ĐÀM TRUNG PHÁP – CHỨC NĂNG SO SÁNH CỦA GIỚI TỪ LIKE VÀ NHƯ

SO SÁNH TRONG NGÔN NGỮ

likeSo sánh là một biện pháp tu từ (figure of speech) phổ cập bậc nhất trong ngôn ngữ. Biện pháp này không những chỉ làm ngôn ngữ thêm sinh động mà còn có thể mang đến cho người đọc một thoáng sảng khoái tinh thần, trong cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (nhất là thi ca).

Christina Rossetti (1830-1894) trong bốn câu thơ đã dùng ba giới từ like để diễn tả hạnh phúc của trái tim mình qua âm thanh, hình ảnh, và màu sắc (như một con chim đang hót trong tổ, một cây táo xum xuê đầy trái, một vỏ sò long lanh ngũ sắc trên bãi biển) trích từ một bài thơ viết để đón mừng ngày sinh nhật hạnh phúc của chính mình:

My heart is like a singing bird

Whose nest is in a water’d shoot

My heart is like an apple-tree

My heart is like a rainbow shell

Trong khi đó, bốn giới từ như được sử dụng tài tình trong bốn câu thơ trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820) để diễn tả tiếng đàn đa dạng Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe lần thứ nhất bằng cách so sánh nó với các hình dung từ phù hợp với thị giác và thính giác là “trong, đục, khoan, sầm sập”:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

CÁC PHƯƠNG THỨC SO SÁNH

So sánh được coi như một sự lượng giá giữa yếu tố được đề cập đến [A] và yếu tố làm mẫu để so sánh [B] theo các phương thức [A = B], [A > B], [A < B], và [A > tất cả].

Trong các phương thức nêu trên, ký hiệu “ = ” đọc là như, ký hiệu “ > ” đọc là hơn, và ký hiệu “ < ” đọc là kém.

  1. Phương thức so sánh căn bản [A = B]

[A=B] là phương thức so sánh phổ cập nhất, như thấy trong câu ca dao lục bát dưới đây:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi như đứng đống lửa như ngồi đống than

trong đó câu lục là yếu tố [A] và câu bát là yếu tố [B] sử dụng hai so sánh cùng một lúc.

Khi William Wordsworth (1770-1850) chán chường thế sự đã so sánh sự lãng du cô đơn của mình với một áng mây trôi:

I wandered lonely as a cloud | Ta lang thang tựa mây trôi

That floats on high o’er vales and hills | Lững lờ trên những núi đồi ruộng nương

Để giới thiệu một giai nhân chẳng phải là người trong cõi chúng ta, Đinh Hùng (1920-1967) sử dụng một lúc hai so sánh tráng lệ cho nàng “Kỳ Nữ” mà chỉ thi nhân mới nhìn thấy:

Em rực rỡ như muôn ngàn hoa sớm

Em đến đây như đến tự thiên đường

  1. Phương thức [A = bao nhiêu] so với [B = bấy nhiêu]

Phương thức đặc biệt này có thể dùng để cho sự so sánh được coi là tuyệt đối chính xác. Trong tiếng Việt, nếu [A] có trạng từ chỉ số lượng “bao nhiêu” thì [B] có trạng từ chỉ số lượng tương đương “bấy nhiêu” đáp lại, như trong câu ca dao hàm ý một mối sầu ray rứt:

Cầu bao nhiêu nhịp | dạ sầu bấy nhiêu

Phương thức nêu trên cũng thấy biểu hiện trong câu nói tiếng AnhThe more we get to know Jack, the less we trust him.”

  1. Phương thức so sánh [A < B]

[A < B] được thấy rõ rệt khi William Shakespeare (1564-1616) so sánh sự yếu đuối của mình với một giọt lệ nữ giới:

I am weaker than a woman’s tear | Tôi yếu hơn giọt lệ một đàn bà

  1. Phương thức so sánh [A > B]

[A > B] được biểu hiện trong câu nói “So về tuổi tác thì cụ Nam già hơn tôi rất nhiều.”

