Nguyên Nguyên – Những Mùa Xuân năm cũ (Bài 5)

primaryeducationrvnTrong vòng vài thế kỷ qua, kiến thức nhân loại về đời sống hằng ngày thường dính liền với kiến thức thu thập từ khoa học, và một trong những kiến thức dễ nhớ nhất là ký ức của người lớn tuổi. Các cụ thường nhớ những gì xảy ra từ thời xa xưa và ưa quên mất những kí ức gần. Chuyện kể một bà cụ di dân từ thời còn bé sang Úc, trong những ngày trước lâm chung, tự nhiên cụ nói chuyện với các con cháu bằng thứ tiếng “ngoại ngữ” mà cả nhà không ai hiểu nổi. Đối với kí ức cận kề các cụ thường quên đi tên họ của những người mới quen, cũng như tên các tài tử xi-nê mới nổi trong vòng 5-10 năm trở lại.

Kí ức xa xưa của các cụ cũng bị giới hạn ở tuổi ấu thơ (khoảng 1-3 tuổi), có lẽ bởi ở tuổi đó cấu trúc của thế giới tuổi thơ chưa được thiết lập cho có bài bản. Tức hãy còn lộn xộn, thiếu thốn sắp xếp bằng lời ăn tiếng nói, và rất khó nhớ đời.

Đối với những người thuộc thế hệ sinh-sung tức babyboom, tức thế hệ rất đông đảo các “thành viên” chào đời sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, kí ức của họ thường rất dồi dào bời họ thường phải trải nghiệm nhiều cuộc thăng trầm bể dâu hay đổi đời, hầu như trên khắp thế giới.

Trước hết, phân biệt các lớp học từ tiểu đến trung học thường sắp xếp ngược lại theo kiểu số đếm với thời bây giờ. Bắt đầu bằng lớp năm lên tới lớp nhứt là xong cấp tiểu học. Trung học bắt đầu bằng lớp đệ thất cho tới đệ tứ là trung học đệ nhất cấp. Sau đó đệ tam kéo tới đệ nhất là đệ nhị cấp. Cuối năm đệ tứ có kỳ thi Trung Học (đệ nhứt cấp), và thông thường học sinh phải đậu bằng trung học mới được lên lớp đệ tam. Sau đệ tam là đệ nhị kết thúc bằng kỳ thi cho Tú Tài I, và phải đậu Tú Tài I mới được lên đệ nhất để cuối năm thi Tú Tài II, và nếu thi đậu Tú Tài II mới được thi vào hoặc ghi danh học các trường đại học. Trước thời sắp xếp lớp học theo kiểu này đi học chỉ ở cấp tiểu học cũng rất gay go. Bởi tiểu học thời trước 1954 có chia thành hai cấp, cấp Sơ Học và cấp Tiểu Học, Sơ Học bắt đầu từ lớp Đồng Ấu tức lớp 5 (sau 1954) và lớp 1 thời nay, kéo qua lớp Tư và kết thúc vào lớp Ba. Cấp Tiểu Học có hai lớp Nhì (lớp nhì năm 1 và lớp nhì năm 2) và 1 lớp Nhất. Một số trường tiểu học còn có thêm lớp Tiếp Liên nằm giữa bậc Tiểu Học và Trung Học, thường dành cho những học sinh thi vào trường trung học công lập không được, chuẩn bị cho họ thi lại vào năm sau. Chương trình học lớp Tiếp Liên đặt trọng tâm vào các môn để thi vào trường trung học công lập như toán và quốc văn. (Có thể xem thêm chi tiết ở: https://hocthenao.vn/2013/10/16/nen-giao-duc-o-mien-nam-1954-1975-trich-nguyen-thanh-liem/ ).

Nguyen Khac Can – Pham Viet Thuc (Eds.) (1992) Knowledge of Vietnam (in the past through 700 pictures). Information and Theory Publishing House (Hanoi).

