Bác sĩ NGUYỄN ANH HUY – THẤY GÌ QUA VIỆC PHÂN TÍCH NGỮ PHÁP CÂU “ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG SẮC TỨ, HÀ TRUNG TỰ HOÁN BÍCH THIỀN SƯ THÁP KÝ MINH”?

Ấn phẩm Liễu Quán số 8 ra tháng 5/2016, có bài “Làng Hà Trung và cổ tự Hà Trung qua góc nhìn địa – chính trị, địa – văn hóa” của Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang (TS VVQ), trong đó, tác giả nhận định : “Văn bia tháp Tổ sư Nguyên Thiều do Ninh vương Nguyễn Phúc Chú tự tay biên soạn có tiêu đề ‘Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh’ là sự chứng minh rõ ràng nhất cho việc ngôi chùa Hà Trung từng được ban ‘Sắc tứ’ ít nhất vào thời Minh vương Nguyễn Phúc Chu (ở ngôi 1691-1725) và Ninh vương Nguyễn Phúc Chú (ở ngôi 1725-1738)” (gọi tắt là Bài VVQ-1), và từ đó, tác giả đã sử dụng danh xưng gồm 5 chữ “Sắc tứ Hà Trung tự (敕 賜 河 中 寺)”.

Không đồng ý với nhận định này, trên tạp chí Huế Xưa & Nay số 136, ra tháng 7-8/2016, tôi đã có bài viết “Chung quanh ngôi chùa công Hà Trung ở Thuận Hóa” với ý kiến : “Xem lại tất cả các tài liệu có liên quan như Đại Nam Nhất Thống Chí, Đại Nam Liệt Truyện, Phủ Biên Tạp Lục, Hải Ngoại Kỷ Sự, và cả trong nội dung văn bia tháp thiền sư Hoán Bích như đã dẫn từ trên… không thấy tài liệu nào nói Minh Vương hoặc Ninh Vương sắc tứ chùa Hà Trung để có một danh xưng gồm 5 chữ ‘敕 賜 河 中 寺 (Sắc tứ Hà Trung tự)’, mà danh xưng được ghi chép trên các tài liệu cho thấy chỉ có 3 chữ ‘河 中 寺 (Hà Trung tự)’ mà thôi. Nếu dựa vào câu trên bia tháp là ‘大 越 國 王 敕 賜 河 中 寺 煥 碧 禪 師 塔 記 銘 (Đại Việt quốc vương sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh)’, mà cho rằng chùa Hà Trung được ‘sắc tứ’ thì nhà nghiên cứu VVQ đã vô ý hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán ! Đối tượng được ‘sắc tứ’ trong câu này chính là ‘ký minh’ chứ không phải là ‘Hà Trung tự’, do vậy câu này phải hiểu là ‘Bài ký minh được Đại Việt quốc vương ban tặng cho tháp thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung’ mới đúng” (gọi tắt là Bài NAH-1).

Có lẽ vấn đề cũng chẳng có gì quan trọng nếu TS VVQ bình tĩnh và khôn khéo mà trả lời rằng “-Xin cảm ơn độc giả đã quan tâm vấn đề, chúng tôi sẽ xem lại và sẽ có ý kiến phản hồi sau !” ; còn tác giả VVQ có “phản hồi sau” hay không thì chắc rồi  cũng chẳng ai để ý !

Nhưng có lẽ do sĩ diện bản thân mình là một tiến sĩ Hán Nôm, lại để một bác sĩ Y Khoa nhắc khéo “vô ý hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán !”, TS VVQ đã nóng vội “Bàn thêm về ‘Sắc tứ’ 敕 賜 và hai chữ ‘Sắc tứ’ trong văn bia Sắc tứ Hà Trung Tự Hoán Bích Thiền sư tháp ký minh” trên Huế Xưa & Nay số 137 (gọi tắt là Bài VVQ-2), mà mới mở đầu bài, tác giả đã bộc lộ ngay thái độ hằn học : “…nhà nghiên cứu NAH đã phê phán cách đọc và hiểu… của chúng tôi” !

Cách nhắc của tôi chỉ là “vô ý hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán !”, không hề có sự “phê phán” nào ! ; nếu TS VVQ không “vô ý hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán !” như tôi đã ngộ nhận, thì nên phân tích lại ngữ pháp câu 16 chữ Hán để độc giả hiểu rõ hơn, chứ không nên tỏ thái độ hằn học như thế !

Đọc kỹ lại ý kiến của tôi ở Bài NAH-1, độc giả sẽ thấy nội dung cuộc trao đổi chỉ có 2 vấn đề chính cần đặt ra :

* Vấn đề 1 : Chùa Hà Trung có được Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Chu “Sắc tứ” để có danh xưng gồm 5 chữ là “敕 賜 河 中 寺 (Sắc tứ Hà Trung tự)” như TS VVQ nói không ?

* Vấn đề 2 : trong câu chữ Hán “大 越 國 王 敕 賜 河 中 寺 煥 碧 禪 師 塔 記 銘 (Đại Việt quốc vương sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh)”, đối tượng bổ nghĩa cho động từ “sắc tứ” là “Hà Trung tự” như cách giải thích của TS VVQ, hay là “ký minh” như cách giải thích của tôi ?

Tuy nhiên, ở Bài VVQ-2, tác giả không hề bàn về hai nội dung trọng tâm đã nêu, nhất là không phân tích ngữ pháp câu 16 chữ Hán cần bàn, mà phóng theo một con đường khác hẳn, một con đường có độ phân ly với khoa học ngày càng lớn, mà tôi sẽ trình bày ở những phần tiếp sau…

Ngay sau khi đọc Bài VVQ-2, tôi đã có bài phân tích “Chùa Hà Trung có phải là chùa sắc tứ ?” trên Huế Xưa & Nay số 138 (gọi tắt là Bài NAH-2), trong đó ngoài việc dùng sử liệu và các chứng cứ thực tế để giải đáp hai vấn đề trọng tâm đã nêu, tôi đã sơ suất nên có mỉa mai TS VVQ một câu : “Ngay cả tên một số ngôi chùa hiện đang còn treo biển mà ai cũng có thể trực tiếp đến xem, nên tôi thấy không cần thiết phải đăng hình ảnh để làm chứng, như tên chính thức của chùa Thiên Mụ thời chúa Nguyễn là ‘Ngự kiến Thiên Mụ tự’ (chùa do vua xây) và đến thời Tự Đức (1848-1883) được đổi thành chỉ 3 chữ là ‘Linh Mụ tự’, còn chùa Diệu Đế thì thời Thiệu Trị (1841-1847) có tên là ‘Sắc kiến Diệu Đế tự’ (chùa xây theo chỉ thị của vua) và đến thời Bảo Đại (1926-1945) được đổi thành ‘Ngự kiến Diệu Đế quốc tự’, nhưng không hiểu vì lý do gì đã ‘được / bị’ TS VVQ tự tiện ‘sắc tứ’ hết thành là ‘Sắc tứ Thiên Mụ tự’, ‘Sắc tứ Linh Mụ tự’ và ‘Sắc tứ Diệu Đế tự’.”.

