Hà Văn Thùy – TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CHO VIỆT NAM

Do vai trò lớn lao của giáo dục đối với sự tồn vong của dân tộc, nhiều người muốn có một triết lý giáo dục cho đất nước hôm nay.  Vì lẽ “ôn cố tri tân”, một câu hỏi nảy sinh: Cha ông ta xưa có triết lý giáo dục không? Tuy nhiên, triết lý giáo dục là khái niệm mới, không thể tìm được nguyên ngữ trong cổ thư. Do vậy, ta chỉ có thể tìm một cách gián tiếp thông qua nội dung và mục đích giáo dục của tiền nhân.

  1. Nội dung và mục đích giáo dục của người xưa

Khi suy ngẫm về nền giáo dục truyền thống ta thấy, nội dung dạy và học của người xưa gồm có ba ban: văn, võ và nghệ.

Ban Văn có: Nho, Y, Lý, Số.

Nho cố nhiên là chữ Nho, nhưng qua chữ Nho để học Tứ thư, Ngũ kinh, Sử, Tử . Như vậy học Văn có nghĩa là học đạo Nho, đạo của thánh hiền.

Y là y hoc

: Lý là Dịch lý và Địa lý. Học về hình sông, thế núi mà nội dung quan trọng là phong thủy.

Số: Tử vi đẩu số. Nói nôm na, đây là một môn dạy để xem bói. Đó là khoa học dự đoán của phương Đông cổ, một tri thức rất cần để khám phá vũ trụ, nhân sinh, hiểu mình, biết người.

Ban Võ gồm: Côn, Quyền, Kỵ, Xạ. Đó là bốn môn đánh côn, múa quyền (võ thuật), cưỡi ngựa và bắn cung. Cố nhiên, ở cấp cao, được dạy về binh pháp, kỹ thuật xây thành, phá lũy.

Nghệ là nghệ thuật: gồm cầm, kỳ, thi, họa. Học đánh cờ, âm nhạc, thưởng thức thơ văn, bình thơ văn và làm thơ, viết văn. Họa bao gồm hình khối, đường nét, màu sắc, biết thưởng thức vẻ đẹp của tranh và dạy vẽ tranh.

Ba ban với 12 môn học này lại được đặt trên nền móng vững chãi của Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Từ nội dung dạy và học cùng thực tế đào tạo của nền giáo dục trong quá khứ, ta có thể suy ra mục đích giáo dục của cha ông là đào tạo con người toàn diện. Toàn diện ở đây, không chỉ là “văn võ song toàn” theo câu nói cửa miệng mà chiều sâu là đào tạo người quân tử, những kẻ sỹ ưu tú của xã hội. Chính nền giáo dục đó đã tạo ra những người biết tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Có sự thực là lý tưởng cao nhất của nhiều người đi học là để đi thi, làm quan với hấp lực của vinh quy bái tổ, võng anh đi trước, võng nàng theo sau… Tuy nhiên, do số lượng quan chức rất ít và qua thi cử nghiêm nhặt nên số người đỗ đạt làm quan quá nhỏ so với số người đi học. Do hiểu thực tế này nên những người cố học để làm quan không nhiều. Phần lớn các phụ huynh nhận thức rằng “nhân bất học bất tri lý”, nên khi đưa con tới thầy học thường nói: “Xin cụ cho cháu ít chữ thánh hiền để mong sau này cháu nên người.” Không ít người thực dụng hơn, cho con đi học để sau này đọc được cái văn tự

Qua những kỳ thi, người đỗ được xếp vào ba bậc: Tú tài là người tài năng và ưu tú. Dù không được làm quan nhưng cũng là kẻ danh giá trong cộng đồng. Cử nhân là người được cử ra lãnh việc nước, tức làm quan. Bậc thứ ba là Tiến sỹ: kẻ sỹ được tiến cử lên vua dùng.