Ở Việt-Nam thời đó ở mấy lớp cấp sơ học như lớp năm, lớp tư, học trò thường làm bài bằng phấn trắng viết trên bảng đá, làm bằng đá phiến (slate), có kích thước gần bằng một iPad hay tablet thời bây giờ. Cô giáo hỏi: “Hai với hai là mấy?” thì cả lớp lập tức viết vào bảng đá “bốn (4)” rồi giơ lên trình với cô. Tất nhiên cô cũng để ý ngay đến một hai trò viết trên bảng đá chữ “hai”, “ba”, bú”, hay “bống”, và đến chỗ ngồi từng em để chỉ dẫn sửa sai. Nhớ nhất là kiểu bài tác văn thường giống nhau trong suốt những năm cuối tiểu học: “”Chủ nhật vừa rồi, trò được Ba Má dắt đi bến tàu. Hãy thuật lại và cho biết cảm tưởng”. Giờ bắt đầu lớp hay tan học, tiểu cũng như trung học, được điểm bằng tiếng trống, và mãi về sau, khoảng đầu thập niên 1960 mới thay thế bằng chuông reo. Ở ngoài cổng trường nào cũng có gánh hoặc xe ba bánh bán hàng rong, mà bây giờ tây phương rất hâm mộ với chính danh tiếng Ăng Lê là street food, biết đến từ các gian hàng lộ thiên bán thức ăn ngon rẻ ở Singapore, Bangkok, Jakarta, Hongkong, v.v.. Món ăn hàng rong ở cấp tiểu học có vẻ khác với cấp trung học. Hàng rong tiểu học rẻ tiền và đơn sơ hơn trung học. Đáng kể nhất là mía ghim, xôi, đậu đỏ bánh lọt (hiện đổi tên thành chè 3 màu), cháo huyết, cà-rem (kem) cây hay cốc (lúc đó chưa có kem ăn với ốc quế), v.v.. Có một món rất rẻ tiền và hết sức bình dân thuộc cấp tiểu học là ô-môi (tên khoa học: cassia grandis), bây giờ hình như đã tuyệt tích giang hồ. Hàng rong ở cấp trung học có vẻ cao cấp hơn và thường bao gồm: bò vò viên, bò bía, bánh ướt (cuốn) chả lụa, sinh tố, bánh mì thịt, v.v..

Tiếng Việt thời đó phân biệt ít lắm ba thứ tiếng tương đương với chữ student (và đôi khi pupil) ngày nay theo lối gọi Mỹ-Úc: học trò (tiểu học), học sinh (trung học), và sinh viên (đại học). Kiểu gọi phân cấp này có lẽ mang ảnh hưởng tiếng Tây lẫn tiếng Hoa. Cũng giống như phân biệt giáo sư (đại học/trung học) và giáo viên (tiểu học) hoàn toàn theo kiểu Pháp. Sự thật theo kiểu phân cấp ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, khi dạy ở đại học có trên 1 chục thứ phân cấp khác nhau. Và không phải phân cấp càng tinh vi là càng đúng hay càng văn minh. Cũng giống như 1 giáo sư toán đệ nhất cấp ngày xưa không hẳn là không giỏi bằng 1 đồng nghiệp phụ trách môn toán ở đệ nhị cấp (từ đệ tam đến đệ nhất). Hoặc một giáo sư dạy toán ở trường tư không giỏi bằng một đồng nghiệp dạy ở trường công.

Trong ba lối gọi thông thường, học trò, học sinh và sinh viên, có lẽ chữ trò trong học trò là có thể có từ nguyên rất khó truy theo phương pháp thông thường. Theo phương pháp thông thường, tiếng Việt phân chia thành Nôm và Hán Việt, cả hai đều dựa vào 1 nguyên lý khác cho rằng không cần biết tới gốc gác hay cấu trúc “hữu cơ” tức mang chất sống của ngôn ngữ. Tức từ ngữ thường được biết đến bằng liên hệ bề ngoài giữa ngữ từ và ngữ nghĩa, gọi nôm na theo Anh ngữ là signifier và signified. Theo một phương pháp khác, người ta phải tạm gác sang một bên, trước hết, âm chuẩn tác động theo đánh vần của chữ quốc ngữ, và xem xét những âm hoặc chữ liên hệ của khu vực hay bộ lạc từ ngày xưa mang ngữ nghĩa tương đương, gần giống hay bà con với từ muốn truy cứu. Quan trọng nhất là phải tạm quên lối phân chia Hán-Việt và Nôm mà xưa nay chưa hề có nghiên cứu khoa học sâu rộng được cả giới khoa học và, quan trọng hơn hết, người xử dụng ngôn ngữ chấp nhận và phê chuẩn theo một thứ đa số tuyệt đối. Tức bắt buộc phải tạm thời lùi tiếng Việt trở lại vào thời chưa có chữ quốc ngữ.

