Nguyên Lạc – Quẻ Dịch, Cách Lập Và Giải Đoán (Bài 4)

cungbatquaiThế là các bạn hiền đã qua được 3 bài của Quẻ Dịch! Nhức đầu không các bạn! Thôi thì chúng ta hãy vui chút trước khi vào bài 4. Nếu chưa thông, xin các bạn vui lòng ôn lại, “tại hạ” cảm ơn!
Nào, NL tui sẽ kể cho các bạn nghe một chuyện tiếu lâm.
– Ê khoan! sao lại có tếu, cười trong này?
– Sao lại không được! Để tui thủ thỉ với các bạn những kinh nghiệm mà tui đã rút ra được từ cõi đời này.
Bạn! hãy cẩn trọng với những người không biết cười! Cẩn trọng trong tiếng Mỹ là Beware of (giống như Beware of Dog: coi chừng chó dữ).

Mẹ, những người thương ta, thường cười với ta! Lenin, Stalin,Hitler, Mao không biết cười, triệu triệu người vong mạng! Ông Khổng Tử nghiêm nghị, biết bao “con hát” bị tàn hại một cách vô tội như Nguyễn Ngọc Ngạn đã viết trong ” Kỷ Niệm Sân Khấu”!
Smile is the best medicine in the world…… So keep Smiling! (Cười là liều thuốc vạn năng,… hăy luôn cười!)
Vậy chúng ta tìm một chút thoải mái trước khi vào bài học nhức đầu phải không?!
Tui sẽ kể cho các bạn nghe chuyện về tuổi. Bạn từng nghe qua chuyện tuổi Tí chưa?
Tui xin kể tiếp đây. Chuyện rằng:
Có một nhà nho thì đỗ, được vua bổ nhậm làm tri huyện ở một huyện nọ. Ông rất thanh liêm, không bao giờ nhận của đút lót. Do đó, khi về hưu, ông trở về quê sống rất đạm bạc với người vợ già, trong căn nhà nhỏ trên mảnh đất hương quả. Cuộc sống ngày càng khó khăn, thiếu trước hụt sau… Hàng ngày ông ra vào thở vắn than dài. Nhớ mùi thịt béo, nhớ hơi rượu nồng mà ông thiếu vắng bấy lâu nay. Người vợ nhìn chồng mà đau đứt ruột!
Buổi nọ, người vợ dọn lên bàn một đĩa thịt gà và một chai rượu tăm. Mùi rượu thịt xông lên làm ông rỏ dãi! Chưa kịp hỏi vợ, ông gắp nhai một miếng thịt, chiêu một hớp rượu, rồi khà một tiếng rõ to!
Một luồn sảng khoái rần lên trong người ! Ôi hạnh phúc!
Ông tì tì thưởng thức, thoáng chóc đã sạch láng rượu thịt. Mặt mài hớn hở, ông hỏi bà vợ:
– Đâu mà bà có được điều tuyệt diệu này?
– Dạ thưa quan anh, thiếp không dám dấu diếm Ngài. Số là lúc quan anh còn làm tri huyện, một bữa nọ, có một thương nhân đến lén gặp thiếp và hỏi tuổi quan anh, nói là sẽ tặng quan anh một món quà đặc biệt cho sinh nhật. Thiếp nói rằng quan anh tuổi Tí. Ngày hôm sau anh ta lén đưa thiếp một con chuột nhỏ bằng vàng. Thiếp dấu cho đến tận bây giờ, làm của phòng thân lúc khó khăn. Gần đây, thiếp không đành nhin quan anh rầu buồn, nên mới đem bán nó mua chút rượu thịt và một số gạo thóc dành cho việc ăn uống hàng ngày. Xin quan anh thứ lỗi!
– Chậc chậc, ông nhà nho tặc lưỡi, tiếc quá, tiếc quá, phải chi bà sụt tôi một tuổi, nói tôi tuổi Sửu!!!
Sao vui (buồn?) chưa, đầu óc thoải mái chưa? Nào ta bắt đầu bài 4:

C. GIẢI ĐOÁN QUẺ
“Quẻ vạch đã lập, liền có lành dữ vì là Âm Dương đi lại giao thác ở trong. Thời của nó thì có tiêu đi, lớn lên khác nhau: cái lớn lên là chủ, cái tiêu đi là khách; việc của nó hoặc có nên chăng khác nhau, cái nên là thiện, cái chăng là ác. Theo chỗ chủ khách thiện ác mà phân biệt thì sự lành, dữ sẽ rõ. Vì vậy nói rằng: Tám Quẻ định sự lành dữ. Sự lành dữ đã quyết định không sai, thì dùng nó để dựng các việc, nghiệp lớn sẽ từ đó sinh ra. Đó là thánh nhân làm ra Kinh Dịch, dạy dân xem bói, để mở cái ngu của thiên hạ, để định cáichí của thiên hạ, để làm nên các việc của thiên hạ, là thế.Có điều từ Phục Hy về trước chỉ có sáu vạch, chưa có văn tự truyền được; rồi đến Văn vương Chu công mới đèo thêm lời, cho nên nói rằng: “Thánh nhân đặt quái xem Tượng, đèo Lời vào để tỏ lành dữ”. Khi Quẻ chưa vạch, nhân xem pháp tượng tự nhiên của trời đất mà vạch ra; đến lúc Quẻ đã vạch rồi, thì quẻ nào riêng có Tượng của quẻ ấy.
Tượng nghĩa là có chỗ giống giống, cho nên thánh nhân mới theo tượng đó mà đặt ra tên. Văn vương coi hình tượng của quái thể mà làm Thoán từ. Chu công coi sự biến đổi của quái hào, mà làm Hào từ, cái Tượng của sự lành dữ lại càng rõ rệt.”
(Ngô Tất Tố)
Như đã biết ở trên, Thoán từ và Hào từ quá đơn giản, ít ai hiểu, nên người đời sau phải chú thích thêm, tổng hợp thành bản Thập dực. . Thập dực còn được gọi là Thập truyện (truyện là giải thích). Đại truyện giải thích Thoán từ, Tiểu truyện giải thích Hào từ.
Sau khi lập được quẻ, ta đối chiếu với Kinh Dịch để tìm ra quẻ tương ứng. Căn cứ vào lời lẽ của quẻ trong Kinh (Thoán từ, Hào từ và Thập truyện) ta có thể xác định được cát hung họa phúc, đồng thời tìm ra biện pháp đối ứng.
Một số thuật ngữ cần biết:
Tứ Đức: Đọc các quẻ, chúng ta sẽ gặp những chữ này: nguyên, hanh, lợi, trinh, mà Chu Dịch gọi là tứ đức, có thể hiểu là bốn đặc tính của các quẻ.
Ý nghĩa thông thường của tứ đức đó như sau:
– Nguyên là đầu tiên, lớn, trùm mọi điều thiện.
– Hanh là hanh thông, thuận tiện, tập hợp các điều hay.
– Lợi là nên, thỏa thích, hòa hợp các điều phải.
– Trinh là chính, bền chặt, gốc của mọi việc.
Và vài chữ khác: Cát (một quẻ cát) nghĩa là tốt lành. Hung ngược lại với cát, xấu nhất. Hối là lỗi, ăn ăn. Lận là lỗi nhỏ, tiếc. Vô cữu là không có lỗi hoặc lỗi không về ai cả.
1/ Quẻ tĩnh
Khi đọc giải quẻ, nếu trong 6 hào không có hiện tượng hào biến:
— xem tên quẻ, tượng quẻ, thoán từ, thoán truyện để đoán định.
— Không xem hào từ.
2/ Quẻ có hào động (hào biến)
Khi trong quẻ có hào động phải căn cứ theo các nguyên tắc sau:
— xem tên quẻ, tượng quẻ, thoán từ và thoán truyện của quẻ chủ (quẻ gốc)
— xem hào từ của hào động quẻ chủ
— xem thoán truyện của quẻ biến
Hào động rất quan trọng vì nó chỉ ra cát hung, được thua, còn mất… và chỉ ra nguyên nhân cùng cách ứng biến. Phải lấy hào từ của nó làm chủ (làm chính) dù nghĩa có ngược với thoán từ, thoán truyện!
Cách chọn hào chủ (hào từ) của các hào động
— Khi có 1 hào động: xem hào từ của hào động đó
— Khi có 2 hào động: Dựa vào hào từ của 2 hào biến trong quẻ biến để đoán định, đồng thời dựa vào hào biến phía trên để làm chủ (hào chủ) nếu 2 hào khác nhau, hào biến phía dưới làm chủ nếu 2 hào giống nhau.
— Khi có 3 hào động: Nếu hào biến không bao gồm hào sơ thì lấy quẻ gốc làm chính, nếu hào biến gồm cả hào sơ thì lấy quẻ biến làm chính và xem hào biến ở giữa là chủ.
— Khi có 4 hào động: Dựa vào hai hào tĩnh (không biến) để đoán định, đồng thời dựa vào hào tĩnh phía dưới làm chủ nếu 2 hào giống nhau, hào tĩnh phía trên để làm chủ nếu 2 hào khác nhau
— Khi có 5 hào động: Dựa vào hào tĩnh (không biến) của quẻ biến để đoán định.
— Khi cả 6 hào đều động: Quẻ Càn thì dùng hào từ “dụng cửu”, quẻ Khôn thì
dùng hào từ “dụng lục” để đoán định. Các quẻ còn lại thì dựa vào quái từ và thoán từ, tượng từ, thoán truyện của quẻ biến để đoán định.
Trong sách bói, lý số, ngoài việc tìm biến quái người ta còn dùng Quẻ hỗ (Hỗ quái):
Cách lập thành hỗ quái :
– Trừ hào trên cùng, lấy từ hào 5 xuống ( 5,4,3), để lập ngoại quái
– Trừ hào dưới cùng, lấy từ hào 2 trở lên (2,3,4) để lập nội quái
Thí dụ: Quẻ Sơn Hỏa Bí trên (quẻ chủ), hào 5 (âm) là hào động, đổi âm thành dương thành quẻ biến là Phong Hỏa Gia Nhân và có quẻ hỗ là Lôi Thủy Giải