Đáng ra, cách nhắc nhở kiến thức học thuật cũng nên nhẹ nhàng, không nên mỉa mai nhau như thế !, nhưng nhiều độc giả cũng tán đồng : “-Mỉa mai cũng đúng thôi !”, bởi vì sao phải mỉa mai ?

Bị tôi bác bỏ hoàn toàn ở Bài NAH-2, TS VVQ vội phóng thêm bài “Để hiểu rõ hơn về đối tượng Sắc tứ”, nhưng tạp chí Huế Xưa & Nay trả lời rằng “tạm ngưng đăng tải những bài viết tranh luận liên quan đến chủ đề SẮC TỨ”, nên TS VVQ đã gởi đăng bài này trên tạp chí Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Đà Nẵng số 86 (gọi tắt là Bài VVQ-3), trong đó, tác giả VVQ cho rằng tôi (tức NAH) “ngôn từ sử dụng thiếu mực thước ; phản biện bằng nguồn tư liệu thứ cấp, khác biệt so với bản chính ; vì muốn đạt được ý riêng mà cố ý làm sai lệch sử liệu…”, và trên cơ sở đó, “để tạm kết cho vấn đề này, tôi (tức TS VVQ) nghĩ rằng phản biện khoa học là đưa ra chứng cứ khách quan để nhằm sáng tỏ vấn đề cần giải quyết, với mục đích đóng góp những cứ liệu, nhận thức, chứng lý mới phục vụ cho sự phát triển khoa học. Nếu không vì tinh thần ấy, mà ai đó mượn danh khoa học để mỉa mai, gán ghép, xúc phạm cá nhân thì tôi xin không tiếp tục trao đổi thêm”.

Với tinh thần khoa học như TS VVQ đưa ra, tôi đồng ý với quan điểm ấy, và để độc giả xem TS VVQ có thực hiện đúng tinh thần khoa học ấy không, tôi xin tường thuật lại toàn bộ quá trình trao đổi học thuật đã nêu…

  1. Bóp méo sự thật hết lần này đến lần khác : Khi trích đoạn văn của tôi cho độc giả đọc, TS VVQ đã không trung thực bằng cách cố ý cắt xén làm mất ý của câu và thêm chữ mới vào để xuyên tạc ý văn của tôi ; và khi bị tôi vạch trần việc làm xuyên tạc ấy, TS VVQ đã thiếu trung thực với độc giả bằng cách giải thích hoàn toàn khác hẳn với việc mình đã từng làm :

Từ đầu bài này, tôi đã cho độc giả thấy đầy đủ ý kiến của tôi, nhưng khi dẫn lại ý kiến của tôi, trong Bài VVQ-2, TS VVQ chỉ trích câu chưa hết ý như sau : “Xem lại tất cả các tài liệu có liên quan như Đại Nam Nhất Thống Chí, Đại Nam Liệt Truyện, Phủ Biên Tạp Lục, Hải Ngoại Kỷ Sự, và cả trong nội dung văn bia tháp thiền sư Hoán Bích như đã dẫn từ trên… không thấy tài liệu nào nói Minh Vương hoặc Ninh Vương sắc tứ chùa Hà Trung để có một danh xưng gồm 5 chữ ‘敕 賜 河 中 寺 (Sắc tứ Hà Trung tự)’, mà danh xưng được ghi chép trên các tài liệu cho thấy chỉ có 3 chữ ‘河 中 寺 (Hà Trung tự)’ mà thôi. Nếu dựa vào câu trên bia tháp là ‘大 越 國 王 敕 賜 河 中 寺 煥 碧 禪 師 塔 記 銘 (Đại Việt quốc vương sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh)’, mà cho rằng chùa Hà Trung được ‘sắc tứ’ thì nhà nghiên cứu VVQ đã vô ý hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán ! Đối tượng được ‘sắc tứ’ trong câu này chính là ‘ký minh’ chứ không phải là ‘Hà Trung tự’”.

Còn câu quan trọng nhất của tôi nối tiếp sau dấu phẩy có gạch chân, tức viết chưa hết ý của câu, là “, do vậy câu này phải hiểu là ‘Bài ký minh được Đại Việt quốc vương ban tặng cho tháp thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung’ mới đúng”, đã bị TS VVQ cố ý cắt vất.

Để thay vào câu vừa bị cố ý cắt vất, TS VVQ giải thích tiếp cho độc giả và có nhấn mạnh từ ngữ gạch chân hoặc in đậm nguyên văn như sau : “Theo nhận định của NNC NAH, Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh 敕 賜 河 中 寺 煥 碧 禪 師 塔 記 銘 là bài ký minh do Ninh vương Nguyễn Phúc Chú trực tiếp soạn để ban cho thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung ? Tức tác giả cho rằng chữ ‘sắc tứ’ 敕 賜 có nghĩa là [Vua / Chúa] biên soạn bài ký minh để ban cho ?”.

Rõ ràng từ đoạn văn gốc, hai chữ “sắc tứ”, tôi dịch là “ban tặng”, nhưng TS VVQ đã cố ý cắt vất, rồi lại cố ý thêm vào chữ “trực tiếp soạn” và nhấn mạnh chữ mới thêm này để xuyên tạc thành : “Theo nhận định của NNC NAH, Sắc tứ… là… trực tiếp soạn để ban…” !

Sau đó, TS VVQ cho rằng “ông (NAH) không hiểu về nội hàm ý nghĩa của ‘sắc tứ’…”, để rồi toàn bộ Bài VVQ-2 dài 8 trang cũng chỉ với 1 mục đích duy nhất cuối cùng là chứng minh “chúng tôi chưa hề thấy hai chữ ‘sắc tứ’ có nghĩa… như cách hiểu của NNC NAH…” !

Việc làm này của TS VVQ, chẳng khác gì “di thi giá họa” : kẻ sát nhân vất cái xác chết vào nhà người ta, rồi hô hoán lên chủ nhà giết người vậy !

Dù vậy, ở Bài NAH-2, tôi vẫn góp ý nhẹ nhàng với TS VVQ rằng “xin đừng tự tiện suy diễn”.

Nhưng ở Bài VVQ-3, TS VVQ không đề cập gì đến hành động thêm chữ “trực tiếp soạn” của mình để xuyên tạc tôi, lại giải thích với độc giả khác hẳn với sự thật là “Vì thấy phần diễn giải ‘do vậy câu này phải hiểu là Bài ký minh được Đại Việt quốc vương ban tặng cho tháp thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung mới đúng’ của ông NAH không liên quan đến xác định ‘ký minh’ là đối tượng được ‘sắc tứ’, nên tôi thấy không cần phải đề cập“.

Rõ ràng từ Bài VVQ-2, TS VVQ đã cố ý bóp méo câu dịch ý nghĩa chữ “sắc tứ” của tôi từ “ban tặng” thành “trực tiếp soạn”, nhưng khi bị tôi chỉ ra thì ở Bài VVQ-3, TS VVQ không hề xin lỗi tôi về việc xuyên tạc ấy, lại tiếp tục bóp méo thêm một lần nữa cho khác đi, là từ việc dịch nghĩa chữ “sắc tứ” trở thành việc “xác định… đối tượng được ‘sắc tứ'”, để che đậy việc làm “di thi giá họa” của mình !