Những người không đỗ hay đỗ mà không làm quan, trở lại cộng đồng, làm người dân có học. Một bộ phận khá lớn trong số họ trở thành thầy đồ, gõ đầu trẻ kiếm sống. Ta từng biết tới những thày giáo nổi tiếng về đức độ với những lớp học trò hiển đạt. Một số khác làm thày thuốc. Lê Hữu Trác là một người trong số này. Vốn từng làm tướng đánh trận nhưng thất bại, cụ suy ngẫm sự đời, chuyển sang làm thuốc. Một số khác, theo sở trường của mình, làm thày địa lý, thày bói. Từ sau  năm 1954, xã hội ta quan niệm, bói toán là mê tín dị đoan nên ra sức xóa bỏ. Nhưng về bản chất, đó là khoa học dự đoán, sinh ra, và tồn tại trong mọi xã hội của loài người. Cũng như mọi nghề khác, thày bói có hay có dở nhưng thực sự đó là nghề không thể thiếu trong xã hội, một kiểu tư vấn giúp chỉ dẫn những điều phân vân trong cuộc sống. Cũng do được học Nho, thấm Ngũ thường và phải chăm lo cho thương hiệu của mình nên các thầy bói, thầy tử vi, phong thủy thường khuyên thân chủ những điều nhân nghĩa, giúp cho con người ổn cố tâm linh. Ta từng biết, về cuối đời, nhà thơ nhà báo cự phách Tản Đà ra chợ xem Tử vi độ nhật.

Việc học ngày xưa được thực hiện rất dân chủ. Người có chữ tự đứng ra mở trường, thu hút học trò trong làng. Những ông thầy có tiếng thì học trò nơi khác tìm đến học. Ý thức về việc học của cộng đồng rất cao. Không chỉ ở tập quán tôn sư trọng đạo mà còn trở thành nền nếp lâu bền trong xã hội. Làng, giáp có học điền dùng hoa lợi trợ giúp học trò nghèo. Từng họ cũng có quỹ khuyến học giúp con em ăn học.

Người có học, dù đỗ đạt hay không thì trong bụng cũng có ít “chữ thánh hiền” cùng với đạo lý sống nhân nghĩa lễ trí tín. Theo tập quán, những vị này có “góc chiếu trong đình”, được dân làng tôn trọng vì nói điều hay, làm phải lẽ. Những người có học này trở thành những “hạt nhân minh triết” của cộng đồng. Do có chữ, biết lý lẽ nên họ thường tham vấn cho dân quê trong những tranh chấp, kiện tụng. Có khi ra tay, có khi dấu mặt, họ giúp cho dân làng chống lại đám cường hào cậy quyền hiếp đáp người yếu thế. Nhờ vậy, trong mức độ nào đó, bảo đảm được không khí dân chủ của làng xã. Nay ta say mê thưởng thức những câu ca dao, tục ngữ và quen miệng nói rằng đó là sáng tác của dân gian. Nhưng dân gian là ai? Chắc phần lớn là của những người có học này. Chẳng hạn câu ca Tháng Tám có chiếu vua ra/Cấm quần không đáy người ta hãi hùng ban đầu hẳn là của một ông đồ làm ra để châm biếm lệnh vua rồi sau đó lưu truyền trong dân. Ta gặp ở nhiều địa phương có “tứ vật” là những tổng kết bằng chữ nho không chỉ thâm thúy, chính xác mà có nhịp điệu dễ nhớ. Chẳng hạn như Thái Bình có Thụy Anh tứ vật: “Vật du Kha Lý thị, vật thính Ô Trình ngôn, vật thú Diêm Điền thê, vật giao Hổ Đội hữu.”Những sản phẩm như vậy làm nên văn hóa địa phương.

Trong xã hội cũ, ngoài trường học, các làng lại có văn chỉ là nơi những người có học dùng để bình văn, thường có sự tham gia của những văn nhân nơi khác tới. Đó là một thứ câu lạc bộ văn chương thời cổ, một sinh hoạt văn hóa tỏa ánh sáng ra cộng đồng.

Qua nội dung và mục đích giáo dục nêu trên, ta thấy, nền giáo dục truyền thống Việt Nam hay phương Đông cổ có triết lý giao dục rất rõ ràng: giáo dục nhằm đào tạo con người toàn diện về văn, võ và hiểu biết nghệ thuật trên nền của đạo lý nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

  1. Triết lý giáo dục thời hiện đại

Nửa thế kỷ trở lại, do hoàn cảnh lịch sử, trên đất nước ta có hai nền giáo dục với hai triết lý giao dục khác nhau.

