Nguyên Lạc – Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán (Bài 5)

quedich5-3Ignorance in itself is neither shameful nor harmful. Nobody can knows everything.
But pretending that you know what you actually do not know is both shameful and harmful.
Knowledge is limitless. Therefore, there is a minuscule difference between those who know a lot and those who know very little. (Leo Tolstoy)(*)

Ghi chú thêm:

A. Phương pháp tiến hành lập quẻ Dịch bằng thẻ tre (theo Đông A Sáng)
1. Vật dụng và nghi thức
a. Các loại thẻ :
— Dùng 50 cọng cỏ thi (hoặc 50 thẻ tre) dài 25 – 30 cm như đã nói trên, hợp thành
một bó, dùng để bói.
— Dùng 6 thẻ tre dẹp nữa, mỗi thẻ dài 3 – 4 inch (8 – 10 cm) x ngang 1/2 inch
(1,5 cm) tượng trưng 6 hào ( để lập quẻ): trên 1 mặt vẽ nét đứt(- -) tượng trưng
âm, màu đen; mặt đối vẽ nét liền (__), tượng trưng dương, màu đỏ.
— Dùng 2 đồng tiền để gieo sấp ngữa
b. Những vật dùng để đựng các loại thẻ và cách bài trí :
— Ống tre hoặc cái tráp, hộp
Dùng cái ống tre hoặc cái tráp (gọi độc), đường kính khoảng 8cm, có nắp đậy, để đựng 50 thẻ.Trước khi bỏ thẻ tre vào ống hoặc tráp thì bọc bên ngoài bằng một tấm lụa điều (tỏ ý tôn trọng), rồi bỏ vào trong một túi lụa màu đen, rồi mới bỏ vào trong ống tre (tráp) và đậy lại.
— Bình gốm (hoặc đồng) :
Dùng cái bình bằng gốm để đựng 6 thẻ tre (tượng trưng 6 hào).
c. Cách bài trí :
Người ta để ống tre (tráp,hộp) sau án thư. Trước cái tráp để 2 đồng tiền (dùng đoán sấp ngữa), trước 2 đồng tiền là bình gốm (hoặc đồng) đựng 6 thẻ, trước bình gốm là lư hương.
d. Các nghi thức :
Thanh tẩy, nghi thức này được tiến hành vào buổi sáng, trước khi điểm tâm; là để bụng trống, tắm rửa sạch sẽ. Thanh tẩy xong, thì thắp hương, thắp đèn (nến). Bày trên hương án 6 thẻ tre tượng trưng ( 6 hào) thành quẻ Địa Thiên Thái:
Thắp hương xong, quỳ gối trên tấm nệm, đọc lời khấn: Thiên địa vô ngôn, tôi tin rằng Trời Đất cảm nhận được tâm thành mà soi sáng cho tôi được rõ nẽo cát hung (tốt, xấu).
Khấn xong, thả hai đồng tiền tròn xuống đất:
— Nếu một sấp, một ngữa thì có thể tiến hành dự đoán.
— Nếu cả hai đều ngữa hoặc đều sấp là chưa được, phải ngồi định tĩnh lần nữa, sau đó lại thả tiếp hai đồng tiền. Nếu vẫn sấp cả hoặc ngữa cả, thì kết thúc nghi thức, không dự đoán. Phải chờ đến lúc khác.
Tất cả nghi thức trên, vùa bày tỏ sự thành tâm, vừa thể hiện sự tập trung tính thần vào việc dự đoán.
2. Phương pháp tiến hành lập quẻ
a. Lập nội quái :
1- rút 1 cọng thẻ trẻ trong bó (50 chiếc) bỏ trở lại vào bình gốm ; biểu thị từ Vô cực chuyển thành Thái cực; thẻ tre tượng trưng Thái cực.
Trong quá trình dự đoán, người ta không đụng đến thẻ tre tượng trưng Thái cực.
2- chia số thẻ còn lại (49 thẻ) thành hai nhóm ngẫu nhiên.
Nhóm tay trái để sang bên trái bình gốm. Nhóm tay phải đển bên phải bình gốm. Hai nhóm thẻ biểu thị Lưỡng nghi (Thái cực sinh Lưỡng nghi).
3- lấy 1 thẻ tre ở nhóm thẻ tre bên phải, kẹp vào giữa ngón tay út và áp út (đeo nhẫn) của tay trái.
4- rút nhóm thẻ bên phải mỗi lần 2 thẻ, tượng trưng âm – dương. Tiếp tục 4 như lần thế, tượng trưng Tứ tượng. Tổng cộng số thẻ đã rút là 8 thẻ, tượng trưng Bát quái.
5- tiếp tục rút thẻ như trên. Cho đến khi nhóm thẻ bên phải chỉ còn từ 0 – 7 thẻ (tức là không đủ tụ để rút).
Thí dụ : còn 2 thẻ.
6- lấy 1 thẻ kẹp ở ngón tay út và áp út tay trái, bỏ vào nhóm thẻ bên phải còn lại (2 thẻ); ta được tổng cộng là 3 thẻ.
7- đối chiếu số thẻ với số của Bát quái, ta tìm ra quẻ, hình quẻ, để lập thành nội quái ( hạ quái).
Thí dụ : Đối chiếu, thấy số 3 là quẻ Ly.
8- đổi nội quái (Càn) quẻ Địa Thiên Thái (đã xếp trên) thành quẻ Ly vừa chiêm được.
Quẻ Địa Thiên Thái thành quẻ Địa Hỏa Minh.
quedich5-1