1
Nhiệm vụ các quẻ:
— Quẻ chủ (quẻ gốc) là chủ của sự việc, cũng là giai đoạn đầu
— Quẻ hỗ là sự hỗ trợ để tìm diễn biến của sự việc, cũng là giai đoạn trung gian.
— Quẻ biến là chung cuộc, là kết quả.
Phải lấy quẻ chủ làm trung tâm, không được phân tán, xa rời. Khi không cần thiết thì không cần xem quẻ hỗ và quẻ biến.
***
Để hiểu thêm về phương pháp đoán quẻ, chúng tôi trích một số mẩu chuyện sau đây để các bạn tham khảo.

1- C. G. Jung bói về việc viết Lời Giới thiệu Kinh Dịch cho bản dịch tiếng Anh

2

Thoán từ quẻ Khảm bảo: Hai lớp Khảm( tức hai lần hiểm) nhưng có đức tin, chỉ trong lòng là hanh thông, cứ tiến đi (hành động) thì được trọng và có công.
Thoán từ quẻ Tỉnh bảo: Giếng đổi ấp chứ không đổi giếng, nước giếng không kiệt mà cũng không thêm, người qua người lại để múc nước giếng. Gần đến nơi (đến giếng) chưa kịp thòng cái gàu xuống mà bể cái bình đựng nước thì xấu.
Cứ theo Thoán từ 2 quẻ đó thì ông nên có đức tin, cứ tiến đi sẽ giúp ích được cho mọi người, như nước giếng. Còn lời khuyên thận trọng đừng để bể cái bình đựng nước thì có vẻ không liên quan gì đến điều ông hỏi cả, có thể bỏ.
Hào từ của hào 3 quẻ Khảm nói hào nầy âm nhu, bất trung, bất chính, ở trên quẻ nội Khảm, tiến lên thì gặp ngoại Khảm, toàn là hiểm cả, cho nên xấu.
Tuy nhiên đó chỉ là mới khởi đầu, chưa biến. Khi biến thành hào 3 quẻ Tỉnh thì hóa tốt, vì Hào từ bảo: Hào này là người có tài, ví như cái giếng nước trong mà không ai múc.
Nếu được dùng thì sẽ giúp cho mọi người được nhờ. Vậy là công việc làm sẽ có ích. Cái ý hiểm trong hào 3 quẻ Khảm (quẻ chủ) không liên quan gì đến việc viết Giới thiệu , có thể bỏ.
Nhưng Jung cơ hồ không theo sát ý nghĩa hào 3 khi chưa biến và khi đã biến, chỉ dùng cái ý hào 3 quẻ Tỉnh rồi kết hợp với ý hào 1 cũng quẻ đó là cái giếng cũ, bùn lầy, không ai dùng nữa và đóan rằng nên viết lời Giới thiệu, vì Kinh Dịch “như một cái giếng cổ, bùn lầy lấp cả rồi, nhưng có thể sửa sang mà dùng lại được”. đóan như vậy không thật đúng phép (vì hào 1 quẻ Tỉnh, không phải là hào chủ, đáng lẽ không được dùng để đóan) nhưng có thể tạm chấp nhận được vì vẫn là dùng lời trong quẻ Tỉnh, không lạc đề hẳn.
2. Tấn Thành Công trở về nước :
Sách Quốc ngữ kể : Tấn Thành Công lưu vong ở Chu. Khi Thành Công trở về Tấn, một người nước Tấn bói xem lành dữ ra sao ?

