Nguyên Nguyên – Những mùa Xuân năm cũ (Bài 2)

internet1Như đã viết trong bài cùng một đề tài hồi năm ngoái, nếp sống nhân loại trong mấy năm gần đây biến đổi quá nhanh. Nhanh đến đỗi đề tài những mùa xuân năm cũ ban đầu định ghi lại (kẻo quên) lối sống của thời xa xưa, cách đây mấy mươi năm, nhưng lần hồi cả người đọc và người viết đều thấy rõ những thay đổi trong vòng mười năm, hai ba chục năm trở lại đây lại quá nhiều và thật ra đòi hỏi phải ghi lại thật nhanh. Bởi chúng mang nhiều tầm vóc quan trọng hơn và ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống hiện tại và những năm tháng sắp tới.

Những mùa xuân năm cũ càng ngày càng mang rõ nét chỉ là những mùa xuân cách đây chừng vài năm, hay trong vòng 5-10 năm trở lại.

Thí dụ điển hình cho thấy như cái màn tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội internet. Bây giờ ở đâu cũng sờ và cần đến internet. Những người sinh sống ở thành thị, nhất là thế hệ X và Y tiến lên tiếp nối thế hệ sinh sung, bình quân mỗi ngày đều phải dùng đến internet hay điện thoại di động, trên dưới 1 tiếng đồng hồ. (Thế hệ X sinh ra đời đại khái từ năm 1960 cho đến 1980, trong khi thế hệ Y, từ 1980 đến 1995). Đặc biệt các cơ quan công quyền, mọi cấp đều tha hồ lợi dụng internet để đỡ tốn chi phí lương phạn cho công nhân viên. Nếu bây giờ một người dân ở bất kỳ một quốc gia nào nói tiếng Anh, điện thoại vào sở cung cấp đường dây điện thoại hay sở điện, sở nước (thật ra các “công” sở này ngày nay thường đã được tư hữu hoá – biến thành tổ chức hoạt động y hệt như các công ty tư), hoặc một công ty bảo hiểm xe cộ chẳng hạn, v.v., họ thường được chỉ dẫn bằng tiếng ghi sẵn, gọi nôm na là “thư âm thanh” voicemail, cách lên trang mạng internet theo địa chỉ của tổ chức mình muốn giải đáp thắc mắc. Trong trường hợp người thắc mắc không mấy rành về internet, chỉ dẫn ghi sẵn sẽ đưa ra một lô tiết mục bằng số. Nếu quý thân chủ muốn thiết lập dịch vụ với hãng chúng tôi – như mua chính sách bảo hiểm mới chẳng hạn – xin bấm số 1 trên ổ số điện thoại. Xin bấm số 2 nếu muốn trả tiền cho hoá đơn mới đến. Bấm số 3 nếu muốn mua thêm một chính sách bảo hiểm khác. Bấm số 4 nếu dịch vụ vì lí do nào đó bị cúp mấy ngày nay. Bấm số 5 nếu muốn hỏi tổng quát với nhân viên chúng tôi. Vân vân và vân vân. Nếu thân chủ muốn nói chuyện trực tiếp với nhân viên của hãng sở, thân chủ phải đợi trong giây lát, và trong khi chờ đợi được nghe nhạc bốn phương yêu cầu, mệt nghỉ. Đến lúc được chuyên viên hãng bắt dây trả lới ở đầu kia, thân chủ thường nghe một giọng tiếng Anh rất rành rọt, nhưng mang chút ít giọng Ấn Độ. Té ra hãng sở nước ta vì muốn tiết kiệm tiền cho thân chủ, đã khoán trọn gói dịch vụ trả nhời điện thoại sang tận xứ Mumbai, ngày xưa có tên là Bombay. Dịch vụ trả lời thắc mắc thân chủ ngày nay đã rời khỏi thành phố hay ngay cả quốc gia, và thường chuyển sang Ấn Độ, Trung quốc, hay Phi-líp-Pin. Ngay cả toà án ở Úc (trong chuyện hỏi đáp về tình trạng hồ sơ ở toà – nhất là toà án gia đình), rồi cả các dịch vụ về bác sĩ, hay y tá trực ban đêm ban hôm. Một số các trung tâm “gọi” ở Ấn Độ sẽ giúp người dân Úc tìm ra bác sĩ trực đến tận nhà người bệnh vào khi tối lửa tắt đèn.