Kiểu truy tầm từ nguyên này cũng chú trọng đến gốc nguyên thủy của rất nhiều từ “phát minh” theo với sản phẩm hay tư tưởng của “người nước ngoài” từ ngàn xưa cho đến ngày nay, tức để ý đến cấu trúc của từng chữ theo một nghĩa rộng của cấu trúc. Thí dụ những tiếng ngày nay như TV, phone hay internet, nếu phát âm là TiVi, phôn, internet có khi dễ nhận hơn là truyền hình, điện thoại hay mạng giao lưu, mạng điện toán, v.v.. Tương tự, chữ xe (hay xa) rất có khả năng nhập khẩu từ Âu Châu, trước thời quốc ngữ rất xa, qua chữ chariot, tương đương với tiếng Pháp ở Canada char, tiếng Việt xa/xe, tiếng Môn rôt, tiếng Anh car, với lưu ý tiếng Anh carbon tương đương với Pháp charbon (than). Tìm hiểu từ nguyên của trò có thể sẽ dễ hơn sau khi tìm ra từ nguyên của thầy, vẫn thường nhầm là một từ thuần Nôm. (Theo phương pháp trình bày ở đây, xin nhấn mạnh một lần nữa phải tạm gác sang một bên phân biệt thuần Nôm hay gốc Hán Việt).

Trước hết để ý đến xuất xứ của thầy trò. Âm [th] trong thầy trong tiếng Việt trước thời quốc ngữ ưa biến chuyển qua lại với âm [x] hay [s] trong các thứ tiếng Mường, Thái, Quảng Đông, và luôn luôn chú ý đến tiếng bản địa hạ tầng của tiếng Việt là tiếng Thái và nhóm Môn-KhờMe. (Xem biến chuyển [x] và [th] tiếng Việt trong quyển Tiếng Việt Tuyệt Vời của gs Đỗ Quang Vinh). Hầu như cả thế giới đều nhìn nhận rằng nước Trung là nước có nền giáo dục “dân lập” sớm nhất ở Á Châu, và ông hiệu trưởng kiêm giáo sư thiết lập trường tư thục đầu tiên đó mang tên là Khổng Tử, tức Ông Khổng [OŨ KHỎŨ] theo tự điển Alexandre de Rhodes.

Một trong những từ mang nghĩa thầy chính là phiên âm quốc ngữ dựa theo âm pinyin [shi] của chữ Hán là . Âm [shi] () mang nghĩa hiện đại là master, teacher, professor, monk, và hoàn toàn phù hợp, tức rất thích ứng trong một cấu trúc tổng thể, với các từ kép như giáo sư, sư phụ, ân sư, sư sãi, sư cô. Theo phát âm Ngô Việt (tức khu địa bàn của Việt Vương Câu Tiễn năm xưa), âm [shi] tương ứng với [sy] rất gần với tiếng Việt trừ phụ âm [s] tiếng Ngô Việt không giống như [s] tức [sh] tiếng Việt. Tương đương với âm [shi] trong tiếng Mân Việt, tức khu Phúc Kiến địa bàn của nhà Trần ở Việt Nam, là âm [sai] rất gần với âm [sãi] trong sư sãi (monk). Âm [sai] biến chuyển dễ dàng qua [thầy] (master, teacher) qua các đường: (i) biến chuyển giữa [x] và [th], làm sao/ làm thao; (ii) [ai] và [ay]: Mã Lai/Malay hay [dai] Quảng Đông/đáy (bottom/base); (iii) tự điển của Pigneaux de Béhaine và Taberd (1838) có ghi chữ [chai/zhai] viết cho chữ thầy (master) mang kí âm quốc ngữ thường dùng là [sài] (củi đốt) (giống như [sài] trong [Sàigòn]); và (iv) tác động của chữ quốc ngữ, xem như một hệ kí âm dùng mẫu tự Latinh, như pinyin cho tiếng Phổ Thông, Jyutping cho tiếng Quảng Đông, hay romaji cho tiếng Nhật. (Để ý [Juyt] trong {Jyutping] (Việt phiên) mang tương đương với từ Việt trong tiếng Việt, tức [yue] tiếng phổ thông, và [Yue] hay [Jyut] trong tiếng Hoa là tên gọi tắt của Quảng Đông. Chữ thường được kí âm theo kiểu quốc ngữ là [bính] hay [phanh], nhưng theo các tự điển tiếng Trung hiện tại chữ [pin] có thể viết như [pin] mang âm “Hán Việt” là [phiên], và pinyin có thể hiểu bằng từ thông thường là phiên âm.

