Trần Đan Hà đọc: Quê Người Nhớ Quê Nhà của Vũ Nam

sach-quenguoiquenhaVũ Nam tên thật là Lý Văn Văn. Sinh năm 1954 tại tỉnh Phước Tuy. Nhập ngũ tháng 10, 1972, sau Mùa Hè Đỏ Lửa. Ngày 30 tháng 4, 1975 vẫn còn là SVSQ Không Quân QL.VNCH. Vượt biên cùng gia đình năm1980, được tàu Cap Anamur của Tây Đức vớt. Định cư ở Đức năm 1981, học nghề chuyên môn, ngưng học giữa năm thứ 2 ngành kỷ sư Cơ Khí, Hochschule Reutlingen.

Bắt đầu viết văn từ năm 1985. Cộng tác với các báo: Ở Hoa Kỳ: Văn, Gió Văn, Cỏ Thơm, Hải Ngoại Nhân Văn, Đẹp, Đặc San Biển Đông… Ở Canada: Làng Văn, Sóng, Lửa Việt, Nắng Mới…Ở Pháp: Nhân Bản, Chiến Hữu, Tin Văn…Ở Na Uy: Pháp Âm. Ở Đức: Viên Giác, Độc Lập, Tâm Giác… Có bài trên các Website Cỏ Thơm, Thư Viện Việt Nam Toàn cầu, Phù Sa, khoahocnet và hoamunich.

Các tác phẩm đã xuất bản: -* Sau Ngày Tang – tuyển tập truyện ngắn – 1987. -*Bên Dòng Sông Donau (Danube) tuyển tập truyện ngắn – 1990. -*Bên Này Bức Tường Bá Linh – tuyển tập truyện ngắn – 1993 -*Nơi Cuối Dòng Sông – truyện dài – 1994 -*Câu Chuyện Từ Con Tàu Cap Anamur – truyện dài – 1997. -*Một Đêm Ở Genève – tập truyện ngắn 2014. -*Hoa Liên Kiều – tuyển tập truyện ngắn – 2008.

Góp Mặt Trong Các Tuyển Tập:

-Ngững Cây Viết Miền Nam – 1990. -Truyện Hay Hải Ngoại – 1991. -3 tuyển tập Văn Bút Âu Châu – 1989. 1994. 1996. -Nỗi Nhớ Khôn Nguôi – 1994. -Trông Vời Quê Cũ – 1996. -Trông Cơn Vật Vã -1999.

-Tập Diễm Ngưng Huy – 2003. -Nhân Văn Lục (Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại)-2013. -Thi Văn Viễn Xứ 1 – 2005 -Nam Phong Tuyển Tập – 2006. -Gia Thoại Văn Chương – 2006 -Thi Văn Viễn Xứ 2 – 2007. -Quê Nam Một Cõi – 2007. -Món Ăn Theo Bước Di Tản – 2009

Tháng 9 vừa qua, anh Vũ Nam gởi tặng tôi tác phẩm mới xuất bản của anh. Sách do cơ sở Văn Học Cỏ Thơm in ấn và phát hành. Hình bìa và phụ bản của Họa sỉ Nhiếp Ảnh gia Nguyễn Sơn ở Hannover – Đức Quốc.

Theo nhận xét của nhà văn Hồ Trường An, thì: “Vũ Nam là cây bút tân hiện thực, vì kèm theo việc phơi bày hiện trạng của các nhân vật, anh còn đưa vào tác phẩm mình khá nhiều nhân sinh quan. Những nhân sinh quan ấy, chúng ta khó tìm thấy trong các tác phẩm của các nhà văn gốc Nam kỳ ở hải ngoại…“

(trích “Tập Diễm Ngưng Huy” bút khảo của HTA).