Chuyện xử dụng trung tâm gọi call centres ở Ấn Độ nhiều khi trở thành chuyện cười ra nước mắt. Mới đây một ông ký giả Úc (Paul Sheehan) viết một bài tường thuật kinh nghiệm đau thương khi bắt buộc phải xử dụng trung tâm gọi nằm ở tận bên Ấn Độ khi đường dây điện thoại ở nhà ông bị cắt. (Xem đầy đủ chi tiết ở: trang mạng: http://www.theage.com.au/opinion/politics/your-call-is-important-to-us-20091122-isqh.html ).

Muốn nhớ lại những mùa xuân năm cũ, cách hay nhất là xem phim xưa, thường thường là phim đen trắng. Tất nhiên không bao giờ người xem có thể thấy điện thoại di động hay internet ở trong những phim xưa. Hay ngay cả TiVi hay thứ phim tập Hàn quốc. Dễ đập vào mắt nhất là thói quen hút thuốc lá phì phèo của mọi giới, nam cũng như nữ. Đụng đâu cũng hút thuốc. Rồi còn một tập quán hết sức quen thuộc của người Tây Phương hồi thời đó, là đàn ông vẫn thường đội nón. Kể cả lúc vào nhà hay vào tiệm ăn sang trọng.

gentlemanTiếng Việt thông thường có hai chữ tương đương với “hat” hay “chapeau” là “mũ” và “nón”. “Mũ” mang tình bà con mật thiết với nhiều từ ở Nam Trung Hoa và Đông Dương. Đặc biệt [muaak] Thái, [muak] Khmer, [mou] Quảng Đông, [mau] Hẹ, [mao] Phổ Thông (tức “mạo” hay “mão”, như “áo mão”), viết theo chữ Nho là . Còn “nón” liên hệ đến tiếng Chăm-pa là [don] với biến chuyển phụ âm giữa [n] và [đ] theo kiểu “nác” và “đác” – lối gọi phương ngữ cho “nước”, hoặc “đến nỗi” so với “đến đỗi”. Thật ra “nón” (hay [don] – chữ Chăm) là từ bản địa ưa dùng để chỉ loại mũ có dạng cô-ních (giống cái phễu), như “nón lá”. Thành ra, rất thông thường “nón” được dùng để chỉ hoặc thay cho “cô-ních”: hình nón tức hình cô-ních. Tuy vậy, trong tiếng Việt, nói chung chung ít có phân biệt rõ ràng giữa mũ và nón.

Người Tây Phương cho đến thời thập niên 1950 vẫn có thói quen đội nón khi ra ngoài. Nam cũng như nữ. Xem phim cao-bồi thời đó – thí dụ Rio Bravo, ta vẫn thấy John Wayne vẫn thích đội nón, nhiều khi trong ban đêm ban hôm. Nón cao bồi tiếng Quảng gọi, với âm giống tiếng Việt, là [ngầu giai mũ] – với “ngầu” mang nghĩa “bò”. Nón đàn ông ở thành phố khác với nón cao bồi, với vành nón nhỏ hơn, sang nhất là thứ làm bằng nỉ. Đàn ông ưa đội nón nỉ với bộ côm-lê, khi đi ra ngoài cả ngày lẫn đêm. Đặc biệt giới thám tử – trước thế hệ phim loạt chiếu TiVi Columbo – rất ưa mặc côm-lê đội nón nỉ. Ở Úc có một thứ nón rặt kiểu bản địa gọi là mũ “akubra”. Mũ akubra là một thứ mũ vành rộng, chính thức tiêu biểu cho loại mũ mà người nông dân Úc “không có không được”. Ông cựu phó thủ tướng Tim Fisher dười thời John Howard rất nổi tiếng bởi đi đâu ông cũng ưa đội lên đầu một chiếc mũ akubra. Đây là món quà tặng rất hợp với dân Úc khi có khách khứa bạn bè từ nước ngoài đến thăm, hay người Úc mua mang theo để tặng bạn bè thân hữu khi họ đi du lịch ra nước ngoài.

