỏi thì cô mới biết được một chuyện động trời. Là người tu, khi nghe qua sư cô còn thấy xây xẩm mặt mày. Xi-măng, cát đất đúc bê-tông ngôi nhà trộn đầy xác của cô gái Đức đó sư cô! Một Phật tử giải thích. Bác tiếp: Anh chồng ghen hay gì không biết, tình hay tiền không biết mà đã giết vợ. Sợ cảnh sát phát hiện nên chặt xác vợ nhỏ ra rồi đem đến bỏ vô máy xay trộn với đám hồ đất xi-măng. Thợ đâu có biết nên cứ lấy ra mà đúc. Mãi sau này cảnh sát tóm được anh ta thì mới biết ra điều đó. Cả thầu xây cất và chủ nhà đều giật mình. Cả hai đều quyết định ngưng việc làm nhà lại. Vì thế ngôi nhà cả năm nay vẫn để vậy. Để cảnh sát điều tra. Ở đây ai mà không nghe đến chuyện này.

Sáng hôm sau, sư cô Diệu Hạnh đi dạo. Lần này cô không đi lạc như buổi chiều hôm trước. Cô đi thẳng đến ngôi ” nhà hoang “. Khi đi cô mang theo mấy cây nhan, một cây cuốc nhỏ và cây hoa Forsythie con. Đến trước ngôi nhà, sư cô ra sức cuốc một lỗ nhỏ để trồng cây hoa xuống, xong sư cô thắp hương và tụng một thời kinh cầu siêu. Việc sư cô làm chỉ mình cô biết, người ngoài không ai nghe thấy. Nhưng dù âm dương có cách trở, chắc cô gái chết hoang ức nào đó, thân xác còn dính chặt trong ngôi nhà ắt cũng sẽ về để nghe tiếng tụng niệm của sư cô? Tụng bài kinh xong trên đường đi về lại chùa sư cô Diệu Huê thấy tâm lắng đọng, bình yên.

Cây hoa Forsythie con do sư cô Diệu Huê trồng lớn lên thấy rõ, nỡ vàng khi mùa xuân đến. Mỗi lần sư cô đi dạo ngang qua đây, cô dừng lại nói chuyện với hoa y như cô đang nói chuyện với cô gái xấu số. Hoa và người thật tâm đắc! Sau ngày trồng hoa xuống, sáng nào, tối nào khi tụng kinh, sư cô Diệu Huê cũng cầu nguyện cho linh hồn cô gái xấu số sớm được siêu thoát. Thời gian cứ thế trôi qua: xuân đi hè đến.

*

Bấy giờ đang là mùa đông. Lâu nay trời lạnh xuống đến dưới mười độ âm nên sư cô Diệu Huê không còn dám đi dạo xa chùa. Cô chỉ rời khỏi chùa khi phải rời, hoặc đi mua hoa quả về để cúng Phật hay dùng cho công việc trong chùa. Thắm thoát đã gần một năm rưởi ở trong ngôi chùa trên đất khách. Thuận duyên cũng có mà chướng duyên cũng nhiều. Thuận duyên là vì nhiều Phật tử trong vùng vẫn hướng về đạo pháp, phụng sự Tam Bảo, kính trọng vị trụ trì. Chướng duyên là vì những bịnh tật lặt vặt khi hè về, đông đến. Hè về thì bịnh Allergie vì phấn hoa, nước mắt nước mủi cứ chảy ra thật khó chịu. Đông đến thì lạnh. Một mình nên không ai chăm sóc hoặc nhờ vã mỗi khi trở trời, cảm bịnh. Ở Việt Nam tu có tăng đoàn, có chùa nữ, còn ở đây người đi tu ít, Phật tử lại nhiều, nên chuyện một vị thầy, một sư cô ở một mình, trụ trì một chùa là chuyện bình thường. Biết vậy nên sư cô sẵn lòng chấp nhận. Phật tử ở đây chỉ đến chùa vào ngày cuối tuần, còn trong tuần thường ai cũng bận việc riêng tư, gia đình. Nhiều khi đang bịnh, sư cô cũng phải đứng lên tự đi lấy búa kiềm để đóng lại cánh cửa đã rớt một then cài, vì gió sẽ theo khe hở mà thổi vào chùa; hay vặn lại cái lò sưởi vì trục trặc không cho đủ hơi ấm trong những ngày đông giá. Cuối tuần đông Phật tử đến lễ Phật, chùa có lạnh cũng trở nên ấm vì hơi người. Nhưng ngày thường, còn lại một mình, sư cô mới sợ khí lạnh ở Âu châu, nếu rủi ro lò sưởi bị trục trặc. Ai biết cho cô việc này? Chắc chỉ có Phật. Phật thấu cả mọi việc của chúng sanh là như vậy.