Xin TS VVQ cho biết : tôi kể như vậy có khách quan không ?, có thêm, có bớt, có đổ oan, có “xúc phạm cá nhân” gì TS VVQ không ?

Bóp méo sự thật hết lần này đến lần khác như vậy, TS VVQ có phải là người trung thực không ?, có “phục vụ cho sự phát triển khoa học” như mình nói không ?, và có phải là TS VVQ đã “mượn danh khoa học để… xúc phạm” tôi không ?

Vì tinh thần khoa học đã nêu, rất mong TS VVQ trả lời rõ ràng và đầy đủ các câu hỏi của tôi, không nên tránh né sự thật và trốn tránh trách nhiệm bằng câu “tôi xin không tiếp tục trao đổi thêm” !

  1. Khi trích dẫn câu chữ Hán, TS VVQ đã bất chấp ngữ pháp, ngữ nghĩa, cũng cắt xén bớt chữ để cố ý làm sai nghĩa, nhưng chưa bao giờ giải thích lý do vì sao cắt xén !

2.1. Chưa bao giờ dám giải thích ngữ pháp !

Khi trích dẫn ý kiến của tôi như vừa kể, TS VVQ cũng có nhấn mạnh ý bằng cách gạch chân dưới chữ “hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán !“. Có nghĩa, TS VVQ vẫn hiểu trọng tâm vấn đề ở đây là “cấu trúc ngữ pháp chữ Hán !”.

Câu chữ Hán trên bia tháp Nguyên Thiều là “大 越 國 王 敕 賜 河 中 寺 煥 碧 禪 師 塔 記 銘 (Đại Việt quốc vương sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh)”, gồm 16 chữ, mà ở Bài NAH-2, tôi đã phân tích cấu trúc ngữ pháp như sau :

-“Đại Việt quốc vương” (Vua nước Đại Việt) là chủ ngữ trong câu 16 chữ Hán ; để trân trọng vị quốc vương, người ta đã khắc to 4 chữ này thành 4 đại tự như một một hình thức viết hoa ngày nay.

-“Sắc tứ” (ban tặng) là động từ của câu ; chữ “sắc” là chữ được dùng riêng cho vua chúa, nên được đài lên trên cao thành một hàng mới, làm người đọc dễ nhầm lẫn câu viết được bắt đầu từ chữ này.

-“Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh” (Bài ký minh trên tháp của thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung) là đối tượng bổ nghĩa cho động từ “sắc tứ”. Trung tâm ngữ ở đây là “ký minh”, như vậy đối tượng sắc tứ là ký minh.

Như vậy, 16 chữ Hán ấy dịch là “Đại Việt quốc vương ban tặng ký minh cho tháp của thiền sư Hoán Bích của chùa Hà Trung”, hoặc cũng có thể dịch là “Bài ký minh được Đại Việt quốc vương ban tặng cho tháp thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung”.

Ở Bài VVQ-1, tác giả trích dẫn chỉ 12 chữ là “Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh”. Có thể lần đầu tiên trích dẫn, TS VVQ không để ý đến 4 chữ “Đại Việt quốc vương” vì nằm một hàng riêng như đã mô tả.

Nhưng sau khi tôi có ý kiến ở Bài NAH-1, tôi dẫn nguyên câu chữ Hán gồm 16 chữ, đáng lẽ TS VVQ là một tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm phải lưu ý vì sao tôi dẫn câu đến 16 chữ mà không phải 12 chữ như TS VVQ đã trích ?

Nhưng sau đó, TS VVQ hầu như lơ nguyên tác gồm 16 chữ lại tiếp tục trích dẫn chỉ 12 chữ, mà bằng chứng cụ thể là trong Bài VVQ-2, tác giả VVQ đã dẫn đến 3 lần câu 12 chữ. Và cả trong 2 bài sau đó, tức Bài VVQ-2 và Bài VVQ-3, tác giả không hề giải thích vì sao mình chỉ dùng 12 chữ mà không phải 16 chữ, và hoàn toàn không nhắc đến ngữ pháp câu 16 chữ hoặc 12 chữ, cũng như không hề bình luận xem tôi phân tích ngữ pháp như vậy đúng hay sai (?), trong khi trọng tâm vấn đề đã từng được TS VVQ nhắc lại và được nhấn mạnh bằng gạch chân là “nhà nghiên cứu VVQ đã vô ý hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán” !

Những điều tôi vừa kể trên, xin TS VVQ cho biết : tôi kể có khách quan không ?, có thêm, có bớt, có “xúc phạm cá nhân” gì TS VVQ không ?

Nếu TS VVQ không “hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán” như tôi nói, rất mong TS VVQ phân tích cấu trúc ngữ pháp câu 16 chữ, cho độc giả được học hỏi thêm !

2.2. Không thể có đáp án “Sắc tứ Hà Trung tự” !

Nhưng giả sử ở bia chỉ viết câu 12 chữ Hán như TS VVQ thường trích, thì ngay cả câu 12 chữ Hán đó vẫn có thể có đến 2 cấu trúc ngữ pháp khác nhau :

2.2.1. Cấu trúc 1 : cụm động từ – danh từ :

– Động từ : “Sắc tứ” là động từ trong cụm, tương tự như cấu trúc cụm “Sắc tứ Báo Quốc tự” vậy.

– Danh từ : “Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh” (Bài ký minh trên tháp của thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung) là cụm danh từ bổ nghĩa cho động từ “sắc tứ”. Trong cụm “Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh” thì trung tâm ngữ là “ký minh”. Như vậy đối tượng sắc tứ ở đây cũng là ký minh.

Cấu trúc này tương tự cấu trúc câu 16 chữ, nhưng chủ ngữ là ẩn ngữ, vì chữ “sắc” dành cho vua chúa, nên không cần chủ ngữ vẫn hiểu ẩn ngữ là vua chúa. Như vậy, 12 chữ Hán ấy vẫn được dịch là “Bài ký minh được (vua chúa sắc tứ) ban tặng cho tháp thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung” như tôi đã dịch.

2.2.2. Cấu trúc 2 : cụm danh từ 1 – danh từ 2 :

– Danh từ 1 : “Sắc tứ Hà Trung tự”, đây thường là một tên riêng, nhưng danh từ riêng này có cấu trúc của một cụm động từ – danh từ, do vậy đối tượng sắc tứ trong trường hợp này là Hà Trung tự.

– Danh từ 2 : “Hoán Bích thiền sư tháp ký minh”.

Đây là cấu trúc mà TS VVQ cần, vì nó thể hiện một tên riêng, và cụm danh – danh từ này sẽ được dịch là : Bài ký minh trên tháp thiền sư Hoán Bích ở chùa Sắc tứ Hà Trung.

Với phân tích trên, cụm 12 chữ Hán cũng có đến 2 cấu trúc ngữ pháp, như vậy, cấu trúc TS VVQ đưa ra cũng chỉ mới có xác suất 50% đúng. Vậy, vì sao phải chọn cấu trúc này mà không chọn cấu trúc kia ?