Xin tìm hiểu những “động lực” nào đã khiến cho lòng hoài niệm của người ly hương luôn nhớ về? Và nơi quê nhà kia có những thứ gì quyến rũ, để đáp ứng cho lòng nhớ còn mãi với thời gian ? Hình như, một trong những yếu tố xúc tác lòng hoài niệm là, hầu hết người Việt hải ngoại hàng ngày chỉ thấy một toàn cảnh: “Những con đường thẳng tắp, những dãy nhà hình vuông, cây cỏ được cắt xén gọn gàng, xe hơi đậu nối đuôi nhau như một bức tranh tỉnh vật. Cùng với thời tiết không thuận đối với những người vùng nhiệt đới đến đây, đã tạo nên một cảm giác không thoải mái cho cơ thể, hoang vu cho tâm hồn. Có lẽ, cảm giác nầy đã cất dấu trong anh từ lâu, nên hôm nay biến những thao thức thành hiện thực.

Từ những háo hức của ngày mới đến định cư: “Đến Konstanz vào lúc tháng mười. Buổi sáng sương mù đã giăng đầy. Mãi trưa mới tan. Ngày nào hình như cũng vậy. Cũng sương mù phủ trùm trên những con đường, dãy nhà và những hàng cây hai bên đường. Thời tiết bên ngoài giá lạnh, nhưng thật sự trong lòng chúng tôi hân hoan vui vẻ và choáng ngộp với bầu trời thiên nhiên và cái hồ rộng lớn của thành phố Konstanz.” (trích Thành Phố Konstanz Ngày Vui Qua Mau, trang 97.).

Thỉnh thoảng anh cũng đi ngang qua những cánh đồng, để tìm về một không gian có thiên nhiên nguyên thủy. Để thưởng thức những cảnh vật tự nhiên của đất trời, cho phôi phai niềm nhớ…

Nhưng… “Những cánh đồng có năm nhà nông Đức trồng lúa mì, có năm trồng hoa hướng dương, có năm trồng bắp. Hình như họ trồng theo lời khuyên, sự hướng dẫn của phòng, ty Nông Nghiệp thành phố. Cái nào thiếu thì trồng, dư thì ngưng lại. (trích Truyện Quê Người, trang 63).

Sau khi “ổn định” thì anh đi thăm thú đó đây. Nhờ đó mà giải tỏa được những trói buộc không tên, đã hằn sâu trong tiềm thức của những kẻ lưu vong….

Với sự so sánh: “Gần ba mươi năm ở trời Âu. Vì ở miền nam nước Đức nên tôi có dịp đi nhiều những vùng Nam Âu, chưa có dịp nào đi Bắc Âu, ngoại trừ đi đến một thành phố Đan Mạch, nằm cạnh biên giới Đức. Tôi thấy các nước phía Nam Âu châu này mỗi nước có một vẻ đẹp riêng. Do trời đất tạo nên họ có những khác biệt. Thụy Sĩ đẹp nhờ hồ, núi. Hồ ở Thụy Sĩ đẹp như một bức tranh. Mặt hồ phẳng lặng như mặt gương… Ý đẹp nhờ biển và nắng ấm… Áo đẹp nhờ những rặng núi cao của dãy Alpen và những bình nguyên có hươu nai đứng ngơ ngác cạnh đường… Hy Lạp đẹp nhờ có nhiều đảo nhỏ. Từ phi cơ nhìn xuống các hòn đảo cứ nối nhau thật ngoạn mục… Hòa Lan có gió biển, những con đê đồ sộ và nghêu sò ốc hến đầy trên bãi biển… Tiệp Khắc có những đồng cỏ hoang và những cô gái mủi nhỏ, gọn đẹp…Người Ý qua Đức họ khen Đức đẹp nhờ xa lộ, những rừng thông, rừng cây sồi cây dẻ và những lâu đài cổ… Còn Pháp đẹp chắc là ngoài những bãi biển dài đẹp họ còn có những thành phố nổi tiếng. Nhất là Paris bao giờ cũng quyến rũ du khách trên khắp địa cầu nầy… Còn Việt Nam mình đẹp nhờ gì ? Chắc nhờ bãi biển dài, những ngày hè biển lóng lánh ánh nắng mặt trời. Nhờ núi non trùng điệp miền Bắc miền Trung nhờ phù sa sông ngòi miền tây với những cánh đồng lúa vàng bất tận…” (Mưa hè ở Salzburg, trang 110-111).