Tháng Năm 1945 vua Bảo Đại tuyên bố độc lập. Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời với Bộ trưởng Giáo dục Hoàng Xuân Hãn. Trong vòng 100 ngày, Bộ Quốc gia giáo dục của chính phủ Trần Trọng Kim đã ban hành một chương trình giáo dục vừa đậm tinh thần dân tộc, vừa nhân bản và tiến bộ. Chương trình này tồn tại ở miền Bắc cho tới 1960.

Ở miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng hòa kế thừa lịch sử văn hóa dân tộc từ xa xưa, không tạo nên những đứt gẫy lịch sử nên mọi quan niệm về lịch sử, văn hóa, giáo dục được duy trì theo truyền thống. Năm 1958, những nhà giáo dục hàng đầu của miền Nam đề xuất triết lý giáo dục là Dân tộc, Nhân bản và Khai phóng.

Về tiêu chí dân tộc:

Dân tộc là tập hợp những chuẩn mực khác nhau, được nhìn nhận khác nhau theo từng góc độ quyền lợi của những thành phần khác nhau trong cộng đồng. Nhưng do cộng đồng được hình thành từ lâu đời, gắn bó trong những lợi ích chung nên tạo thành khối thống nhất. Do chính quyền miền Nam không thực thi những đảo lộn “cách mạng” mà duy trì lịch sử văn hóa truyền thống nên lợi ích vật chất và tinh thần của mọi thành phần trong cộng đồng được bảo tồn như đã có trong quá khứ. Do vậy, tiêu chí dân tộc là tiêu chí thống nhất, nên trong cộng đồng không nảy sinh quan niệm mâu thuẫn về dân tộc.

Nhân bản:

Nhân bản là tiêu chí nền tảng trong truyền thống văn hóa Việt. Đứng đầu trong Ngũ thường là Nhân. Do vậy, tiêu chí Nhân bản đứng hàng thứ hai sau Dân tộc là phù hợp.

Khai phóng:

Khai phóng là tự do, là cởi mở, là giải phóng. Tiêu chí này rất cần với xã hội chưa phát triển và khép kín như Việt Nam sau khi thoát khỏi ách thực dân và quân chủ.

Do chọn đúng triết lý giáo dục, trong 30 năm tồn tại, miền Nam Việt Nam có một nền giáo dục tiến bô, hòa nhập với thế giới văn minh đồng thời bảo tồn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và giữ được phẩm chất nhân bản của con người và xã hội.

Triết lý giáo dục ở miền Bắc.

Năm 1943, Đảng Cộng sản Việt Nam công bố Đề cương Văn hóa, trong đó đề xuất phương châm Dân tộc, Khoa học, Đại chúng.

Ba phương châm vận động cách mạng nêu trên cũng có thể gọi là triết lý về văn hóa, giáo dục. Nó rất phù hợp trong giai đoạn trước cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945. Trong hoàn cảnh bị thống trị của đế quốc Pháp, yếu tố dân tộc được nhấn mạnh để đáp ứng yêu cầu động viên, đoàn kết toàn dân chung sức chung lòng giải phóng đất nước. Trong điều kiện đất nước còn lạc hậu lúc đó, tiêu chí khoa học cũng rất phù hợp với lòng dân mong muốn đất nước phát triển đạt tới khoa học của thế giới văn minh. Yếu tố đại chúng càng tỏ ra thích hợp vì mục tiêu của giáo dục là hướng tới quảng đại quần chúng lao động nghèo khổ, là động lực của cách mạng.

Sau khi giành được chính quyền trên miền Bắc, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn duy trì triết lý giáo dục trên. Tuy nhiên, lúc này xã hội miền Bắc có những biến chuyển sâu sắc. Với cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất, khối đoàn kết dân tộc bị phân chia thành những giai cấp đối kháng. Tiếp đó là chuyên chính vô sản được xác lập, đưa giai cấp công nông lên địa vị thống trị xã hội. Các “tầng lớp trên” trở thành đối tượng của cách mạng, bị tước những quyền cơ bản về vật chất và tinh thần. Dân tộc cũng như lòng yêu nước là độc quyền của thành phần chính thống.