Huống chi, câu 16 chữ Hán chỉ có 1 cách phân tích cấu trúc ngữ pháp duy nhất như tôi đã trình bày, đối tượng của động từ “sắc tứ” chỉ là “ký minh”, không thể có cấu trúc nào khác.

Vậy, nếu trích dẫn câu văn chỉ 12 chữ để bám víu vào cấu trúc cụm danh từ – danh từ, thì còn thừa 4 chữ “Đại Việt quốc vương” phải giải thích như thế nào ?

  1. Không thể hiểu nổi !

Như trên đã nói, câu văn gồm 16 chữ, nhưng TS VVQ thường chỉ trích 12 chữ, nên thừa ra 4 chữ “Đại Việt quốc vương”, cũng không thể lơ được, nên TS VVQ đã giải thích ở Bài VVQ-2 như sau : “NNC NAH dường như không để ý đến 4 chữ quan trọng nhất “ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG 大 越 國 王 ở đầu văn bia : Chính 4 đại tự Đại Việt quốc vương 大 越 國 王 này mới khẳng định đây là văn bia do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chú (Thụ) biên soạn. Đặt giả thiết nếu không có 4 đại tự Đại Việt quốc vương 大 越 國 王 cùng ấn “Đại Việt quốc vương chi ấn” ở trán bia, liệu ai dám khẳng định đấy là văn bia do Quốc chúa soạn ?”.

Lời giải thích này của TS VVQ gồm hai câu, mà tôi thấy rất cần chấn chỉnh cả hai :

3.1. “Chính 4 đại tự Đại Việt quốc vương 大 越 國 王 này mới khẳng định đây là văn bia do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chú (Thụ) biên soạn” ?!

Tôi rất lấy làm lạ lùng về cách giải thích của TS VVQ, vì “khẳng định…” như thế, TS VVQ đã tự mâu thuẫn với một giải thích khác cũng của chính TS VVQ cách đó chỉ mấy dòng : “Bởi lẽ, nếu không có các chữ ngự đề 御 題, ngự chế 御 製, ngự thư 御 書… thì không ai có thể khẳng định đấy là ghi chép của vua chúa được” !

Nếu TS VVQ muốn “khẳng định” như vậy, thì trên bia phải viết đầy đủ là “Đại Việt quốc vương ngự đề / ngự chế…”, chứ không thể chỉ viết 4 chữ “Đại Việt quốc vương” trỗng trỗng mà không có những động từ đặc trưng như TS VVQ đưa ra được ! Cho nên, chỉ với 4 chữ “Đại Việt quốc vương 大 越 國 王 ” thì không đủ cơ sở để “khẳng định đây là văn bia do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chú (Thụ) biên soạn” !

Vậy, lẽ nào là một câu văn mà Ninh Vương lại viết thiếu các động từ đặc trưng như TS VVQ đưa ra ? hoặc cũng có thể là viết thừa bốn chữ “大 越 國 王 (Đại Việt quốc vương)” ?

3.2. TS VVQ “Đặt giả thiết nếu không có 4 đại tự Đại Việt quốc vương 大 越 國 王 cùng ấn “Đại Việt quốc vương chi ấn” ở trán bia, liệu ai dám khẳng định đấy là văn bia do Quốc chúa soạn ?”.

Viết như thế, chứng tỏ TS VVQ chẳng hề đọc gì về nội dung văn bia ! Trong văn bia tháp tổ sư Nguyên Thiều có câu này : “Đệ tử trong sơn môn quỳ thỉnh cầu ta ban ký và minh. Ta… nhân đó làm bài ký cùng tiếp bài minh…”.

“Ta” (làm bài ký cùng tiếp bài minh) trong văn bia có đóng dấu “大 越 國 王 之 印 (Đại Việt quốc vương chi ấn)” là ai ?, tất nhiên phải là chủ nhân của cái ấn ấy, tức cũng chính là Đại Việt quốc vương ! Cho nên, cho dù không có 4 đại tự mà TS VVQ nói là “Chính 4 đại tự Đại Việt quốc vương 大 越 國 王 này mới khẳng định đây là văn bia do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chú (Thụ) biên soạn”, thì tôi vẫn “khẳng định” được đây là văn bia do chúa Nguyễn Phúc Thụ biên soạn !

Hóa ra 4 đại tự này cũng lại là 4 chữ thừa !

Xin TS VVQ cho biết : tôi mô tả có khách quan như TS VVQ mong mỏi không ?

Còn tôi, tôi cứ suy nghĩ mãi mà vẫn không thể hiểu nổi vì sao TS VVQ lại giải thích “NNC NAH dường như không để ý đến 4 chữ quan trọng nhất… Chính 4 đại tự Đại Việt quốc vương 大 越 國 王 này mới khẳng định đây là văn bia do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chú (Thụ) biên soạn”, rất mong TS VVQ tiếp tục giải thích chức năng ngữ pháp của 4 chữ “大 越 國 王 (Đại Việt quốc vương)” này để độc giả được hiểu rõ hơn !

  1. Ngụy biện với cả tiền nhân từng trực tiếp thấy “Hà Trung tự” !

Ở Bài VVQ-2, TS VVQ cho rằng : “nhiều ngôi chùa có vị thế khá quan trọng, nhưng sử sách có thể vì một số nguyên nhân khách quan và chủ quan nhất định nên không đề cập đến. Vì vậy, không cứ phải ghi chép ‘sắc tứ’ ở các bộ sử… thì các ngôi chùa mới là chùa ‘sắc tứ’. Bởi, trong các nguồn tư liệu thực tế hiện tồn… chúng tôi thấy khá nhiều chùa được ban ‘sắc tứ’ biển ngạch… nhưng không thấy sử sách ghi lại”. Giải thích như thế là đúng với lý luận, và TS VVQ cũng cho độc giả biết bản thân “chúng tôi may mắn được tiếp cận nguồn tư liệu Hán Nôm khá đồ sộ…”, nhưng cuối cùng vẫn không thấy TS VVQ đưa ra được một chứng cứ thực tế nào về sắc chỉ của chúa Nguyễn sắc tứ chùa, hoặc biển tên chùa có danh xưng gồm 5 chữ “敕 賜 河 中 寺 (Sắc tứ Hà Trung tự)” như lý luận của mình cả !

Hóa ra, lý luận của TS VVQ cũng chỉ là ngụy biện, vì nguồn tư liệu thực tế hiện tồn khá đồ sộ mà TS VVQ may mắn được tiếp cận, cũng không có một chứng cứ cụ thể nào như thế cả !

Ở Bài NAH-2, tôi đã có một mục lớn chứng minh “Thời Minh Vương chưa có ý niệm ‘sắc tứ’ chùa”, do đó thời này không thể có danh xưng gồm 5 chữ “敕 賜 河 中 寺 (Sắc tứ Hà Trung tự)” được !

Bởi, trên cùng một tấm bia, một chứng cứ khác mà TS VVQ chưa hề đọc là, Ninh vương Nguyễn Phúc Thụ viết Nguyên Thiều “奉 旨 住 持 河 中 寺 (phụng chỉ trú trì Hà Trung tự)”.