Người Tây Phương mê đội nón đến độ từ “hat” (hay “cap”) được cải trang mang thêm nghĩa “tư cách”, “cá tính”. Thí dụ, một diễn giả đến nơi nào đó cho một buổi nói chuyện. Bà này vừa là một nhà “xã hội học” vừa là một nhà “tâm lý học”. Bà có thể bắt đầu buổi nói chuyện bằng câu mở đầu: “Hôm nay tôi đến đây nói chuyện với quý vị mà mang hai chiếc mũ. Một là “xã hội học” còn cái kia “tâm lý học”. Cũng chính ở chỗ đó mà sinh ra “chụp mũ” (cap) – như thời thập niên 50’s ở bên Mỹ với phong trào “chống cộng cuồng tín”, nổi tiếng nhất là kiểu của thượng nghị sĩ Joseph McCarthy, song song với khởi màn của chiến tranh lạnh. Điểm chính yếu của phong trào chụp mũ thân cộng ở Mỹ là dạo đó hai bên thường thi đua với nhau các hoạt động điệp viên và tình báo, và phong trào chụp mũ thường được các chính trị gia Mỹ lợi dụng triệt để, để triệt hạ đối thủ chính trị của mình. Trong đó có ông Richard Nixon, mà về sau, khi trở thành tổng thống Hoa Kỳ, chính ông là nhà lãnh đạo Tây Phương đầu tiên đã tiếp xúc, bắt tay, và uống rượu maotai (Mao Đài), với lãnh tụ Trung Cộng là Mao Trạch Đông. Phong trào chụp mũ thân cộng ở Mỹ gây ra chia rẽ xã hội và thất bại ở chỗ rất thường thiếu căn bản pháp lý, dễ bị lạm dụng, cũng như không đủ sức tinh vi để mang lại hiệu quả tốt. Điểm trớ trêu là sau thời McCarthy không lâu, bên Tàu người ta “phát minh” ra chiếc mũ đặc biệt (màu xanh) mà giới lãnh đạo Trung Cộng thường hay đội, khi ra ngoài. Những chiếc mũ Trung Cộng kiểu đó ngày nay trở nên khan hiếm và trở thành hàng “sưu tầm cổ vật” có bày bán trên mạng internet, dưới mục “communist cap”. Ngày nay, vào dịp lễ lớn (như ngày quốc khánh nước Trung, 1 tháng 10) thỉnh thoảng mấy vị lãnh đạo cao niên (đã về hưu) ở khu Trung Nam Hải vẫn lấy ra đội để hoài niệm cái thời xa xưa, trong khi tất cả những vị lãnh đạo hiện đại đều ăn mặc những bộ suit (côm-lê) hàng hiệu đặt may từ Ý hay Pháp, mà hoàn toàn không có đội mũ.

Phong trào đội nón hay mũ khi ra ngoài của người Tây Phương chợt trở nên lỗi thời sau buổi lễ nhậm chức tổng thống của ông John Kennedy vào tháng giêng năm 1960. Hôm đó trời lạnh có tuyết, nhưng ông tổng thống trẻ tuổi đẹp trai của xứ Cờ Hoa lại lăng xê ra một mốt mới là không đội mũ. Ông là vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên không thích đội mũ. Có lẽ bởi ông có một mái tóc hơi dợn sóng rất đẹp. Nhưng thật ra một con én không thể làm nên mùa xuân. Sau lúc ông Kennedy không đội mũ vào lễ nhậm chức tổng thống một vài năm thì ở Mỹ nảy sinh ra phong trào hippie, đặc thù của thế hệ sinh sung và trước đó một chút. Giới hippie lúc nào cũng muốn người khác dễ nhận diện mình, thường gọi theo kiểu hồi xưa là “lập dị”, và họ để tóc dài, cài hoa trên tóc, ăn mặc quần áo nhăn nheo không ủi. Bản “đoàn ca hippie” của họ là “San Francisco” (Are you going to San Francisco) do Scott McKenzie hát, mà ngày nay nghe lại vẫn còn mê mẫn thấy hay. (https://www.youtube.com/watch?v=bch1_Ep5M1s).