Để ý chữ thầy trong tiếng Hmong là [Tuam Thawy] có âm [thawy] rất gần với thầy trong tiếng Việt. Ngoài ra tự điển Alexandre de Rhodes ghi thầy thày, trong khi tiếng Mường kí âm theo quốc ngữ ghi thầy.

Để ý tiếng nước nào cũng có những từ rất cổ hiện không dùng nữa, nhưng có khả năng vẫn còn được dùng ở nơi khác. Thí dụ như từ cổ mang nghĩa thầy là Phu Tử (夫子 – Fu zi) vẫn thường dùng qua Khổng Phu Tử (Ông Thầy Khổng). Liên hệ âm Việt [thầy] với tiếng Hoa không thể là một loại liên hệ tiêu biểu có thể thiết lập công thức. Thí dụ một âm cũng thường cho là thuần Nôm là thấy (see, look). Âm này tương đương với chữ [si/ti] kí âm “Hán-Việt” là [thê] hay [đê], rất ít dùng trong tiếng Việt và tiếng Hoa (ngày nay). Bởi ít dùng nên có thể suy đoán cả hai âm [thê] và [đê] được tạo dựng bằng lối phiên thiết, có trình bày trong quyển “Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị” của Lê Ngọc Trụ. Theo kiểu đối chiếu với các phương ngữ ở Hoa Lục, phát âm [đê] rất giống tiếng Mân [de], và [thê] giống tiếng phiên thiết Guangyun [thei], và Triều Châu [thi]. Trong khi tiếng Quảng Đông cho là [thai] rất gần với thấy. Tức thấy là âm Việt tương đương với [thai] tiếng Quảng, và Hán Việt thê tương ứng với [si/ti].

Thử kiểm chứng thêm bằng chữ thảy trong hết thảy (tổng cộng, tất cả). Chữ thảy cũng thường được lầm là một thứ từ thuần Nôm, nhưng thật ra mang âm phương ngữ [thai] của tiếng Quảng Đông cho chữ mà tiếng Việt đọc [thể] giống như âm Mân (Phúc Kiến) là [the], mang nghĩa toàn thể, toàn thân.

Biến chuyển giữa âm [s] hay [sh] qua lại với [th], như [sài] và [thầy], còn được thể hiện giữa Sàigòn Thầy-Gòn, mà các lí thuyết ngôn ngữ vẫn thường cho Thầy trong Thầy-Gòn là phát âm sai. Chữ Thầy trong tiếng Myanmar (Miến Điện/Diến Điện gọi theo kiểu xưa) chính là [hsə-ya], tức [hsây] cho thấy biến chuyển qua lại giữa [s] và [th]. Rất ngộ là âm [Sai] trong tiếng Okinawa mang nghĩa tương đương là Thầy tức lối gọi kính trọng cho người nam hay người nữ. Âm [sai] còn giống chữ Sire trong Anh ngữ thời xưa mang nghĩa hoàng thượng hay bệ hạ, hay bậc cha mẹ (đấng sinh thành). (Chữ Sire trong Anh ngữ có thể biến chuyển thành Sir.) Chuyện này diễn dịch sang tiếng Việt có nghĩa là chữ Thầy có thể thay cho chữ Cha, y như Grand-Sire có thể thay cho Grand-Father. Ngộ nhận thường thấy là Thầy mang nghĩa Cha vẫn thường cho là mang tính cách phương ngữ hoặc người Cha được gọi Thầy bởi đã từng làm thầy giáo.