Mặt khác, từ thập kỷ 1960, lịch sử Việt Nam cũng được viết lại theo quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác. Trong đó có ba vấn đề lớn được đánh giá lại:  1. Triệu Đà là giặc cướp nước, nhà Triệu bị loại khỏi chính sử Việt Nam. 2. Nhà Nguyễn bị coi là triều đại bán nước, có tội với dân tộc. 3. Không có Kinh Dương Vương và Nhà nước Xích Quỷ. Sau năm 1975 thì nảy sinh mâu thuẫn khi nhận định về Quốc-Cộng. Còn nhớ, hơn 30 năm trước, trong Hội thảo khoa học về Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, một vị giám đốc sở văn hóa ở miền Tây hỏi tôi: “Anh người Hà Nội phỏng?” Tôi chưa kịp trả lời thì ông nói luôn: “Tại sao mấy anh cứ áp đặt quan điểm của mấy anh lên tụi tui?” Uẩn ức trong lòng người là có thực. Một đất nước thống nhất phải được thống nhất ở tinh thần, tư tưởng, tình cảm và tâm linh. Muốn có sự thống nhất như vậy, trước hết phải thống nhất về lịch sử. Một khi lịch sử còn tranh cãi thì dân sẽ thành dân Babel.

Không những thế, quan niệm về truyền thống dân tộc cũng thay đổi. Rất nhiều phẩm tính của dân tộc từ xưa vẫn được nâng niu trân quý bây giờ bị coi là “sản phẩm của phong kiến lạc hậu, phản động”. Rất nhiều đình, đền bị dỡ, bia đá bị đập phá, đem nung vôi, sách chữ Nho bị đốt. Những gia đình có nền nếp dạy trẻ biết thưa gửi, chào mời bị cho là phong kiến. Những lời dạy về nhân, nghĩa, lễ… bị coi là cổ hủ. Nhiều giá trị xã hội bị đảo lộn: xấu thành tốt, tốt thành xấu. Do vậy tiêu chí dân tộc không còn mang giá trị truyền thống, không đại diện cho toàn thể nhân dân.

Khoa học về thực chất, chỉ là một khẩu hiệu, không hề có ý nghĩa một phương châm hay triết lý giáo dục. Mặt khác, khoa học là một khái niệm luôn biến động: cái hôm nay được gọi là khoa học thì ngày mai trở nên lạc hậu. Lấy cái “dĩ biến” làm tiêu chí sẽ dẫn tới sự tùy tiện.

Đại chúng.

Trong giai đoạn nào đó của vận động cách mạng, thì tiêu chí đại chúng giữ vai trò trung tâm. Nhờ vậy, trong thời gian không dài, giáo dục ở miền Bắc đưa đại bộ phận dân chúng từ thất học tới biết đọc biết viết rồi có trình độ học vấn phổ thông. Nhưng khi tiêu chí đó kéo dài sẽ dẫn tới cào bằng, dàn trải, thiếu người tài. Thiếu những đỉnh cao dẫn dắt, xã hội tất rơi vào trì trệ.

Không chỉ bất cập trong triết lý mà nền giáo dục miền Bắc và ở cả nước sau 1975 còn có sự sai lầm lớn về phương pháp. Do nhà nước coi giáo dục là công cụ của chuyên chính vô sản nên để chính trị can thiệp quá sâu, biến rất nhiều môn học, nhất là Văn, Sử, khoa học nhân văn thành những môn chính trị giáo điều khô cứng. Cũng do muốn kiểm soát giáo dục một cách duy ý chí mà nhà trường chuẩn hóa giáo trình, giáo án, xuất hiện những bài mẫu, sách mẫu, giáo viên mẫu… khiến cho cả người dạy lẫn người học theo quy chế rập khuôn nghiêm nhặt, không còn chỗ để sáng tạo. Thực tế chứng tỏ nền giáo dục như thế đã thất bại.

III. Tìm triết lý giáo dục mới.

Như trình bày ở trên, không chỉ triết lý giáo dục của miền Bắc đã lạc hậu mà hôm nay triết lý giáo dục của miền Nam cũng không còn phù hợp. Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa, việc mở mang, khai phóng là đòi hỏi tự thân của mọi người nên không còn chỗ đứng trong triết lý giáo dục. Không những thế, trước trào lưu mở cửa hôm nay, những người “tiên thiên hạ chi ưu” đã cảm nhận nguy cơ của sự “mở” quá đà dẫn tới vong bản!