Bởi giới hippie ưa để tóc dài, cài hoa, và mang xu hướng chống lại lối sống hay cách ăn mặc của giai cấp vận (bận) “côm-lê”, họ đương nhiên làm quảng cáo không công cho phong trào tiết kiệm tiền nhờ ở chuyện không cần đội mũ nữa. Thế hệ hippie đó giờ đây đã đi vào tuổi lão. Có thể họ tiếc nuối chiếc mũ mà hồi còn trẻ họ giúp đào thải, nên không có dịp dùng, cho nên gần đây báo chí có đăng tin “chiếc mũ” đang lăm le tái xuất giang hồ. Nhìều tiệm bán nón/mũ cho biết nhu cầu về mũ bắt đầu gia tăng so với những năm trước. Giá một chiếc mũ thấp nhất khoảng hai ba chục đô-la, và loại xịn có thể đến $1200 một chiếc.

Thật ra rất khó minh định chiếc mũ bị đề-mốt-đê từ hồi nào bởi song song với chuyện đó là chuyện nam giới từ bỏ lối chải đầu thoa “dầu brillantine” láng bóng vào thời xa xưa cho đến khoảng đầu những năm 1960’s. Điển hình là mái tóc của các thần tượng năm xưa như Elvis Presley hay James Dean, mà ngày nay có thể kiểm chứng dễ dàng chỉ cần bật lên một phim xưa ghi lại bằng dĩa DVD.

Như đã viết ở trên, muốn biết những mùa xuân năm cũ ra sao, dễ nhất là tìm xem trên TiVi một cuốn phim đen trắng quay vào thời đó. Phim đen trắng lại nhắc chúng ta đến loại phim thời sự, rất thịnh hành tại các rạp xi-nê toàn cầu vào thời Ti-Vi, nhất là TiVi màu, chưa được phổ biến. Cho đến những năm 1960-1970’s và tại vài nơi, cho mãi đến những năm đầu của thập kỷ 80’s ở thế kỷ trước, đi xem xi nê khán giả lúc nào cũng được xem một đoạn phim phụ đen trắng thời sự trong tuần hay trong tháng. Thỉnh thoảng lại được xem thêm phim diễu (ngày nay gọi “phim hài”) – thường phim về Ba Anh Chàng Ngáo (The Three Stooges) hay phim hoạt hoạ theo kiểu Con Mèo Chú Chuột, bác Vịt, chú Thỏ, v.v. thường mang tên chung là Looney Tunes. Phim thời sự lúc đó là một kỹ nghệ điện ảnh khá to, nổi tiếng nhất là loại Pathé journal của Pháp. Ở Mỹ thì có Fox Movietone, hay Paramount News. Trong khi ở Úc có đủ thứ phim thời sự, do các hãng lớn như Pathé, Movietone hay Gaumont của Anh quốc. Sự thật kỹ thuật quay phim thời sự cùng với lối nói “thuyết minh” hồi đó vẫn khác với kiểu phát hình tin tức vào lúc 6 hay 7 giờ chiều mỗi ngày hiện nay trên các kênh TiVi. Nhất là thời bây giờ tin tức internet lại bắt đầu nhanh hơn TiVi hay radio của thời xa xưa.