Cùng với việc sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt với VB VNHN đã giúp anh tìm lại nguồn vui mới…

... Sau nầy có dịp đến Paris, chúng tôi có ngay những văn hữu bản địa dẫn dắt đi phố, mời ăn cơm như nhà anh chị Từ Nguyên; hướng dẫn đi chơi như cô Bình Phương. Hay như khi chia tay lúc hoàng hôn đã bao trùm cảnh vật Paris, chai nước suối từ bàn tay nhà văn Trần Thị Diệu Tâm trao cho chúng tôi- anh Phù Vân, Đan Hà, Nguyễn Anh Tuấn, Huy Giang và tôi- để uống dọc đường, trên hành trình trở về Đức trong đêm, với tôi cử chỉ thân thiện nầy từ người Paris thật đằm thắm khó quên…(Nhật Ký Về Những Ngày Ở Paris, trang 147).

Nhưng có thể, những cảm xúc ở trên không đủ để giam giữ lòng hoài niệm về một quê nhà, vì ở đó có rất nhiều những kỷ niệm dấu yêu, những tình cảm buộc ràng từ lúc mới mở mắt chào đời cho đến… và đẹp nhất là tuổi bé thơ: “Một trong những điều làm tôi rất vui trong những ngày ấy là khi vào được vi-la do ba Hưng làm gát-dan. Tôi được ngồi trên cầu tiêu mà như ngồi trên đi-văng hay ván gõ, mông thấy mát lạnh. Đi cầu xong, kéo nước dội bằng sợi dây xích nối liền với bồn nước nhỏ nằm sát vách, trên trần nhà cầu. Tiếng nước vào cầu nghe cái ào, thật nhanh, rồi ngưng bặt, nhưng lại ngân vang trong lòng trẻ thơ một niềm vui kỳ lạ, như mình vừa khám phá ra một chuyện gì ly kỳ. Chúng tôi đã lén nằm ôm nhau trên chiếc giường có nệm trắng tinh chỉ dành cho chủ Tây. Lòng thấy khoan khoái...”(Căn Nhà Vùng Biển, trang 23).

Hay “nỗi lòng của cha mẹ” mong muốn sau nầy con có hạnh phúc, mặc dầu chưa biết định nghĩa “hạnh phúc” là gì ?: “-Ông tính sao thì tính. Nếu thấy cho nó đi tu là sướng thì ông cứ cho đi. Tôi thì sao cũng được. Cũng cầu Trời khẩn Phật là như ông nói: Tu là cội phúc… Ba má không bắt buộc con đi tu, nhưng nếu con muốn đi thì ba má sẽ cho con đi theo làm đệ tử cho thầy Hạnh Thảo để mà tu hành. Cái đó tùy con quyết định. Riêng ba má thì vẫn muốn trong nhà có một đứa đi tu…Ba mầy nói là vậy, chớ mọi việc đều do con quyết định. Con thích tu thì đi tu. Còn con không thích thì con ở nhà như anh chị em của con vậy. Con không đi ba má cũng không có buồn gì cả. Chớ con sợ ba má buồn rồi con đi tu thì không tốt. Con đi tu mà con buồn thì ba má cũng không vui được. (trích Chú Tiểu Đệ, trang 43).

Thầy Hạnh Thảo ở Sài Gòn, ra đây xây dựng chùa để tu hành. Nhân duyên gặp chú Huỳnh gia đình đông con, nên thầy có nhã ý xin một đứa làm đệ tử. Chú thím Huỳnh thấy cũng ưng bụng, nhưng còn hỏi lại con rồi quyết định. Và tất cả đều thuận duyên. Chùa chỉ có một thầy và một trò, nên thầy dốc lòng dạy dỗ cho đệ tử của mình. Mới tu được vài năm mà chú Tiểu Đệ tiến bộ thấy rõ. Chú đã thuộc làu những kinh nhật tụng, và hiểu nhiều những giáo lý căn bản.