Nếu chùa Hà Trung đã được Minh Vương sắc tứ để có danh xưng (một danh từ riêng) gồm 5 chữ là “敕 賜 河 中 寺 (Sắc tứ Hà Trung tự)” như TS VVQ nói, vì sao trên cùng 1 tấm bia mà Ninh Vương không viết danh xưng giống nhau đều gồm 5 chữ, mà lại viết thiếu hai chữ “Sắc tứ” trong tên của chùa chỉ còn 3 chữ là “河 中 寺 (Hà Trung tự)” ?

Như đã nói, xem lại tất cả các tài liệu có liên quan như Đại Nam Nhất Thống Chí, Đại Nam Liệt Truyện, Phủ Biên Tạp Lục, Hải Ngoại Kỷ Sự, và cả trong nội dung văn bia tháp thiền sư Hoán Bích, đều dùng danh xưng chỉ 3 chữ “河 中 寺 (Hà Trung tự)”, lẽ nào tất cả Thích Đại Sán, Ninh Vương, Lê Quý Đôn… là những người đương thời đó từng thấy tên chùa và ghi lại, nhưng đều hiểu sai nên viết lại sai cả, mà chỉ có TS VVQ là người ngày nay, chưa từng thấy chùa, nhưng lại hiểu đúng, viết đúng ?

Như vậy, danh xưng tên riêng chùa trong câu “奉 旨 住 持 河 中 寺 (phụng chỉ trú trì Hà Trung tự)”, cho thấy không hề có chữ “sắc tứ”, có nghĩa rằng đối tượng được “sắc tứ” trong cụm 16 chữ Hán đã nói hoàn toàn không phải là “Hà Trung tự” ! Vậy thì đối tượng được “sắc tứ” ở đây là gì ?

Có lẽ vì cố tình kéo câu văn ra khỏi ngữ cảnh, nên TS VVQ không thấy rằng trên trán bia có 2 đại tự “敕 賜 (Sắc Tứ)” ! Tức là những gì dưới 2 chữ ấy đều được “sắc tứ”, mà những gì dưới 2 chữ ấy thì chính là “ký minh”, như cách hiểu của tôi vậy !

Những phân tích trên, cho thấy dù ở góc độ nào, cách giải thích của TS VVQ đều gây trục trặc trong nội dung của bức ngự thư làm chổ thì viết thiếu chữ, rồi chổ thì viết thừa chữ, tức là trong ngữ cảnh này, cách hiểu của TS VVQ hoàn toàn sai về ngữ pháp câu chữ Hán !

Còn cách hiểu của tôi thì không có chữ nào thiếu, mà cũng không có chữ nào thừa !

  1. Không hiểu cả ngữ pháp tiếng Việt :

Ở Bài NAH-2, tôi đã giải thích : “Như vậy, 16 chữ Hán ấy dịch là ‘Đại Việt quốc vương ban tặng ký minh cho tháp của thiền sư Hoán Bích của chùa Hà Trung’, hoặc cũng có thể dịch là ‘Bài ký minh được Đại Việt quốc vương ban tặng cho tháp thiền sư Hoán Bích ở chùa Hà Trung’.”

Dựa vào lời giải thích của tôi, TS VVQ trong Bài VVQ-3 cho rằng “… ở hai vế câu trên thì ông NAH xác định đối tượng được sắc tứ là ký minh, dưới thì ông diễn giải đối tượng được sắc tứ là THÁP thiền sư Hoán Bích. Rõ ràng, ông NAH tự mâu thuẫn với chính mình trong cách hiểu và xác định được đối tượng được sắc tứ”.

Tôi có tự mâu thuẫn như TS VVQ nhận định không, kính mời TS VVQ bàn lại đối tượng được “sắc tứ” trong tất cả các ví dụ của TS VVQ, mà tôi chỉ lấy hai ví dụ để phân tích :

-TS VVQ đưa ra bức hoành “Sắc tứ thọ quan” và giải thích : “Như vậy, đối tượng được sắc tứ ở đây chính là ông Hoàng Văn Bòng – người vừa được trăm tuổi, nên được vua Khải Định ban cho bức hoành giá trị này…”.

Nói lý theo cách luận của TS VVQ, thì cách giải thích của TS VVQ cũng “tự mâu thuẫn với chính mình trong cách hiểu và xác định đối tượng được sắc tứ”. Vì cũng chính TS VVQ khi thì nói “đối tượng được sắc tứ ở đây chính là ông Hoàng Văn Bòng”, khi thì nói “vua Khải Định ban cho bức hoành”, hoàn toàn tương tự như cách nói của tôi vậy.

Nhưng ở đây không hề có mâu thuẫn như TS VVQ nghĩ, mà do TS VVQ không hiểu ngữ pháp tiếng Việt : khi đã nói động từ “sắc tứ” (ban tặng, cho) thì phải giải thích đầy đủ ngữ pháp là : cho ai ? (và) cho cái gì ? Như ví dụ sau…

-TS VVQ đưa ra là một kỷ vật hình tròn ghi “Bảo Đại sắc tứ : cửu thập thọ kỳ”, và tác giả bàn luận : “Đối tượng được vua Bảo Đại ‘sắc tứ’ chính là vị thọ quan hoặc thọ dân vừa đến 90 tuổi, chứ không phải là các phần ghi chép (ký) hay các chất liệu và mỹ thuật… trên đồng tiền đó”.

Giải thích như thế không hiểu ngữ pháp tiếng Việt, bởi vì ví dụ này cho thấy vua Bảo Đại “sắc tứ” (ban tặng / cho) những người 90 tuổi (ban cho ai) một kỷ vật bằng bạc có ghi chữ (ban cái gì).

Tóm lại, muốn xét đối tượng của “sắc tứ”, xin TS VVQ xem lại ngữ pháp tiếng Việt để xét đầy đủ cả 2 đối tượng bổ nghĩa cho động từ : sắc tứ cho ai ?, và sắc tứ cái gì ? Và dựa vào đó thì xin TS VVQ nhận xét lại : câu dịch của tôi có chuẩn về ngữ pháp không ?

  1. Mượn danh khoa học : Ai xúc phạm ai ?

6.1. Bản sao và bản chính :

Bia của sư Nguyên Thiều có bản gốc ở tháp, hiện nay ở đường Võ Văn Kiệt, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Do bia đã bắt đầu bị mòn mờ, nên thời Tự Đức được sao lại đặt ở sân chùa Quốc Ân. Khi sao lại thì có sai một số chữ. Và khi sử dụng ảnh câu 16 chữ Hán, để độc giả dễ đọc rõ hơn, tôi đã cắt từ bản sao.

Trong Bài VVQ-3, tác giả mở một mục với tựa đề “Ông NAH phản biện bằng nguồn tư liệu thứ cấp, khác biệt so với bản chính” !

Ở mục này, tác giả VVQ đã bỏ công mô tả, chỉ ra sự khác biệt hàng trang giấy, nào là “Về trán bia, tai bia”, nào là “Về hoa văn trang trí”, nào là “Về sự sai biệt nội dung hai văn bia”…

Nhưng cái rất lạ trong hàng trang giấy mô tả sự khác biệt so với bản chính ấy, thì không hề thấy TS VVQ nói câu 16 chữ Hán đang cần bàn mà tôi trích dẫn ra từ bản sao, có khác biệt chữ nào so với bản chính không ?