Biến đổi buồn nhất của thời thế kỷ 21 là các rạp xi nê bắt đầu thi đua đóng cửa. Có thể nói trừ những phim cực hay, ngày nay số khán giả xem xi nê ở rạp không bao giờ chật được rạp. Và biến đổi này có thể thấy rất rõ là hiện xảy ra đều đều từng năm cho đến từng tháng. Gần như tất cả những rạp xi nê ngoài trời ở Úc đều đóng cửa. Nhiều thành phố nhỏ hiện nay không còn rạp hát chiếu bóng nào hết. Một số rạp hát chuyên chiếu phim Hong Kong thời xưa cũng đã đóng cửa từ lâu, cách đây cũng trên dưới 20 năm. Nhớ hồi những năm ở thập kỷ 1970’s – phim Tàu bắt đầu được người Tây phương biết đến qua anh chàng Bruce Lee tức Lý Tiểu Long. Mấy rạp hát chuyên chiếu phim tây lập tức chụp cơ hội và mở chiếu các thứ phim kung fu của Shaw Bros (Địch Long, Vương Vũ, Trần Tinh, Sammo Hùng, v.v.), vào xuất khuya, bắt đầu từ khoảng 11 giờ tối, thường là tối chủ nhật. Đặc biệt không ai đi xem phim kung fu khuya khoắc như vậy mà lại buồn ngủ hết.

Bước mở đầu cho khủng hoảng về ngành doanh nghiệp rạp xi-nê chính là sự thịnh hành của các tiệm cho thuê phim băng nhựa, ở thời thập kỷ 80’s của thế kỷ trước. Nổi tiếng nhất là hiệu cho thuê phim băng (rồi đến đĩa DVD) là hiệu Blockbuster xuất xứ từ xứ Cờ Hoa – giống như bánh hamburger McDonald hay Burger King. (Ở Úc Burger King đổi tên thành Hungry Jack’s bởi thời Burger King mới bắt đầu đến Úc, tại Adelaide có một hiệu bán thức ăn mang đi rất nhỏ đã xí mất cái tên Burger King rồi). Nhưng rồi các thứ hiệu cho thuê phim băng hay DVD – một mối đe dọa lớn cho các rạp xi nê – cũng lại dảy chết, trước các rạp xi nê. Đó là khi Tivi dây văng bắt đầu nhảy ra thị truờng ở khắp nơi trên thế giới, song song với việc cóp các phim lậu cho lên dĩa DVD bày bán tại các thành phố lớn ở Á Châu, cùng với các thứ phim tập Hàn quốc. Nhiều thứ phim tập Hàn quốc này dài đến nỗi khi bắt đầu xem, người xem còn đang ở tuổi thanh xuân (mang nhiều lý tưởng xây dựng cuộc đời – đóng góp cho xã hội), mà đến lúc xem đến tập cuối thì tuổi già đã trờ đến hồi nào không hay.

Nói gì thì nói biến đổi xã hội rõ nét nhất là do ở phát minh có thể mang tầm vóc to tát hơn cuộc cách mạng công nghệ ở thế kỷ 18, và đó chính là Internet.

Ngoài xi nê và Tivi, internet, hay nói chung là kỹ thuật dùng số, đã đẩy lùi được: âm nhạc (đĩa hát “album”), sách vở báo chí hay tiểu thuyết (trong đó có các thứ truyện chưởng), các thư viện công cộng, dịch vụ mua vé đi du-lịch nhất là bằng máy bay, các tiệm rửa hình (tráng ảnh) – một thời được xem như máy in ra tiền. Những cửa hiệu mời mọc xem thoát y vũ, cửa hàng xem phim sex, các thứ tạp chí anti thuyết Khổng Mạnh như Playboy, Penthouse, và thậm chí đến những rạp xi nê nhỏ chuyên khoa về điện ảnh xanh (blue movies) lần lượt nghĩ đến chuyện đổi nghề, hay đã đóng cửa dẹp tiệm từ lâu không ai hay biết.

thu-vien-bang-victoria-melbourne-uc-mixtouristNhớ hồi thời cuối thập niên 1970, các thư viện công cộng ở Úc hay ở Mỹ, đều là những tụ điểm được rất nhiều giới bình dân hâm mộ vào buổi tối trong tuần hoặc chiều thứ 7 hay chủ nhật cuối tuần. Rất thích hợp cho sinh hoạt gia đình ít tốn kém nhất. Con em có thể ngồi vào một góc nào đó để làm toán làm bài vở ở trường cho. Còn phụ huynh đi vòng qua các giá sách lựa chọn mấy quyển tiểu thuyết nổi tiếng mà hồi còn thơ không có cơ hội đọc, hay những quyển sách nghiên cứu chính trị chính em. Mỹ cũng như Úc, chính quyền lúc nào cũng có một ngân khoản dành cho di dân mới đến. Bởi vậy thư viện nào cũng có một kệ sách tiếng Việt và tiếng Hoa. Xem “ké” ở đó một chút, rồi thì lựa chọn chừng năm ba cuốn sách hay mang về nhà đọc tiếp, không tốn đến 1 xu.

