Elisabeth Nguyễn – Năm Gà nói chuyện con gà

nhathocongaNgôi nhà thờ chánh tòa Dalat được gọi là „Nhà Thờ Con Gà“ biệt danh này do dân chúng Dalat đặt cho từ năm 1931 khi vị LM truyền giáo Céleste Nocolas cho gắn trên tháp chuông nhà thờ một thánh giá và trên đỉnh thánh giá là một con gà trống bằng đồng dài 66cm, cao 58cm. Khoảng cách từ mặt đất lên đến đỉnh thánh giá là 27 m. Con gà trống này có thể quay theo chiều gió, thấy con gà quay về hướng nào thì đó là hướng gió đang ngự trị trong không gian xanh thơ mộng của Dalat.

Thời con bé thơ chúng tôi được sống trong nông trại của đại gia đình nên chúng tôi không xa lạ gì với nhiều loại gà được gia đình đem về nuôi. „gà ri bé giống nhưng mà đẻ mau. Gà nâu chân thấp chắc mình, đẻ nhiều trứng lớn, con vừa khéo nuôi“ v.v…

Chuồng gà thật lớn chứa vài chục con gà, sáng nào lũ nhỏ chúng tôi cũng tranh nhau vào chuồng gà thật sớm để lượm trứng gà trên mặt rơm trong chuồng. Những quả trứng còn nóng hôi hổi được ông bà cho phép cứ thế đập ra mà nuốt. Ơi chao! Nó ngọt làm sao, ngon hết biết… Ngoài những chú gà quen thuộc, trong khoảng sân gia thú chúng tôi còn thấy những chú gà tây to bự, chân dài, cổ cao dài với cái yếm bằng da bèo nhèo lòng thòng trước cổ. Bọn nhỏ chúng tôi chẳng đứa nào ưa thích những con gà này, tiếng kêu của nó cũng khàn khàn dở ẹc à… nhưng lại thích những chú công xinh đẹp đủ màu sắc, mấy chị em nhà công này cũng dữ dằn lắm. Có lần chúng tôi lấy cây chọc các chú, làm các chú tức khí nhảy tới tấn công mổ vào người đau lắm.

Chú Thêm là người chăm nom bầy gia súc cho ông tôi, chú là cuốn sách giáo khoa thư về gà cho lũ nhỏ chúng tôi, chúng tôi luôn thích thú với những điều chú biết, có nhiều điều ngộ lắm. Mỗi lần mở cửa chuồng cho lũ gà bay ra là chú đọc bài thơ con gà, ngày nào chú cũng đọc, lúc nghỉ ngơi ngồi nhìn ngắm đàn gà, chú ngắm nghía con gà trống, chú cũng cao hứng đọc một cách thích thú (tôi còn nhớ bài thơ nhưng không biết có đúng hết không? Chú giải thích cho chúng tôi là con gà trống oai lắm giống như vị võ tướng trong triều đình vậy. Nó có cả văn võ dũng nhân trí). Thơ rằng:

Mào gà là mũ quan văn.

Cựa gà là của quan vũ tài.

Gà trống có cái dũng oai.

Xông vào địch thủ đá hoài không ngơi.

Chữ nhân khi kiếm được mồi.

Chàng là gà trống kêu mời mái ăn.

Chữ trí gà biết đêm tàn.

Gáy vang báo thức cả làng tỉnh mơ.”

coq_gauloisNói về gà trống thì nhiều sách vở ca tụng vẻ đẹp oai phong của chàng lắm. Lúc nào cũng ngông nghênh, kiêu căng . Chả thế mà biểu tượng của nước Pháp là chàng gà trống oai phong lẫm liệt. Nữ hoàng Anh, Victoria cũng ví chàng “gà trống là biểu tượng của người đàn ông. Nhà văn Aldrovandi ca ngợi chú “gà trống là tấm gương tốt nhất, trung thực nhất về người cha trong một gia đình”.