Trong mùa đông, vì không còn đi dạo qua ngôi ” nhà hoang “, sư Diệu Huê cũng cảm thấy nhớ nhớ. Nhớ con đường nhỏ, ngôi ” nhà hoang “, cành hoa Forsythie và cả… cô gái xấu số. Không biết cô đã về nơi cõi A Di Đà chưa? Má hồng phận bạc! Vì là nữ tu nên sư cô Diệu Huê liễu ngộ được cuộc đời của một người phụ nữ. Sư cô định khi trời bớt lạnh, mát dịu lại, cô sẽ đi thăm lại ngôi nhà. Lúc này tuyết đang phủ, chắc nơi ấy cảnh vật lạnh lẽo lắm! Đạm Tiên chắc cũng còn phải thua xa! Đôi khi, khi nghĩ đến cô gái chết oan, sư cô hay lấy truyện xưa ra ví von như vậy. Khi thấy tâm đã đi hơi xa, sư cô lại niệm Phật và đọc một thời kinh Bát Nhả để kiềm chế tâm và tìm cách xa lánh chuyện đời.

Vào một buổi tối, nhằm ngày rằm, khi nhìn qua cửa sổ phòng chánh điện, thấy ánh trăng tròn đang treo lủng lẳng dưới bầu trời trong vắt đang hiện ra bên ngoài, sư cô nhủ thầm: Cảnh thiên nhiên thật đẹp! Một bức tranh tuyền vàng! Trong mùa đông không phải tháng nào cũng ngắm được ánh trăng rằm! Sư cô vào trong mặc thêm chiếc áo mùa đông, rồi ra mở toang cả hai cánh cửa sổ. Đứng nơi thành cửa, sư cô hít thở hương đêm, chiêm nghiệm vẻ nhiệm mầu của trời đất, thấy được nét huyền bí của vũ trụ, sinh cảm được sự linh diệu của giáo lý Phật Đà. Từ trên không gian bao la với màu sáng vàng rực của ánh trăng, tự nhiên ánh mắt sư cô lại nhìn xuống một điểm ” lạ ” đang xảy ra trước Chánh điện chùa, nơi cây hoa Forsythie đang đứng. Cây hoa mà trước đây sư cô đã chiết ra những cây con để trồng chung quanh chùa và có một cây sư cô đã trồng trước ngôi ” nhà hoang “. Cành nhánh của cây hoa đang tỏa ra từng chấm ánh sáng thật lạ. Nhìn kỹ sư cô mới nhận ra cây hoa nhận ánh sáng từ mặt trăng rồi cho những điểm sáng lấp lánh, trông thân hoa như có linh … hồn. Đêm ấy sư cô mằm mộng thấy có một thiếu nữ tóc vàng đứng ngay nơi cây hoa Forsythie trước Chánh điện. Thiếu nữ chấp tay niệm Phật, đôi mắt nhìn sư cô trông rất hân hoan vui vẻ. Trông mơ, sư cô còn nghe lời của thiếu nữ nói: Con đã đến đây nghe kinh mỗi ngày. Nhưng mai con sẽ đi rồi, không có dịp nghe kinh ở đây nữa! Con đến để chào từ giã Sư cô. Cám ơn Sư cô đã tụng niệm, chúc lành cho con trong bao lâu nay. Trước khi đi, con chúc sư cô được sức khỏe và đường tu hành được đạt đạo. Rồi cô gái biến mất.

*

Mùa xuân lại trở về với đất trời. Ngày đi dạo đầu tiên của sư cô Diệu Huê trong những ngày đầu xuân là đi thăm lại ngôi ” nhà hoang “. Đến nơi cô chỉ thấy còn lại một đám đất trống màu nâu vì đã được máy cày cày sới lên trong những ngày đông giá vừa qua. Vậy là người ta đã phá bỏ ngôi nhà để chuẩn bị làm thành một thửa ruộng hay một khu vườn cây trái. Sư cô Diệu Huê không ngạc nhiên lắm với những sự việc đã xảy ra vì cô đã nghĩ ngôi nhà rồi cũng sẽ bị dẹp đi thôi. Nhưng có một việc mà sư cô không bao giờ nghĩ đến. Đó là, cạnh cây hoa Forsythie sư cô trồng lúc trước, một cây Thánh giá được dựng lên. Trên cây Thánh giá có đính chặt một tấm biển nhỏ bằng nhôm với hàng chữ bằng tiếng Đức : Xin nguyện cầu linh hồn Eva đời đời về cõi Vĩnh Hằng. Làng T ngày… Có lẽ câu viết này của người chủ nhà viết ra khi ông quyết dịnh đập phá bỏ ngôi nhà. Sư cô Diệu Huê ngẫm nghĩ như vậy.

Trở về lại chùa sư Diệu Huê đem sự việc này ra hỏi, thì mấy ngày sau, một vị Phật tử đem đến cho sư cô Diệu Huê xem một tờ báo địa phương đã cũ. Trong một trang báo có một tấm hình chụp cây Thánh giá, dưới hình có ghi chú: Hàng chữ Xin nguyện cầu linh hồn Eva đời đời về với cõi Vĩnh Hằng, Làng T ngày… là do chồng của cô Eva Schmidt viết. Cảnh sát đã dẫn anh ta trở lại hiện trường để điều tra nội vụ. Anh ân hận và xin chính quyền, chủ đất cho anh đặt cây Thánh giá với hàng chữ đó để tỏ lòng ân hận về việc làm của anh ta.

Ngày…ghi trên Thánh giá, sư cô Diệu Huê nhẫm tình ra trùng với ngày mà trong đêm cô gái lạ hiện về báo mộng với sư cô. Đó là đêm rằm tháng…. Chuyện này cho đến nay cũng chỉ có mình sư cô Diệu Huê biết.

Vũ Nam

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s