Những điều tôi vừa kể trên, xin TS VVQ cho biết : tôi kể có khách quan không ?, có thêm, có bớt, có “xúc phạm cá nhân” gì TS VVQ không ?

Và tôi cũng xin TS VVQ cho biết thêm :

– Câu 16 chữ Hán tôi trích ở bản sao mà tôi trích dẫn từ bản sao, có “khác biệt so với bản chính” như TS VVQ nói không ?

– Những khác biệt nào là “Về trán bia, tai bia”, nào là “Về hoa văn trang trí”… được kể ra cho dài dòng ấy, có liên quan gì đến cấu trúc ngữ pháp câu 16 chữ Hán đang cần bàn ?

Vậy khi mở mục “Ông NAH phản biện bằng nguồn tư liệu thứ cấp, khác biệt so với bản chính”, có phải TS VVQ đã mượn danh khoa học để xúc phạm tôi không ? Rất mong TS VVQ vì tinh thần khoa học đã nêu, xin trả lời rõ ràng và đầy đủ các câu hỏi của tôi !

6.2. “Ông NAH cố ý làm sai lệch sử liệu” ?

Khi nghiên cứu Khảo cổ học Lịch sử, rất cần có sự đối chiếu giữa sử liệu và thực tế, chứ không thể nhất nhất tin vào sử liệu. Để chứng minh sử cũng có thể chép sai, tôi đã đưa ra 6 chứng cứ sử chép sai để nhận xét : “Sử chép sai cũng rất nhiều !”.

6.2.1. Để tỏ ra tôn trọng lịch sử, ở Bài VVQ-3, TS VVQ mở mục : “Đề nghị ông NAH cần rất cẩn trọng khi phê phán lịch sử” !

Tôi đưa ra 6 chứng cứ sử chép sai để nhận xét : “Sử chép sai cũng rất nhiều !”, TS VVQ chỉ mới đối chứng 1 chứng cứ ấy khác hẳn so với tài liệu mà TS VVQ đưa ra, còn 5 chứng cứ kia thì không có nhận xét gì, lại lơ đi, không cho độc giả biết 5 chứng cứ của tôi đúng hay sai, rồi kết luận tôi “vì muốn đạt được ý riêng mà cố ý làm sai lệch sử liệu” !

Xin TS VVQ cho biết : tôi kể như vậy có khách quan không ?, có thêm, có bớt gì không ?, có “xúc phạm cá nhân” gì không ?

Vậy xin TS VVQ cho biết thêm :

– 5 chứng cứ còn lại tôi đưa ra có đúng không ?

– Về mặt số học, số 2 đã chỉ số nhiều, vậy với 5 chứng cứ đã đủ để nhận xét “Sử chép sai cũng rất nhiều !” chưa ?

Như vậy, TS VVQ đã cố tình che mắt độc giả 5 chứng cứ của tôi, xin TS VVQ cho biết, TS VVQ làm như vậy thì có phải người trung thực không ?, có khách quan như tinh thần khoa học mà mình nêu ra không ?

Nhưng chứng cứ mà TS VVQ từng đem ra đối chiếu, có sai không ?, kính mời độc giả cho phép tôi giải trình…

6.2.2. Đại Nam Nhất Thống Chí có 2 bản, một bản soạn thời Tự Đức và một bản soạn thời Duy Tân, do chép vào 2 thời đại xã hội khác nhau nên nội dung có khác nhau rất nhiều.

Khi tôi đưa ra chứng cứ sử chép sai về chùa Báo Quốc, tôi lấy bản dịch của Phạm Trọng Điềm dịch từ bản Đại Nam Nhất Thống Chí viết thời Tự Đức có chép sai mốc thời gian một sự kiện lịch sử, và lấy đó làm 1 trong 6 chứng cứ để nói “Sử chép sai cũng rất nhiều !”.

Nếu TS VVQ muốn chứng minh tôi “vì muốn đạt được ý riêng mà cố ý làm sai lệch sử liệu” thì phải đưa ra bản chữ Hán thời Tự Đức để so sánh xem tôi trích dẫn có đúng không ? Đằng này, TS VVQ không hề biết Đại Nam Nhất Thống Chí có bản thời Tự Đức, lại đi lấy bản chữ Hán viết thời Duy Tân viết hoàn toàn khác hẳn để làm chứng, là sai phương pháp đối chiếu !

Vậy xin TS VVQ cho biết thêm :

– Sách chép thời Tự Đức mà tôi trích dẫn, có phải là một sử liệu không ? Hay là theo TS VVQ, chỉ có sách thời Duy Tân mới là sử liệu, còn sách thời Tự Đức thì không phải là sử liệu ?

– Khi dẫn ra sách thời Tự Đức chép sai, tôi nhận xét “Sử chép sai !”, nhận xét của tôi đúng hay sai ?

– Tôi có “vì muốn đạt được ý riêng mà cố ý làm sai lệch sử liệu” như TS VVQ nói không ?

Vậy khi mở mục “Đề nghị ông NAH cần rất cẩn trọng khi phê phán lịch sử” và cho rằng tôi “vì muốn đạt được ý riêng mà cố ý làm sai lệch sử liệu” !, có phải TS VVQ đã mượn danh khoa học để xúc phạm tôi không ?

Rất mong TS VVQ vì tinh thần khoa học đã nêu, xin trả lời rõ ràng và đầy đủ các câu hỏi của tôi !

  1. TS VVQ lại tiếp tục cố ý thêm chữ và thay đổi nguyên trạng chứng cứ, để làm sai lệch nội dung văn bản gốc theo ý đồ cá nhân :

7.1. Không hiểu trọng tâm vấn đề…

Những phần kể trên, ta thấy TS VVQ không đi vào trọng tâm vấn đề mà chỉ nói loanh quanh không đâu vào đâu…

Ở Bài VVQ-2, sau khi cố ý cắt xén và thêm chữ để “di thi giá họa” tôi, TS VVQ cho độc giả hay “chúng tôi may mắn được tiếp cận nguồn tư liệu Hán Nôm khá đồ sộ…”, và kể ra rất nhiều tên chùa được sắc tứ, trong đó có 3 tên là “Sắc tứ Thiên Mụ tự”, “Sắc tứ Linh Mụ tự” và “Sắc tứ Diệu Đế tự”, mà sự thật thì không thể có những danh xưng này ! Vì vậy tôi mới mỉa mai như đã kể.

Một trong những trọng tâm vấn đề ở đây là TS VVQ không phân biệt được chùa “Ngự kiến” và chùa “Sắc tứ” là hai hệ thống chùa hoàn toàn khác nhau, nên tên các chùa từ “Ngự kiến Thiên Mụ tự” và “Ngự kiến Diệu Đế quốc tự”, TS VVQ viết sai thành “Sắc tứ Thiên Mụ tự”, “Sắc tứ Linh Mụ tự”, “Sắc tứ Diệu Đế tự” !

Để bác bỏ danh xưng “Ngự kiến Thiên Mụ tự” trên bia do tôi đưa ra, TS VVQ đưa ra chứng cứ danh xưng “Ngự kiến Thiên Mụ thiền tự” trên chuông chùa !

