Nguyễn Giang Thành – Không Gian và Thời Gian

khonggianthoigianTháng 9 năm 2011, trên khoahocnet, Uyên Hạnh viết một bài giới thiệu tác phẩm “Vũ Trụ Trong Một Nguyên Tử” (The Universe in a Single Atom: The Convergence of Science and Spirituality) của ngài Đạt Lai Lạt Ma, bản dịch của Trần Uyên Thi. Trong chương III, Lạt Ma viết:

Trong triết học Phật giáo, ý niệm “thời gian là tương đối” không phải là xa lạ. Trước thế kỷ thứ II, phái Kinh lượng bộ (Sautrāntika) đã phản bác ý niệm cho rằng thời gian là tuyệt đối. Họ vẽ thời gian trên một cái trục quá khứ, hiện tại, và vị lai, và chứng minh mối quan hệ hỗ tương của ba thời và lập luận rằng ý tưởng về sự có mặt biệt lập của ba thời này là không bền vững và không có cơ sở.

Họ cho thấy rằng thời gian không phải là một thực thể thực có trong bản thể, tồn tại độc lập với những hiện tượng có thời tánh mà là một tập hợp những liên hệ giữa các hiện tượng xảy ra. Ngoài các pháp (những hiện tượng xảy ra trên dòng thời gian) mà ta dựa vào để lập ra ý niệm về thời gian, không hề có một cái “thùng lớn” (vessel) trong đó mọi sự vật và sự kiện xảy ra, không hề có bất cứ một cái gì tuyệt đối và tự nó tồn tại.

Khái niệm về tính tương đối của thời gian, sau đó được Long Thọ phát triển thêm, phần nhiều mang tính cách triết học, nhưng khái niệm này đã được duy trì từ gần hai ngàn năm nay. Mặc dầu tôi nghe nói là một số nhà khoa học xem liên tục thể không gian – thời gian bốn chiều của Einstein như một cái “thùng” tồn tại trên cơ sở có tự tánh, trong cái thùng đó các sự kiện xảy ra… nhưng đối với một nhà tư tưởng Phật giáo quen thuộc với tư tưởng của Long Thọ, sự chứng minh của Einstein về thuyết tương đối của thời gian, nhất là qua những thí nghiệm tưởng tượng của ông, rất có ích trong việc đào sâu thêm sự hiểu biết về tánh tương đối của thời gian.

Khoa học Tây Phương cho đến thế kỷ 19 vẫn cho rằng không gian có ba chiều, và cũng như thời gian, chúng đều là tuyệt đối. Nhưng đến cuối thế kỷ 19, khi các nhà khoa học nhận thấy vận tốc của ánh sáng là không đổi thì cơ học Newton đã bắt đầu bị rung chuyển. Cuối năm 1905, khoa học gia Albert Einstein đưa ra một lời giải thích cho chuyện bất biến của vận tốc ánh sáng. Ông giải thích rằng để vận tốc ánh sáng là không đổi trong các hệ quy chiếu quán tính thì không gian và thời gian phải thay đổi. Và một lý thuyết vật lý, gọi là thuyết tương đối hẹp đã ra đời.

Theo Einstein, thời gian là chiều thứ tư của không gian, gắn liền với ba chiều không gian kia. Ông gọi chung bốn chiều này là không-thời-gian (spacetime). Không-thời-gian này không bất biến như không gian và thời gian trong khoa học cổ điển, mà chúng có thể co giãn. Chúng bị ảnh hưởng và bị chi phối bởi vật chất. Hình ảnh minh họa nổi bật cho điều này là hình ảnh giống như một cái phểu của không-thời-gian chung quanh một lỗ đen (black hole), trong thuyết tương đối rộng.

Đầu thế kỷ 20, nhà khoa học thiên tài Albert Einstein đã khởi phát một cuộc cách mạng về nhận thức trong khoa học khi đưa ra ý niệm không-thời-gian tương đối, thì đầu thế kỷ 21, ngài Đạt Lai Lạt Ma, người đại diện cho Phật Giáo trên thế giới hiện nay, xác nhận rằng trước thế kỷ thứ 2, phái Kinh lượng bộ cũng đã phản bác quan điểm thời gian là tuyệt đối. Ngoài sự xác nhận của Lạt Ma, thì còn có bằng chứng nào khác để bảo đảm rằng hệ phái này, rõ ràng, đã cho rằng thời gian là tương đối?