  1. Phương thức so sánh [A > tất cả]

[A > tất cả] đã được William Wordsworth (1770-1850) sử dụng để đề cao sự hấp dẫn vào bậc nhất của một kiều nữ bí mật: Nàng như một bông hoa đổng thảo mọc bên cạnh một tảng đá rêu phong, ít người đã thấy. Nhưng nàng đẹp hơn cả vì sao duy nhất long lanh mỗi tối trên trời :

A violet by a mossy stone | Bông đổng thảo cận kề phiến đá

half-hidden from the eye | nửa khuất che con mắt người ta

fair as a star when only one | đẹp như sao khi chỉ một ngôi

is shining in the sky | long lanh sáng trên trời mỗi tối

  1. Phương thức so sánh [A = B] nhưng chỉ [B] được thêm chi tiết

Phương thức này là một biện pháp tu từ mà Nguyên Sa (1932-1998) sử dụng để so sánh (“ví”) đôi mắt một phụ nữ nào đó với một vì sao chắc chưa ai đã được thấy trên trời:

Tôi muốn ví mắt em như một vì sao

chưa có ở trên trời

một vì sao ngủ muộn hơn sao hôm

dậy sớm hơn sao mai

mà lòng tôi vẫn nhìn

chưa bao giờ chớp mắt

như em vẫn nhìn

nụ cười của em

trong mắt tôi!

  1. Phương thức so sánh ở cuối văn cảnh

Sự so sánh có thể sẽ thấm thía hơn nếu được sử dụng ở cuối một văn cảnh, trong đó các cảm nghĩ đi trước hầu như đã “chuẩn bị” cho sự so sánh đó. Nhận xét này người viết thấy ở trong một bài thơ có thể làm người đọc rơi lệ thương cảm của thi sĩ người Anh yểu tử chuyên viết về chiến tranh là Keith Douglas (1920-1944). Ông đã diễn tả cái chết của một thiết giáp binh người Đức trong thế chiến thứ hai, qua một so sánh thảm thê. Bài thơ nhắc tới một chiến xa đã bị phá hủy, trong đó người ta tìm thấy một tấm hình của người yêu anh thiết giáp binh ấy. Bên dưới chữ ký trên tấm hình tặng anh, cô gái còn nắn nót viết thêm chữ “Vergissmeinnicht” (tên một loài hoa trong tiếng Đức có nghĩa đen là “Đừng quên em nhé”) để nhắc nhở chàng lính trẻ ấy phải mãi mãi nhớ đến cô. Nhưng phũ phàng thay:

But she would weep to see today | Nhưng cô khóc hôm nay khi thấy

how in his skin the swart flies move | bầy ruồi đen bâu kín da chàng

the dust upon the paper eyes | bụi phủ đầy trên đôi mắt giấy

and the burst stomach like a cave | dạ dầy banh như một cái hang

SO SÁNH SINH ĐỘNG

Ngoài “ like” ra, tiếng Anh còn có “similar to, close to, comparable to, corresponding to, the same as, not unlike …” có thể dùng để so sánh trong phương thức [A = B], cũng như tiếng Việt ngoài “như” còn có “giống, tựa, khác nào, y hệt…” để thực hiện chức năng này.

Nhưng vì “like” và “như” quan trọng và phổ cập nhất, người viết xin liệt kê dưới đây một số thành ngữ (idioms) so sánh khá sinh động qua hai giới từ này để quý bạn đọc thưởng lãm :

Xin lưu ý : Ký hiệu “ ~ ” có nghĩa là“có thể coi như tương đương với.

like a bat out of hell ~ như bị ma đuổi. Hearing the bad news, Jim ran home like a bat out of hell.

like a cat on a hot tin roof ~ như đứng đống lửa.

Nervous about her job interview, Lisa was like a cat on a hot tin roof.

like a champ ~ như một tay vô địch. He got through the tough contest like a champ.

like a chicken with its head cut off ~ như rắn cụt đầu. Lisa ran around the airport to look for her lost bag like a chicken with its head cut off.

like a fish out of water ~ như cá ra khỏi nước. Using a PC for the first time, I felt like a fish out of water.

like a lamb to the slaughter ~ như bị làm dê tế thần. She decided to meet a stranger, little knowing that she would go like a lamb to the slaughter.

like a shot ~ như chớp. When the nurses asked for blood donors, Bill raised his hand like a shot.

like as not ~ như có chút hy vọng. Like as not it will rain tonight.

like as two peas in a pod ~ như hai giọt nước. They are not even brothers, but they are like as two peas in a pod.

like crazy ~ như điên khùng.

Lisa and her new boyfriend danced like crazy at the party.

like father, like son ~ cha nào, con nấy. Mr. Smith also became a teacher – like father, like son.

like hell ~ như cho chết luôn. The poor young man ran like hell to catch the train.

like hot cakes ~ như tôm tươi . Believe me, your splendid paintings will go like hot cakes.

like pigs in clover ~ như chuột sa chĩnh gạo. Jim and his brother inherited plenty of properties from their parents, so they live like pigs in clover.

like shooting fish in a barrel ~ như bắt cua trong rọ. Sending an email today is like shooting fish in a barrel.

like water off a duck’s back ~ như nước đổ đầu vịt. The serious advice from Bob’s parents rolled off him like water off a duck’s back.

ĐÀM TRUNG PHÁP

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s