Theo với đường hướng tầm nguyên chữ thày, bây giờ thử truy nguồn gốc chữ trò. Tiếng Hoa rất có nhiều từ dùng để chỉ học trò hoặc môn sinh, và một từ thông dụng nhất là đồ trong môn đồ hay đồ đệ. Đồ cũng mang nghĩa follower (người đi theo, hoặc tin vào) như trong tín đồ. Chữ đồ mang âm tương đương pinyin là [tu] viết có âm Mân Việt (Phúc Kiến) rất gần với [tò]. Tự điển Alexandre de Rhodes và tự điển Mường đều ghi đó là [tlò] chuyển sang tự điển Taberd hay Paulus Của là trò, giống như kiểu [tlời] hay [blời] thành ra trời. Nếu lùi lại thời gian xa thật xa, ta có thể để ý đến từ mang nghĩa môn đồ của Khổng Tử là 儒家 [jyu gaa] (Quảng Đông), tức Nho gia tiếng Việt. Rất ngộ là chữ Nho mang âm là [lu] trong tiếng Mân (nhà Trần), rất giống chữ Lỗ tức nước Lỗ quê hương ông Khổng, và cũng giống [lò] và [tlò] (Mường/ Việt thời thế kỷ 17), tức trò. Để ý cấu trúc của chữ học trò giống kiểu của giáo sư, giáo viên, tức theo kiều tiếng Hán, trong khi thầy giáo theo kiểu tiếng Nôm (danh từ thầy đi trước giáo (dạy)). Biến đổi tò/trò là biến đổi quốc ngữ tương ứng với biến đổi Phúc Kiến/Triều Châu với Phổ Thông [t] và [zh]: [tiong]/[zhang],tức [t] và [tr] như chữ [tiong]/Trương , hay [tea] (Mân/Anh), [thé] (Tiều/Pháp) và Việt chè (Phổ thông [cha]) hay trà. Còn biến đổi tlò/trò là hoàn toàn do phiên âm của các tác giả thế hệ thứ hai thứ ba như Pigneaux de Béhaine (Cha Cả/Bá Đa Lộc) và Taberd, từ phiên âm thế hệ thứ nhất của Alexandre de Rhodes rất giống tiếng Mường gần đây.

Nói chung, có thể thấy nếu truy tầm từ nguyên tiếng Việt theo kiểu dựa trên cấu trúc thời chưa có chữ quốc ngữ, vấn đề sẽ nhanh chóng nhảy vào mê hồn trận của limbo rock, và rất khó tránh nhức đầu. (trích từ: Nguyen Khac Can – Pham Viet Thuc (Eds.) (1992) Knowledge of Vietnam (in the past through 700 pictures). Information and Theory Publishing House (Hanoi).)

Phân biệt học trò, học sinh và sinh viên có thể hay hoặc tốt và cũng có thể không ảnh hưởng gì đến nền giáo dục của một nước. Bằng chứng là váo thời khoảng đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam ai có được bằng Thành Chung tức tương đương với tốt nghiệp Cao Đẳng Tiểu Học hay Trung Học đệ nhất cấp về sau, đã là oai lắm rồi. Để ý chuyện có công ăn việc làm sau khi học xong tiểu học thời xưa lien hệ mật thiết đến nhu cầu của guồng máy hành chánh thời đó. Sang đến thời những năm 50 giáo dục đủ xài lần lần leo lên đến cấp Tú Tài (I và II). (Xem thêm:

cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=1).

Đến thập niên 60 giáo dục cần thiết để kiếm job thơm mò lên cấp cử nhân hoặc bằng diploma hay chứng chỉ ở trường nghề. Và trong thiên niên kỷ hiện tại có bằng tiến sĩ vẫn không đảm bảo có việc làm. Bởi nằm ở đằng sau mối liên hệ giữa huấn nghiệp, giáo dục và chuyện có công ăn việc làm là khế ước ngầm bất thành văn giữa xã hội hay nền kinh tế với những người trẻ tuổi muốn dựa vào tổ chức xã hội để chuẩn bị cho tương lai. Nó cũng giống như một khế ước từ thời xa xưa là hễ ai đậu được các kỳ thi do triều đình tổ chức thì chắc chắn được làm quan. Thứ khế ước làm quan dành cho giới học thức hay ưu tú hoàn toàn bị hủy bỏ vào khoảng hậu bán thế kỷ 20. Nhưng xã hội trong mấy mươi năm qua thật sự thay đổi quá nhanh và nhanh hơn mớ kiến thức chuyển nhập qua giáo dục và học nghề. Và vẫn không còn thì giờ để thu thập kinh nghiệm từ một việc làm cố định theo kiểu sự nghiệp như ngày xưa. Điển hình trong chuyện sự nghiệp này là những salaryman, viết theo kiểu romaji là sarariman, làm việc suốt đời cho một cơ quan hay thương nghiệp ở xứ Phù Tang. Trong chuyện thiếu thốn kinh nghiệm này còn chứa chấp một nan đề mà khi xem sơ qua tưởng khá dễ. Đó là việc tái huấn nghiệp cho những người bị mất việc vì ngành nghề của họ bị đào thải bởi kinh tế toàn cầu, bởi tiến bộ kỹ thuật, bởi dân số ở quả đất tăng quá nhanh và quá đông, v.v..