Thật khó hiểu : Tôi nói Thiên Mụ là chùa “Ngự kiến”, còn TS VVQ nói là chùa “Sắc tứ”, nhưng TS VVQ lại đưa ra một chứng cứ “Ngự kiến Thiên Mụ thiền tự” để cho rằng tôi nói sai tên chùa từ “Ngự kiến Thiên Mụ thiền tự” thành “Ngự kiến Thiên Mụ tự” !

 

 

 

7.2. “Để rộng đường dư luận”…

Ở bài trả lời tiếp theo là Bài VVQ-3, TS VVQ “xin cung cấp lại các ảnh có chữ ‘Sắc tứ Thiên Mụ tự’, ‘Sắc tứ Linh Mụ tự’, ‘Sắc tứ Diệu Đế’… để rộng đường dư luận (các ảnh 16, 17 và 18)”, và sau đó TS VVQ loan báo với độc giả rằng “Bằng các ảnh tư liệu đó, tôi khẳng định rằng câu chuyện sắc tứ chùa Thiên Mụ, chùa Linh Mụ, chùa Diệu Đế là có thực” !

TS VVQ đã muốn rằng “để rộng đường dư luận”, tức cho phép độc giả nói thẳng, nói thật không sợ “ngôn từ sử dụng thiếu mực thước, xúc phạm cá nhân”, thì tôi xin có dư luận rộng đường về sự “có thực” của TS VVQ như sau :

7.2.1. Ảnh 16 là một mộc bản (có thể là kinh Phật ?), công bằng mà nói, cũng có cụm từ 5 chữ “Sắc tứ Thiên Mụ tự”, nhưng TS VVQ không cho biết phía dưới 5 chữ đó có nội dung gì, mà như vậy cũng không rõ ngữ pháp ngữ nghĩa như thế nào !

Và cho dù chỉ có 5 chữ “Sắc tứ Thiên Mụ tự”, thì chúng chỉ có giá trị tham khảo chứ không có giá trị quyết định. Bởi như TS VVQ cũng từng nói, những chữ “ngự, sắc tứ…” là những chữ chỉ có vua chúa mới được dùng. Vậy thì hai cái tên “Ngự kiến Thiên Mụ thiền tự” (trên chuông) và “Ngự kiến Thiên Mụ tự” (trên bia) đều do chính tay Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Chu viết, tất nhiên là chữ dùng chính danh, không thể viết sai ; còn cái danh xưng “Sắc tứ Thiên Mụ tự” trên mộc bản, do dân gian khắc, chứ không phải do chính tay vua chúa viết, như vậy 5 chữ “Sắc tứ Thiên Mụ tự” vẫn có thể do dân gian không hiểu rõ vấn đề nên khắc nhầm từ “Ngự kiến Thiên Mụ tự” mà ra, không thể lấy đó làm chứng cứ chính danh được !

7.2.2. Ảnh 17 và 18, chứng cứ được đưa ra là 2 vật khác nhau (linh vị và bia), nhưng viết giống nhau là “Sắc tứ diệu đế tăng cang…”, không hề có “Sắc tứ Diệu Đế tự” như TS VVQ nói là “có thật” !, xin TS VVQ nên tự trọng về uy tín cá nhân, đừng nên không mà nói có như thế !

Điều đáng nói là, chữ trên cả 2 ảnh này chỉ là “Sắc tứ diệu đế tăng cang…” đều bị TS VVQ tự ý thêm chữ “tự” vào thành “Sắc tứ Diệu Đế [tự] tăng cang…” ! “Diệu đế” là một thuật ngữ Phật giáo, được dùng rộng rãi chứ không phải chỉ có một danh từ riêng là tên chùa, xin TS VVQ đừng cố ý thêm chữ vào làm sai lệch nội dung văn bản như đã từng cố ý thêm chữ “trực tiếp soạn” vào đoạn văn của tôi như thế !

Mà cho dù có chữ “tự” đi nữa thì…

Điều đáng nói hơn nữa là, câu “Sắc tứ diệu đế tăng cang…” ở bia viết làm 2 dòng, dòng viết ngang trên cùng là hai chữ “Sắc Tứ”, sau đó xuống hàng và viết một hàng dọc là “Diệu đế tăng cang…”, như vậy đây là cấu trúc ngữ pháp cụm động từ (sắc tứ) – danh từ (Diệu đế tăng cang…).

 

Nhưng TS VVQ đã bất chấp nguyên trạng cấu trúc ngữ pháp ngữ nghĩa sẵn có, lại cố ý thêm chữ và bóp méo thành cấu trúc cụm danh từ 1 (Sắc tứ diệu đế [tự]) – danh từ 2 (tăng cang…), tức lại càng làm sai lệch chứng cứ theo ý đồ cá nhân !

Xin TS VVQ cho biết : Cố ý thêm chữ và thay đổi nguyên trạng của chứng cứ, có phải là trung thực trong khoa học không ?

7.2.3. Cuối cùng là, tôi đã xem ảnh 16, 17, 18 và toàn bộ ảnh trong Bài VVQ-3, nhưng không hề có ảnh nào có cụm từ “Sắc tứ Linh Mụ tự” như TS VVQ nói là “có thật” !

Đã tự cho rằng mình “phục vụ cho sự phát triển khoa học”, xin TS VVQ nên tự trọng về uy tín cá nhân, nên trung thực thì người ta mới tôn trọng, chứ đừng nên không mà nói có như thế !

Nói ra hai chữ “có thực” ấy, TS VVQ không thấy ngượng sao ?

Mà dù sự thật có các danh xưng “Sắc tứ Thiên Mụ tự”, “Sắc tứ Linh Mụ tự” và “Sắc tứ Diệu Đế tự” đi nữa, thì xin TS VVQ cho biết thêm : – Chúng có liên quan gì đến cấu trúc ngữ pháp câu 16 chữ Hán ấy ?

Tạp chí Huế Xưa & Nay không tiếp tục đăng bài của TS VVQ mà thông báo rằng “tạm ngưng đăng tải…”, tuy không nêu rõ lý do, nhưng cũng có thể hiểu được !

*

Để thấy tôi kể có khách quan như TS VVQ mong mỏi không, kính mời độc giả nên tìm các bài của cả 2 bên rồi đối chiếu cụ thể từng vấn đề thì sẽ rõ ; và tôi thấy không cần phải có kết luận làm gì !

Riêng về TS VVQ, tác giả kết luận ở Bài VVQ-2 “xác quyết rằng chùa Hà Trung từng được ban sắc tứ, với tên gọi đầy đủ là ‘Sắc tứ Hà Trung tự’ 敕 賜 河 中 寺…”, còn ở Bài VVQ-3 thì “tôi xin khẳng định lại : 敕 賜 河 中 寺 (Sắc tứ Hà Trung tự : chùa Sắc tứ Hà Trung) là hoàn toàn chuẩn xác”.