Rất cần triết lý giáo dục mới, không chỉ tiếp nối truyền thống mà còn dẫn dắt dân tộc tới tương lai tươi sáng.

Từ khảo cứu cội nguồn văn hóa và lịch sử tộc Việt, tôi đề nghị triết lý giáo dục của Việt Nam hôm nay là: Dân tộc, Nhân bản, Minh triết.

Không ít người cho rằng Dân tộc là khái niệm cũ, nhưng thực sự, cho tới nay hầu hết chúng ta chưa hiểu hay hiểu rất sai về dân tộc mình. Đó vẫn là cách hiểu do các học giả phương Tây áp đặt từ thế kỷ XX: “Người Việt Nam là đám Tàu lai với nền văn hóa bắt chước Tàu chưa tới nơi tới chốn. Hơn 70% tiếng nói vay mượn của Tàu.”

Nhưng sang kỷ nguyên mới, nhờ khoa học tiến bộ, nhân loại khám phá ra rằng: 70.000 năm trước, người Khôn ngoan Homo sapiens từ châu Phi tới Việt Nam, sinh ra người Lạc Việt. Rồi từ Việt Nam, người Lạc Việt lan tỏa ra châu Á và thế giới, sinh ra phần lớn nhân loại. Người Lạc Việt cũng là chủ nhân của nền văn hóa nông nghiệp phương Đông rực rỡ, không chỉ giúp người Việt tồn tại mà còn có vai trò lớn là dẫn dắt nhân loại trong cuộc khủng hoảng trí tuệ hôm nay. Nền giáo dục Việt Nam cần dựa trên những khám phá mới về bản sắc văn hóa của dân tộc.

Tiêu chí Nhân bản do vai trò kinh điển của nó nên được giữ nguyên. Không những thế, càng cần trong thời đại thống trị của kim tiền và nhân tính bị băng hoại.

Xin bàn thêm về tiêu chí Minh triết.

Cho đến nay, nhân loại chưa có định nghĩa chuẩn về minh triết. Người Mỹ gọi minh triết là wisdom với nghĩa là “sự khôn ngoan”. Trong khi đó, người Pháp gọi minh triết “sagesse” “là một cái gì nguội lạnh và lẩn thẩn” (Francois Jullien). Ngay với người Việt, hậu nhân của cha ông sáng tạo minh triết cũng chưa thực hiểu minh triết là gì. Phần nhiều thường dẫn một câu ca dao, tục ngữ hay lời của cổ nhân rồi bình luận: “Ông cha ta minh triết thật!” Những người khác quan niệm minh triết là sự khôn ngoan sáng suốt. Điều này phần nào gần với sự thật nhưng quan niệm như thế làm nghèo, làm tầm thường hóa thành tựu của cha ông.

Tôi mạo muội xin đề xuất một định nghĩa về minh triết như sau: “Minh triết là sự khôn ngoan sáng suốt trầm tích trong chiều sâu nhất của văn hóa, luôn tỏa ánh sáng và sức nóng nuôi dưỡng nền văn hóa dân tộc và dẫn dắt dân tộc đi lên.”

Minh triết là phẩm chất cao nhất của trí tuệ và tâm hồn Việt. Do vậy phải là nội dung quan trọng của giáo dục. Chúng ta đang ở giai đoạn kinh tế tri thức, nhưng có người đã nói tới nền kinh tế minh triết. Tiêu chí minh triết trong triết lý giáo dục chính là chuẩn bị cho tương lai gần này.

Trong tình hình Việt Nam và thế giới hôm nay thiết nghĩ triết lý giáo dục nêu trên không chỉ phù hợp với dân tộc Việt mà nó còn có ý nghĩa dẫn đường cho giáo dục của nhân loại.

Sài Gòn Xuân Đinh Dậu

Những người có học sống trong dân gian, trở thành “túi khôn” của cộng đồng.

 

One thought on “Hà Văn Thùy – TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CHO VIỆT NAM

  1. Vút chủ nghĩa Mác-Lênin,”tính Đảng” làm kim chỉ nam trong giáo dục,vứt các lớp chính trị ở khắp các cấp từ trung học đến đại học,nhất là vứt cái gọi là đạo đức Bác Hồ,  “tư tưởng Hồ Chí Minh” thổ tả đi là nền giáo dục VN sẽ đi lên chắc chắn!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s