Quay phim nhanh sang thời thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Nhắc đến thư viện công cộng mọi người đều có thể nhớ rất rõ là có như đến 10 năm qua, ít khi lái xe đến thư viện công cộng gần nhà như năm xưa. Mặc dù rằng bây giờ ở thư viện cũng có gắn đầy internet, và cũng cho mượn cát-xét âm nhạc, phim tập, phim dài thu theo dĩa DVD. Bởi thời bây giờ ngồi ở nhà cái gì cũng có. Không biết gì hết thì nhờ con cháu bấm lên trang mạng Google thì thế nào cũng tìm ra hằng trăm loại thư viện có trên mạng chỉ riêng cho tiếng Việt. Sách truyện có, tham khảo có, hồi ký có, truyện chưởng Kim Dung cũng có. Rồi còn có cả âm nhạc với những phim do chính ca sĩ nhà nghề trình diễn, hồi xưa chỉ thấy trên Ti-Vi là may lắm, mà bây giờ có thể xem đi xem lại đến chán mới thôi.

Song song với internet là chiếc điện thoại di động cầm tay. Mấy năm đầu khi điện thoại di động mới ra đời, rất nhiều người không mấy thích nó. Bởi thật ra không mấy tiện nghi mà lại mang nhiều phiền toái. Đến thế kỷ 21, nhìn lại chung quanh, ai cũng có máy điện thoại cầm tay, kể cả chị Ba bán chè ở tận Cà Mau, hay chị Dậu có hàng gánh bán bún ốc ở chợ Đồng Xuân.

Một vài sản phẩm thiết yếu ngày xưa, nay bắt đầu đi vào sa thải và quên lãng, do ở chiếc điện thoại di động. Đầu tiên là đồng hồ đeo tay. Thế hệ X và Y, nhất là thế hệ Y, thường thường thuộc nam giới, ngày nay không còn thích tiêu tiền để mua một chiếc đồng hồ đeo tay nữa. Bởi trên mobile phone, lúc nào cũng có đồng hồ “điện tử” không người lái, cho xem giờ giấc và ngày tháng cực chính xác. Lại có cả tiện nghi đầy đủ của đồng hồ báo thức nữa.

Kế đó phải kể máy chơi đĩa âm nhạc CD. Một vài hãng chế tạo máy chơi CD ở Anh quốc vào cuối năm con Trâu đã thông tin cho biết họ sẽ ngừng sản xuất máy chơi CD vĩnh viễn. Lý do? Âm nhạc ngày nay thu thẳng vào máy cầm tay iPod hoặc nhiều loại điện thoại di động như iPhone của hãng Apple. Các máy móc cầm tay này đã và sẽ giết luôn kỹ nghệ chơi dĩa CD, cũng như trước đó CD đã chấm dứt vai trò của băng cát-xét – một phát minh sáng chói của thập niên 1960’s đã đưa máy ghi băng magnétophone vào nghĩa trang quốc tế.

Chuyện điện thoại di động đưa ra nhiều câu chuyện có thật, thật vui. Như chuyện một anh bạn chuyên nghề bán nhà đất. Một hôm anh này đang ngồi ở một tiệm ăn với một người bạn. Có điện thoại từ bà xã ở nhà gọi đến. Anh chạy ra cửa quán rồi mới bấm máy trả lời. Bà boss hỏi: “Anh hiện đang ở đâu?”. Sợ thức ăn ở trong nguội nên anh vội trả lời: “Anh hiện đang lái xe đưa thân chủ đi coi nhà”. Bà xã nói tiếp: “Vậy anh thử bấm còi xe để em với thằng Tèo nghe coi.”

N.N.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s