banmaychuHồi thập niên 50 cho mãi đến 80 ở thế kỉ trước muốn làm thư ký phải biết đánh máy chữ, thông thường là mười ngón. Có hết thảy chừng 3 nghề liên can đến việc đánh máy chữ, thật nhanh và thật đúng: nghề thơ ký các công tư sở (ngày nay thường gọi chung là cơ quan); đả tự viên làm ở tòa báo và nhà xuất bản, và các thầy cô ở trường dạy đánh chữ. Thành phố lớn nào trên thế giới cũng có nhiều trường dạy đánh máy chữ. Đó là chưa kể đến các hãng sản xuất máy đánh chữ quốc tế nổi tiếng, thường là từ nước Ý như Olivetti, hoặc từ Mỹ như IBM. Công ty IBM (International Business Machines) với đại bản doanh nằm ở New York, thành lập từ cuối thế kỉ 19, có thời nổi tiếng với máy đánh chữ, nhất là loại dùng điện. Về sau IBM trở nên chuyên khoa số 1 về computer cho tới khi Microsoft ra đời và bắt đầu bành trướng vào khoảng thập niên 80. (Xem: https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_IBM)

Lúc các phần mềm dùng để thảo văn kiện, như Microsoft Word, trở nên phổ biến trên các máy điện toán, người ta vẫn có thể tìm thấy những thứ phần mềm khác dạy “đánh máy chữ” kiểu 8-10 ngón như ngày xưa, trên computer, để giúp xử dụng Microsoft Word cho thật nhanh. Nhưng đến khi các thứ smartphone (điện thoại thông minh) và iPad hay Samsung tablet ra đời thì ai cũng thích quay về với ngón “Nhất Dương Chỉ” hơn. Chỉ trong vòng chừng 20 năm một nghề (đánh máy chữ) đã hoàn toàn biến mất trên địa cầu.

Rất nhiều nghề khác, như dạy khiêu vũ tức nhảy đầm theo kiểu Latin ballroom dancing, dạy Judo, dạy Karate, trường hàm thụ (gởi bài học và chấm bài làm bằng thư), tiệm chụp hình, tiệm tráng ảnh in hình, sửa xe đạp, trường dạy nữ công gia chánh, tiệm Milk Bar ở khu vực địa phương, bán sữa giao tận nhà, tiệm bánh Pizza ăn tại chỗ, tiệm bán tem sưu tầm, bán đồng tiền coins, tiệm may đàn ông, v.v.. lần lượt biến mất trên trái đất. Tất cả đều có thể thay thế bằng online hay YouTube. Đặc biệt tiệm chụp hình ngày xưa ở thời thập niên 40-60 là một địa điểm chỉ dành cho dân trung lưu. Cả gia đình vài năm một lần ăn mặc quần áo thật đẹp rồi đến hiệu chụp ảnh, chụp cho một tấm đem về chưng ngay trong phòng khách. Những người có tiến thì có thể sắm một máy ảnh và thông thường người nào có máy ảnh thì cả xóm hay tất cả bà con họ hàng đều biết. Ảnh thường thường là đen trắng. Muốn có màu phải tô màu lên ảnh. Ngay tới phim xi-nê cũng vậy. Các nước Á Châu thường không có máy móc rửa phim màu. Phim Ấn Độ thường đen trắng cho mãi đến màn kết cuộc mới đổi ra màu, và màn kết này thường bao gồm ca vũ xem mê mẩn luôn. Nhớ phim Mưa Rừng của Việt Nam là một trong những phim mầu đầu tiên, phải gởi sang Nhật để rửa phim.