Thượng Đế ban cho chàng gà trống còn được tiếng gáy thật hay và thật to “Ò …ó…o…o…”. Mỗi đêm chàng ung dung vui vẻ ngủ ngon giấc và thức dậy đúng giờ, sảng khoái làm nhiệm vụ gáy tiếng gáy đầu tiên trong đêm lúc 11.30. Tiếng gáy thứ hai lúc 1.30 và lần thứ ba lúc rạng đông. Tiếng gáy được cho là rất chuẩn nên chàng gà được mệnh danh là chiếc đồng hồ báo thức cho nông dân, khi nghe tiếng gáy lúc tảng sáng là thức dậy đi làm. Chàng cũng là đồng hồ của những người sống cùng đò giang trên sông nước miền Nam, họ dựa vào tiếng gà gáy để đoán định giờ con nước lên hay xuống. Vì tiếng gà trống gáy luôn luôn rất gần gũi với người dân trên khắp thế giới, nên Chúa Giêsu ở nước Do Thái đã mượn tiếng gà gáy tiên báo ông Phêrô sẽ chối Thầy. Chúa Giêsu nói với ông Phêrô: “Hôm nay, nội đêm nay, gà chưa gáy hai lần. thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần” Nhưng ông Phêro lại nói quả quyết hơn: „Dẫu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy“. “ (Mc 14, 30-31) . Ông Phêrô tánh tình bộc trực, sôi nổi, thành thật dám quả quyết gắn bó với Thầy mình song lại là người nhát đảm nên đã chối Thầy. Lần thứ nhất ông chối leo lẻo trước người tớ gái của vị thượng tế.: „ Tôi không biết cô nói gì!. (Lc 26,70b) Lần thứ hai trước người tớ gái khác: „Tôi không biết người ấy“ (Lc 26, 72b) Lần thứ ba trước những người đứng gần ông: „Tôi thề là không biết người ấy“ . Ngay lúc ấy có tiếng gà gáy“ (Lc26 74b) Ông sực nhớ Lời Đức Giesu đã nói: „Gà chưa kịp gáy hai lần thì anh đã chối Thầy ba lần“. Ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết“ Lc 26, 75) .

Năm học trung học, tôi còn nhớ cô giáo dạy văn, giảng về „Bài Thơ Chúc Tết Thanh Niên“ . Giọng của cô trầm nhưng trong trẻo, khi giảng về lòng yêu nước giọng cô trở nên mạnh mẽ cương quyết, nhất là khi đọc những lời thơ khuyên răn tuổi trẻ đầy nhiệt huyết của tác giả. Cụ Sào Nam Phan Bội Châu mượn tiếng gà gáy để thức tỉnh lòng người thanh niên yêu nước chống lại nền đô hộ Pháp, khôi phục nền đọc lập cho nước nhà:

Dậy! dậy! dậy!

Bên án một tiếng gà vừa gáy

Chim trên cành lại tỏ ý chào mừng

Xuân ơi xuân có biết cho chăng?

Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng

Hai mươi lẻ đã từng bao chua xót

Thương người khuây khỏa lũ đầu xanh

Thưa các cô các cậu lại các anh

Trời đã mới, người càng nên đổi mới

Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội

Ghé vai vào xốc vác cứu giang sơn

Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan

Đây đoàn thể quyết phen thành lập lại

Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi

Cởi lốt xưa tu dưỡng lấy tinh thần

Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn

Đúc gan sắt để dời non lấp biển

Xôi máu nóng rửa vêt dơ nô lệ

Mới thế này mới là mới chứ quân

Chữ rằng: nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân“

hinh-anh-con-ga-11Lũ nhỏ chúng tôi thích những thím gà mái nhu mì hiền lành hơn mấy chàng gà trống, vì ngày nào cũng được các thím tặng cho mỗi đứa một quả trứng màu hồng hồng xinh xinh nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Hôm nào nhiều quá thì bà nội tôi nói, bỏ vào rổ đem lên trường học biếu thầy giáo. Hình ảnh thím gà chân chỉ, chăm chút dẫn dắt đàn gà con chíu chít đi ăn thật là đẹp và đầy tình thương yêu của người mẹ, hai chân khẳng khiu thím ấy bới bới đống rác hay vạt đất dưới chân mà tìm thấy có mồi ngon, thím kêu cục cục… cục cục… một cách âu yếm gọi đàn gà con đến mà ăn “con gà không vú nuôi nổi chín mười con” là thế. Khi đàn con no nê thím tìm một bóng mát dưới gốc cây, lấy hai chân bới bới cho sạch chỗ nằm rồi xòe đôi cánh ra ấp ủ hết cả bầy gà con khoảng chục chú bé môt cách nồng nàn. Như gà mẹ ủ ấp con dưới cánh, Chúa thương con ấp ủ con đêm ngày (lời một bài hát). Tình thương của Chúa Giêsu với thành Gierusalem cũng được diễn tả „Đã bao lần ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp con dưới cánh, mà các ngươi không chịu“. Nhìn những chú gà chỉ mổ từng hạt thóc hạt cơm rơi vãi hay ăn vài con côn trùng nho nhỏ như con sâu, con trùn be bé, gà ăn ít thế… mà lớn lên mập mạp dâng hiến cho con người môt món thịt thơm ngon mềm mại…

Mỗi lần nhà có khách hay dịp giỗ chạp, chú Thêm rất hãnh diện chọn cho mẹ tôi những con gà mập mạp, thịt ngon mềm, đó là “gà ba tháng vừa ăn, ngựa ba năm cưỡi được”. Chú bắt trói hai chân gà lại rồi vỗ vỗ lên đầu chúng: đừng trách tao nhé, ngày mai mày được hóa kiếp đấy… mày phải biết rằng „người khôn ăn miếng thịt gà, tuy rằng ăn ít nhưng mà no lâu“ rồi chú đem nhốt riêng vào một chỗ chờ ngày hôm sau cắt tiết. Làm thịt gà thì phải nhổ lông cho đúng gà nhổ đằng bụng, chim nhổ đằng lưngvì lưng gà thì cứng, lưng chim thì mềm. “Ăn vịt thì ăn vịt già, ăn gà thì ăn gà non”. Vịt già thì thịt không hôi, gà non thì thịt mền “Gà cựa dài thì thịt rắn (cứng), gà cựa ngắn thì thịt mềm”. Thịt gà thì luôn luôn phải có lá chanh “con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi” .

TrongQuốc Văn Giáo Khoa Thư lớp sơ đẳng cũng có một bài ngụ ngôn nói về con gà trống: „Con hồ (chồn) và con gà trốngMột hôm, con hồ gặp con gà trống ở bụi tre, Gà sợ, kêu rối rít. Hồ cũng sợ chủ nhà họ bắt được thì họ đập chết. Hồ bèn lấy lời ngon ngọt dỗ gà rằng: „Sao bác lại gắt gỏng như vậy? Tôi với bác là bà con với nhau cả đấy mà“ Gà thấy hồ nói dễ nghe cất tiếng gáy vui vẻ lắm. Hồ khen nức nở: „Ôi chao! Bác gáy sao mà hay thế“. Cứ thế con hồ ra sức nịnh nọt, ca tụng dụ dỗ chàng gà trống hãy nhắm mắt lại thì tiếng gáy sẽ to hơn hay hơn. Chàng gà trống được tâng bốc lên mây xanh, khoái lắm, liền nhắm mắt định gáy liên tiếp hai ba tiếng „Ò… ó…o…o…“ thì hồ liền nhẩy lên cắn cổ tha về tổ. Đúng là „gà chết vì tiếng gáy“, đã không được thi thố tài năng mà lại làm mồi ngon cho chàng hồ chỉ vì chàng gà thích nịnh, thích được khen.

Xin mượn câu thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân để kết thúc chút tản mạn về chuyện gà trong năm Con Gà „Tết về nhớ bánh chưng xanh. Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà

Elisabeth Nguyễn (Ngày Giáp Tết Đinh Dậu 27.01.2017)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s