3

Xem xong kết luận là việc Thành Công về Tấn bất thành. Quả nhiên là thế. Lập luận như sau :
Càn là trời, là quân (vua), phối với trời là tốt. Nhưng quẻ dưới của Càn biến thành Khôn (là đất,là thần), tức là quân biến thành thần, nên không có kết quả. Quẻ lại có 3 lần biến, nên vua phải 3 lần ra khỏi nước. Lại thêm, Thoán từ: bĩ chi phỉ nhân, bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai., nên kết luận là không tốt, bất thành.
3.Trùng Nhĩ về nước :
Sách Quốc ngữ viết : Trùng Nhĩ (sau này là Tấn Văn Công) muốn về nước làm vua,

4

Đưa cho thầy bói xem và Tư Không Qu. xem.
Thầy bói cho rằng : Quẻ Truân dưới là Chấn (xe),trên là Khảm (nước, đường bị nứt); tức xe không đi được (Như đã nói , xét Quẻ từ dưới lên trên), là bế tắc không thông, việc không thành.
Tư Không Qu. dựa vào Thoán từ của quẻ Truân là: nguyên, hanh, lợi, trinh, vật dụng, lợi du vãng, lợi kiến hầu. Thoán từ quẻ Dự lại viết : Lợi kiến hầu hành sư. Rồi kết luận lợi kiến hầu là được việc nước, Trùng Nhĩ nên về nước. Trùng Nhĩ về
nước, làm vua Tấn (và sau này là Bá)
***
Trước khi kết thúc, xin các bạn nhớ lại, sau khi lập được quẻ, ta đối chiếu với Kinh Dịch để tìm ra quẻ tương ứng. Căn cứ vào lời lẽ của quẻ trong Kinh (Thoán từ, Hào từ và Thập truyện) ta có thể xác định được cát hung họa phúc, đồng thời tìm ra biện pháp đối ứng. Nhớ là phải giải đoán từ dưới lên trên, từ Nội Quái lên Ngoại quái!

Nguyên Lạc

(còn tiếp)
________________________________________________________________
Tham Khảo: Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Wu Wei, Richard Wilhelm, Kiều Xuân Dũng, Đông A Sáng, Internet, Facebook…
*** Nếu vi trục trặc in ấn, các hình Quẻ trông không rõ, xin các bạn tham khảo lại hình tại: “Danh sách 64 quẻ trong Kinh Dịch” ở bài 2.

One thought on “Nguyên Lạc – Quẻ Dịch, Cách Lập Và Giải Đoán (Bài 4)

  1. Xin lỗi các bạn hiền, không biết sao khi đưa lên đây các hình Quẻ bị mất Xin vui lòng tham khảo lại hình tại: “danh sách 64 quẻ trong Kinh Dịch” ở bài 2.
    Và xin ghi rõ lại đoạn văn này (vì nó mất hinh) :”quẻ chủ quẻ hỗ quẻ biến Sơn Hỏa Bí Lôi Thủy Giải Phong Hỏa Gia Nhân” Trong file gốc nó như thế này:
    quẻ chủ (Sơn Hỏa Bí)—> quẻ hỗ (Lôi Thủy Giải) —> quẻ biến (Phong Hỏa Gia Nhân) NL

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s