TS VVQ nên hiểu và nhớ rằng, tôi trao đổi với nội dung là “nhà nghiên cứu VVQ đã vô ý hiểu nhầm cấu trúc ngữ pháp chữ Hán !”, nên cho dù TS VVQ có tìm ra được sắc chỉ “Sắc tứ Hà Trung tự”, thì sắc chỉ này cũng chẳng liên quan gì đến việc phân tích cấu trúc ngữ pháp câu 16 chữ Hán đã dẫn cả !

Do vậy, nếu “hoàn toàn chuẩn xác” như TS VVQ đã “xác quyết” và đã “khẳng định lại” như thế, xin TS VVQ cho biết thêm : Cấu trúc ngữ pháp câu “大 越 國 王 敕 賜 河 中 寺 煥 碧 禪 師 塔 記 銘 (Đại Việt quốc vương sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh)” như thế nào ? Chủ ngữ ở đâu ? động từ là đâu ? bổ ngữ là đâu ? Chức năng ngữ pháp của 4 chữ “大 越 國 王 (Đại Việt quốc vương)” là gì ?

Đây mới chính là trọng tâm vấn đề, rất mong Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang tiếp tục giải thích, trả lời rõ ràng và đầy đủ tất cả các câu hỏi, để độc giả được học hỏi thêm.

 

                                                                  Thư Hương Các, Xuân phân, 2017.

          NAH

5 thoughts on “Bác sĩ NGUYỄN ANH HUY – THẤY GÌ QUA VIỆC PHÂN TÍCH NGỮ PHÁP CÂU “ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG SẮC TỨ, HÀ TRUNG TỰ HOÁN BÍCH THIỀN SƯ THÁP KÝ MINH”?

  1. Bài đăng sót hình bia chùa Thiên Mụ có chú thích :
    Tên “Ngự kiến Thiên Mụ tự” trên bia do Minh Vương viết,
    chứ không hề có tên “Sắc tứ Thiên Mụ tự” như TS VVQ nói.

    Số lượt thích

  2. Pingback: ĐỂ HIỂU RÕ HƠN VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC “SẮC TỨ” (trao đổi cùng ông Nguyễn Anh Huy) | Bình Nguyên - Võ Vinh Quang

  3. Bài ĐỂ HIỂU RÕ HƠN VỀ ĐỐI TƯỢNG “SẮC TỨ” (trao đổi cùng ông NAH) của TS VVQ đăng trên trang web riêng của TS VVQ vào ngày 8/4/2017, tức sau bài của tôi (7/4/2017), hoàn toàn khác hẳn bài đã đăng trên tạp chí Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Đà Nẵng số 86 (gọi tắt là Bài VVQ-3) phát hành tháng 3/2017.
    Do vậy, khi đối chiếu ý kiến của tôi, phải so sánh lại từ bài đã đăng trên tạp chí Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Đà Nẵng số 86 (gọi tắt là Bài VVQ-3) phát hành tháng 3/2017, chứ không thể đối chiếu với bài đăng trên trang web riêng của TS VVQ vào ngày 8/4/2017.
    Trong bài mới đăng trên trang web riêng của TS VVQ vào ngày 8/4/2017, có Ảnh 20: Long vị (trái), bia tháp (phải) Hòa thượng Liễu Chơn Từ Hiếu (chùa Quốc Ân), viết rất rõ là “Sắc tứ Linh Mụ tự…” 敕賜靈姥寺.
    Rõ ràng là long vị và bia tháp viết không phải chỉ 5 chữ “Sắc tứ Linh Mụ tự” mà còn viết câu rất dài… nhưng đã bị tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang cắt lấy chỉ 5 chữ “Sắc tứ Linh Mụ tự” mà không xét ngữ pháp ngữ nghĩa toàn bộ câu văn, là một hình thức CẮT XÉN LÀM SAI NỘI DUNG TÀI LIỆU GỐC như TS VVQ đã từng làm nhiều lần để LỪA ĐỘC GIẢ !
    Lại một lần nữa cho thấy tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang CẮT XÉN TÀI LIỆU ĐỂ LỪA ĐỘC GIẢ !

    Số lượt thích

  4. Ông Huy càng điên tiết cuống cuồng thì càng tự chuốc nhục vào mình thôi. Ông nghiên cứu cái gì mà chẳng hề có nổi 1 tư liệu, chẳng hiểu gì về khái niệm mình dùng? Ông thích tự ý xuyên tạc, thích tự vẽ vời ý tứ câu chữ cho hợp với ý muốn của ông thì ông cứ làm, nhưng đừng bắt mọi người uốn theo ông, uốn mãi là gãy lưng đó.

    Ông NAH cố lên, học lại tiếng Việt để hiểu và sử dụng từ ngữ tiếng Việt, hiểu ngữ pháp tiếng Việt cái đã. Rồi ông hãy nói chuyện về ngữ pháp tiếng Hán. Và tôi cũng nhắn với ông luôn: HÃY BỎ CÁI TRÒ ĐẠO VĂN NGƯỜI KHÁC VÀ XUYÊN TẠC SỬ SÁCH đi ông ạ (mà nếu lỡ có ăn cắp rồi, đăng tạp chí rồi, chứng cớ sờ sờ ra đó rồi, tôi góp ý với ông rồi là ông nên xin lỗi chính thức, nhưng ông lại làm trò mèo che đậy thì điều đó là không giấu giếm được ai đâu)
    Ông cũng nên soi lại cho kỹ nhé, tôi đã đưa toàn bộ bài viết dạng bản thảo lên trang blog của tôi, phần cuối có upload toàn bộ bài viết đã đăng ở tạp chí Phát triển Kinh tế XH Đà Nẵng.
    https://vovinhquang.wordpress.com/2017/04/08/de-hieu-ro-hon-ve-doi-tuong-duoc-sac-tu-trao-doi-cung-ong-nguyen-anh-huy/

    https://vovinhquang.wordpress.com/2017/04/08/ban-ve-hai-chu-sac-tu-%e6%95%95%e8%b3%9c-trong-van-bia-sac-tu-ha-trung-tu-hoan-bich-thien-su-thap-ky-minh/

    Số lượt thích

  5. Như tôi đã nói, so sánh 2 bài ĐỂ HIỂU RÕ HƠN VỀ ĐỐI TƯỢNG “SẮC TỨ” (trao đổi cùng ông NAH) của TS VVQ đăng trên trang web riêng của TS VVQ vào ngày 8/4/2017, tức sau bài của tôi (7/4/2017), bài đã đăng trên tạp chí Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Đà Nẵng số 86 (gọi tắt là Bài VVQ-3) phát hành tháng 3/2017 thì tuy là một nhưng có nhiều nội dung hoàn toàn khác nhau.
    Khi tôi trao đổi là trao đổi với bài đã đăng trên tạp chí Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Đà Nẵng số 86, do đó độc giả nên đối chiếu với bài này, chứ không thể đối chiếu với bài đăng trên trang web riêng của TS VVQ vào ngày 8/4/2017, tức sau bài của tôi (7/4/2017).
    TS VVQ nên viết thành bài trình bày các ý kiến của mình, và trả lời đầy đủ các câu hỏi của tôi, chứ đừng tránh né NỘI DUNG CHÍNH là phân tích ngữ pháp câu 16 chữ Hán, mà hướng qua một nội dung khác là LẠC ĐỀ !

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s