Nói đến Phật giáo, chúng ta không thể không nói đến Vô Thường. Đơn giản là vì Vô Thường là một trong tam pháp ấn. Lý Vô Thường trong Phật giáo có thể được phát biểu bằng nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một vài cách:

Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.”

Những gì có tướng đều là hư vọng.

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điển…”

Tất cả các pháp hữu vi

đều như mộng huyễn,

như sương khói,

như bọt nước…

(ý nói không tồn tại lâu dài).

Chuyển các kinh văn trên sang ngôn từ hiện đại, thì có nghĩa là tất cả những gì thuộc về vật chất đều phải thay đổi. Nhưng thế nào là vật chất? Cái gì có khối lượng hay năng lượng thì đều là vật chất. Không gian và thời gian đều không có khối lượng, cũng không mang năng lượng. Chúng không thuộc về thế giới vật chất. Chúng không thể bị tác động hay bị ảnh hưởng bởi bất cứ một vật thể nào. Chuyển sang thuật ngữ Phật giáo, thì không gian và thời gian là vô hình vô tướng, và vì thế chúng không bị chi phối bởi lý vô thường. Chúng là bất biến, là không đổi thay. Vì thế, bất cứ ai, bất cứ lý thuyết nào cho rằng không gian, hoặc thời gian, hoặc cả hai, là tương đối, là thay đổi được, thì quan điểm đó, lý thuyết đó là không phù hợp với giáo pháp.

Trở lại với thuyết tương đối, thì không-thời-gian còn dẫn đến một hệ quả rất lạ lùng là các đường ranh phân biệt giửa quá khứ, hiện tại, và tương lai không còn nữa. Giáo sư Phạm Xuân Yêm đã nói về tính chất này trong bài “Khối Lượng và Phương Trình của Thế Kỷ E = mc2” như sau:

Không có mũi tên thời gian lạnh lùng trôi của trực giác mà cơ học cổ điển Newton thừa nhận, cũng không có khái niệm hiện tại, cái bây giờ chẳng thể xác định và giữ vai trò ưu tiên đặc thù nào hết vì cái lúc nào phải đi với cái ở đâu. Hơn nữa, không gian và vật chất, cái vỏ chứa và cái nội dung chứa đựng trong vỏ, lại như hình với bóng trong vũ trụ co dãn (thuyết tương đối rộng). Đã không có hiện tại thì nói chi đến quá khứ và tương lai, đó là nội dung triết học quá ư kinh ngạc của thuyết tương đối hẹp và rộng trong nhận thức về thời gian, nó không phải là mũi tên trôi một chiều từ quá khứ đến tương lai mà chỉ là một trong bốn thành phần của một thực tại mang tên gọi không-thời gian [1] chẳng cứng nhắc mà đàn hồi.”

Bởi vì lằn ranh giửa ba thời không còn nữa, trong thuyết tương đối không có chỗ cho sự tồn tại về các mối liên hệ giửa nhân và quả. Trong khi đó, trong Phật giáo, với những ý niệm tách bạch về quá khứ, hiện tại và tương lai trong dòng thời gian lưu chuyển không ngừng nghỉ, lý nhân quả là một nguyên lý xuyên suốt và tỏa khắp trong Phật pháp không bến bờ.

Các điểm khác biệt giửa thuyết tương đối và Phật giáo là rất rõ ràng. Mặc dù Albert Einstein là một nhà khoa học thiên tài và thuyết tương đối của ông là một trụ cột trong vật lý hiện đại, nhưng không vì thế mà có thể nói rằng thuyết tương đối là phù hợp với Phật giáo hay Phật giáo là tương đồng với thuyết tương đối.

Nguyễn Giang Thành

  1. Những người ủng hộ thuyết tương đối, bao gồm giáo sư Phạm Xuân Yêm, cho rằng thực tại là không-thời-gian bốn chiều. Tôi đã nêu vấn đề là vậy thì tại sao trong cơ học tương đối tính, các khái niệm vật lý cơ bản lại không được định nghĩa trong không-thời-gian bốn chiều?

https://khoahocnet.com/2017/01/08/nguyen-giang-thanh-mot-van-de-trong-co-hoc-tuong-doi-tinh/

Ghi chú của khoahocnet.com: Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s