b. Lập ngoại quái :
Lấy 49 thẻ gộp lại thành một bó, chia bó này ra làm hai tụ một cách ngẫu nhiên, một tụ để bên phải, một tụ để bên trái bình gốm. Nhưng lần này lấy nhóm thẻ ở bên trái bình gốm.
Mọi thao tác tương tự như đã làm với nhóm thẻ bên phải: Nhón 1 thẻ kẹp vào ngón tay út và áp út. Tiến hành rút 4 lần mỗi lần 2 thẻ. Số thẻ còn lại từ 0 – 7 thẻ. Cộng với 1 thẻ kẹp ở ngón tay. Tìm được tổng số. Đối chiếu với số Bát quái. Ta có ngoại quái.
Ví dụ : Còn lại 6 + 1 = 7
Đối chiếu với số Bát quái 7 là Cấn. Thay Cấn vào 3 hào (được lập bởi 6 thẻ dẹp) còn lại (ngoại quái Khôn quẻ Địa Hỏa Minh) ta có quẻ : Sơn Hỏa Bí ䷕
c. Tìm hào động :
Lấy 49 thẻ gộp lại thành một bó, chia bó này ra làm hai tụ một cách ngẫu nhiên, một tụ để bên phải, một tụ để bên trái bình gốm.
Lấy 1 thẻ tụ thẻ bên phải, kẹp bên ngón tay áp út và ngón tay út của bàn tay trái .
Rút thẻ trên tụ phải, mỗi lần 2 thẻ (âm – dương), chia thành mỗi nhóm 6 thẻ (tượng trưng 6 hào). Khi trên tụ phải số thẻ còn lại nhỏ hơn 5,lấy số thẻ đó cộng với thẻ đang kẹp ở tay trái, tổng số chính là hào động.
Số 1 là hào 1 động, số 2 là hào 2 động, số 3 là hào 3 động, số 4 là hào 4 động, số 5 là hào 5 động, số 6 là hào 6 động.
Thí dụ : Sau khi rút còn 4 thẻ + 1 thẻ bên tay trái = 5 là hào 5 động Nếu hào động là động dương thì đổi dương thành âm, nếu hào âm động thì đổi âm thành dương.
Thí dụ :
Từ quẻ Sơn Hỏa Bí trên (quẻ chủ), hào 5 (âm) là hào động, đổi âm thành dương:
Sơn Hỏa Bí ䷕ thành quẻ biến Phong Hỏa Gia Nhân ䷤
Ta có hai quẻ trùng quái, quẻ đầu là quẻ chủ (xem sự việc), quẻ sau là quẻ biến (kết quả của sự việc)
Quẻ thể và quẻ dụng :
Hào động có tác dụng giúp cho người ta tìm ra quẻ biến, để biết sự biến hóa từ tốt sang xấu hoặc từ tốt sang xấu của sự việc cần đoán. Lại nữa, nó còn quan trọng là phân biệt được quẻ thể và quẻ dụng trong quẻ biến. Thể là bản thân người luận đoán, dụng là công việc cần đoán.
Theo ví dụ vừa nêu trên, hào 5 là hào động, vậy quẻ Cấn ở trên (thượng quái) là quẻ thể; quẻ Ly ở dưới (hạ quái) là quẻ dụng của quẻ biến Phong Hỏa Gia Nhân. Người ta phối ngũ hành vào quẻ để biết sinh hay khắc của quẻ dụng đối với quẻ thể.
Có những trường hợp xảy ra:
1- quẻ thể khắc quẻ dụng là tốt (cát).
2- quẻ dụng khắc quẻ thể là xấu (hung).
3- thể và dụng ngang nhau (tức yếu tố ngũ hành giống nhau, thì thuận lợi.
4- thể sinh dụng thì bị hao tổn.
5- dụng sinh thể thì có tin vui.
6- quẻ dụng trước tốt, sau khi biến thành xấu, là việc trước tốt sau xấu.
7- quẻ dụng trước xấu, sau khi biến thành tốt, là việc trước xấu sau tốt.
8- quẻ bị khắc chỗ này nhưng có chỗ khác sinh, biểu thị có sự cứu giúp.
9- quẻ có chỗ bị khắc nhưng không có chỗ khác sinh (vô sinh), thì không có trợ giúp.