Những nghề xưa cũ bị sập tiệm thường được thay bằng những nghề hoàn toàn mới với các kỹ thuật tân tiến, ít khi liên hệ đến nghề cũ. Những nghề mới thường liên hệ mật thiết với kỹ thuật internet và điện thoại lưu động. Đáng kể nhất là những trung tâm hỗ trợ bằng điện thoại (call centers) thường đặt tại các quốc gia có nhiều dân rành tiếng Anh như Ấn Độ và Phi-Líp-Pin (để ý tên nước Á Châu này đặt theo tên vua Philip II của nước Spain, xưa gọi Tây Ban Nha, vào thế kỉ 16). Ngoài ra các ngành như du lịch, bán thẻ SIM, bán mobile phones, bán TiVi dây văng hay TiVi internet, bán sản phẩm tài chánh như cho vay tiền mua nhà, v.v.. thông thường hoặc đang chuyển sang online. Một trong những công ty tín dụng mang tên Starr-Bowkett Society hoạt động như hợp tác xã, có hình thức cho vay theo kiểu bắt thăm giống như chơi hụi ở Việt Nam gần đây cũng đóng cửa tiệm ở khu vực Newtown (Sydney). Xem: https://en.wikipedia.org/wiki/Starr-Bowkett_Society. Nhiều car yards chuyên bán xe hơi đã dùng rồi cũng phải dẹp tiệm bởi tiền thuê bãi đất chứa xe khá cao và luôn phải cạnh tranh với xe bán tư online, hay qua một thứ car yards khác nhưng vẫn online.

Bưu điện toàn cầu đều thường xuyên than van lỗ lã. Giá tem, bưu cước mỗi lúc mỗi tăng. Gần như mỗi sáu tháng một lần. Nhiều trạm bưu điện phải đóng cửa vĩnh viễn, nhưng đa số biến thành một thứ cửa hàng bách hóa đảm trách nhiều thương vụ khác nhau, thuộc loại văn phòng. Những dịch vụ chính của bưu cục ngày xưa như gửi điện tín bằng máy Telex (sau bằng máy Fax), poste restante (thường là thư từ gửi về trạm bưu chính ở thành phố mà người nhận chưa có địa chỉ), hoặc aerogramme (thường là thư gồm 1 trang giấy dùng luôn làm phong bì thư, gởi bằng đường hàng không), đã hoàn toàn biến mất khoảng cuối thế kỷ 20. Tem thư hay bưu cục cho đường bộ hay đường thủy (surface mail) rất phổ biến ngày xưa vì giá hạ so với thư gởi bằng máy bay, hoàn toàn biến mất vào khoảng đầu thế kỉ 21. Bù lại nhiều công ty tư, chuyên nghề chuyển giao hàng hóa, trở nên lớn mạnh. Một hai hãng chuyển giao hiện đang thử lối giao hàng bằng drone, tức máy bay tí hon điều khiển bằng điện tử từ mặt đất.

Trường học mở ra như nấm vào khoảng một hai thập kỷ trước chuyên về các ngành nghề mới như du lịch, quản lý khách sạn, chiêu đãi, barista pha cà-phê, v.v. – nhưng rất khó sống dài lâu. Điển hình là hai ngành nghề xưa là taxi và khách sạn hiện có đối thủ mới dựa vào internet và mobile phone là Uber và Airbnb. Nghề bán vé máy bay (travel agent) cũng bị đe dọa nặng nề bởi internet, trong khi hướng dẫn du lịch lại trở nên thịnh hành, từ chuyện chính là du khách cần người hướng dẫn biết nói tiếng địa phương cho nó tiện.

Những người muôn năm cũ…

N.N.

LTG: Bài này viết lại và thêm thắt một vài chỗ từ một bài viết gấp cho 1 giai phẩm ái hữu ở Bắc Mỹ. Xin thành thật cám ơn các thân hữu, nhất là Quách Đại, đã thúc dục chuyện viết bài cho kịp ngày đăng báo.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s