B. Cách Bấm Độn

Bấm độn không có gì huyền bí, đặc biệt giành riêng cho các ông “cõi trên” tài giỏi như trong truyện giả tưởng Phong Thần của Trung Quốc viết, hoặc lời lẽ của các ông thầy bói (giả) tuyên truyền; các bạn tự mình có thể bấm độn được sau khi xem kỹ bài này!
Đây là ghi chú thêm cho bài Quẻ Dịch về Bấm Độn, tôi tham khảo từ: THS.BS Kiều Xuân Dũng cùng với sự tìm tòi thêm của mình, xin ghi ra đây.
1/ Các điều cần nhớ
Trước hết, xin các bạn chú ý kỹ Hậu Thiên Bát Quái, thuộc lòng vị trí của các Quẻ (đơn) và nhớ kỹ số của Bát quái (được ghi ra ở dưới)

quedich5-2
Trong Tiên Thiên Bát Quái, quẻ Càn (trên cùng) là số 1 , quẻ Khôn (dưới cùng) là số 8. Từ quẻ Càn (1) đếm ngược chiều kim đồng hồ, ta có: quẻ Đoài số 2, quẻ Ly số 3 và quẻ Chấn số 4. Từ quẻ Càn (1) đếm thuận chiều kim đồng hồ, ta có: quẻ Tốn số 5, quẻ Khảm số 6 và quẻ Cấn số 7.
Vậy ta nhớ số Bát Quái như sau: Càn là số 1, Đoài số 2, Ly số 3, Chấn số 4, Tốn số 5, Khảm số 6 , Cấn số 7, Khôn là số 8.
Bát quái Số của Bát quái / Hành
☰ : Càn (hay Kiền): thiên là trời có đức cứng mạnh, là đàn ông. 1 / Kim
☷ : Khôn: địa là đất, có đức nhu thuận, là đàn bà 8 / Thổ
☲ : Ly: hỏa là lửa, sáng 3 / Hoả
☵ : Khảm: thủy là nước, hiểm trở 6 / Thuỷ
☶ : Cấn: sơn là núi, yên tĩnh 7 / Thổ
☱ : Đoái (hay Đoài) vi trạch là chầm(đầm), vui vẻ. 2 / Kim
☴ : Tốn: phong là gió, vào 5 / Mộc
☳ : Chấn: lôi là sấm, động 4 / Mộc
Các bạn nên nhớ 12 Chi : Tý (11 p.m. to 1 a.m.), Sửu (1 to 3 a.m.), Dần (3 to 5 a.m.),
Mão (5 to 7 a.m.), Thìn (7 to 9 a.m.), Tỵ (9 to 11 a.m.), Ngọ (11 a.m. to 1 p.m.),
Mùi (1 to 3 p.m.), Thân (3 to 5 p.m.), Dậu (5 to 7 p.m.), Tuất (7 to 9 p.m.),
Hợi (9 to 11 p.m.).

2/ Phép bấm độn trên bàn tay để tìm hào và quẻ

Người xưa khi cần kíp và không có phương tiện, thường dùng phép bấm độn để tìm hào và quẻ. Nhưng phép này kém ứng nghiệm hơn so với phép cỏ thi (thẻ tre) và gieo đồng tiền.

Đầu tiên đặt Hậu Thiên Bát Quái lên lòng bàn tay trái như hình vẽ:

quedich5-3
Giả sử, vào ngày 16 tháng 7 âm lịch, giờ Dậu, ta lấy quẻ.

a- Cách bấm độn:
– Trước hết, ta tìm vị trí ở số 7 ( tương ứng tháng 7) trên bàn tay trái. Vị trí đó là quẻ Khôn, lấy làm điểm khởi đầu. Ngày đầu của tháng là mồng 1. Đếm 1 (từ quẻ Khôn) cho tới số 16 theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ).Vị trí 16 nầy ứng với quẻ Ly. Ta có quẻ Ly là nội quái.
– Từ quẻ Ly ta đếm giờ khởi đầu là giờ Tý, rồi lần lượt tới Sửu, Dần,Mão…cho tới giờ Dậu (chiều kim đồng hồ)..Vị trí giờ Dậu này tương ứng với quẻ Khôn.Ta có quẻ Khôn là ngoại quái. Chồng ngoại quái (Khôn: Địa) lên nội quái (Ly: Hỏa) ta có quẻ Địa Hỏa Minh Di.

quedich5-5
b- Cách tìm hào động.
Cộng số thứ tự của nội quái, ngoại quái lại, trừ dần cho 6 (số hào), số dư còn lại là số thứ tự của hào động:
– nếu trừ 6 mà hết (= 0) như vậy hào động là hào 6,
– nếu số cộng mà nhỏ hơn 6 thì lấy ngay số đó làm hào động.
(Trừ dần cho 6 nghĩa là lần đầu ta trừ, số dư ra lớn hơn 6, thì ta phải trừ cho 6 thêm một lần nữa)
Ở đây số của quẻ Ly là 3, số của quẻ Khôn là 8.
Vậy tổng cộng 8 + 3 = 11, rồi lấy 11- 6 = 5. Hào động là hào 5. Hào 5 (quẻ Địa Hoả Mình Di) là hào âm, sẽ biến thành dương
quedich5-4

Trong trường hợp này, quẻ chủ (chính) chỉ vào thời hiện tại là khó khăn: phải che bớt cái ánh sáng của mình đi, kiên nhẫn chờ thời, chỉ hoạt động văn tài viết lách,Đó là quẻ xấu. Lời triệu (thoán từ) là: ” qua hà chiết cầu” nên chờ thời cơ tốt,
Quẻ tiếp là Thủy Hỏa Ký Tế lại là quẻ tốt, đó là việc đã xong, là quẻ tốt với lời triệu là: ” kim bảng đề danh “.

***

Tóm lại phương pháp suy đoán dựa trên quẻ chỉ có tác dụng tham khảo về xu thế và nói về những điểm chung nhất. Nó luôn căn dặn con người phải giữ lấy chính đạo,trung thực, dũng cảm và biết nắm bắt thời cơ (hợp Thời).Tuyệt đối không được mang màu sắc mê tín dị đoan.Suy đoán về Dịch không nên cụ thể vào một việc nào đó, mà phải chú ý vào tổng thể.
Nếu ai suy đoán theo thần thánh mê tín, họ sẽ làm biến đổi tinh thần của Dịch và như vậy không còn là Dịch nữa.

Đến đây kết thúc những gì tôi đã biết trong quá trình học hỏi, mong các bạn tìm được một vài điều hữu ích. Chào tạm biệt các bạn! Thân ái!
Nguyên Lạc
(Còn tiếp phần: Lập Quẻ cho VN)
______________________________________________________________
Tham Khảo: Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Wu Wei, Richard Wilhelm,
Kiều Xuân Dũng, Đông A Sáng, Internet, Facebook…
(*)Xin bạn tha lỗi, tôi xin không dịch Để bạn tự tìm hiểu, nhờ đó sẽ nhớ lâu! Và khi đó bạn sẽ vui mừng vì mình đã cộng tác với tác giả, phải không bạn hiền?
*** Nếu vi trục trặc in ấn, các hình Quẻ trông không rõ, xin các bạn tham khảo lại hình tại: “Danh sách 64 quẻ trong Kinh Dịch” ở bài 2.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s