Nhưng tình hình đất nước bắt đầu nhen nhúm mầm móng tai họa của chiến tranh. Cán bộ cộng sản nằm vùng chuẩn bị cài đặt vào dân chúng, và dĩ nhiên những cơ sở có thể như chùa, nhà thờ… Chuyện nầy khiến cho Thầy Hạnh Thảo và chú Huỳnh vô cùng lo lắng cho tương lai của đất nước và chú Tiểu Đệ. Chú Huỳnh luôn tự hỏi không biết tình hình ở đây thiếu an ninh như thế, thầy Hạnh Thảo có bỏ chùa để trở lại Sài Gòn hay không ? Liệu Thầy về Sài Gòn, thầy có cho chú Tiểu Đệ theo không ? Bao nhiêu câu hỏi dính dáng đến nếp sống tu hành và tương lai của hai thầy trò chú Tiểu Đệ, luôn lẫn quẩn mãi trong đầu! Tuy nhiên người lớn cũng muốn dấu kin trong góc khuất của tâm thức, vẫn để nó lững lơ đến khi nào hay khi nấy ! Vì có nói ra cũng chẳng giúp ích gì cho hiện tại, và ai biết được ngày mai sẽ ra sao?!

Thầy đành phải trở về với hiện tại. Một hiện tại như báo trước cho biết sự manh nha của mầm mống tai họa. Niềm xót xa cho thân phận tương lai của quê hương, thêm mấy hôm nay thầy nhuốm bệnh, trong người không được khỏe… Chợt thầy trở mình: – “Nhìn qua cửa sổ, Thầy thấy trời chiều sao âm u quá! Mây đen từ đâu vần vũ kéo về, chắc trời lại sắp mưa. Thầy đành cố gắng ngồi dậy đi tìm chú Tiểu Đệ, để hỏi xem còn quần áo nào còn phơi bên ngoài, lấy đem vô vì trời sắp mưa.” (trích Chú Tiểu Đệ, trang 57).

Với văn phong gảy gọn, cô động nhưng súc tích vì được đưa vào những tình tiết lẽ riêng, như những nét châm phá trên một bức tranh muôn màu. Có thể tung hứng lên cảm xúc người đọc, như một âm vọng từ xa xưa đang về đây, giao thoa trong một cuộc sống có hai không gian chia cách, và thời gian thì trùng trùng ẩn hiện những giấc mơ đã khuất bóng.

Niềm vui và nỗi buồn luôn hiện diện trong mỗi khoảnh khắc hiện tại, làm nặng chĩu cõi lòng. Nhưng không phải vì thế mà làm cho lòng thao thức của kẻ ly hương thêm nặng, mà hình như có cái gì khác. Cái khác ấy có thể là ý nghĩa ước mong cả “cuộc đi và về…” Sao cho trọn vẹn, sao cho hanh thông…

Tuyển tập : Quê Người Nhớ Quê Nhà của Vũ Nam là một kết hợp nhiều hình thức khác nhau của cảm xúc. Có truyện ngắn, có nhật ký, có hồi ký, có cảm nhận qua một đoản văn không có chủ đề…, có thể khiến cho độc giả bớt nhàm chán. Một lối sáng tác vượt ra ngoài lối mòn mà hình như đây là một thí nghiệm của tác giả thì phài ?

Cám ơn anh Vũ Nam đã nói thay chúng ta, hay đúng hơn là diễn tả đầy đủ và trọn vẹn một cuộc đi và về. Đi là vào nơi chốn “ở trọ”… như lời một câu hát: “Con chim ở trọ cành tre. Con cá ở trọ trong khe nước nguồn…”. Cành tre là quê nhà của chim. Và khe suối là quê nhà của cá. Và dĩ nhiên chúng ta cũng có một quê nhà, đó là “nguồn cội” nơi chúng ta sẽ trở về. Vì người xưa có nói: “Sống gởi thác về”. Cho nên nếu có thể nghĩ rằng, “ra đi” là một lựa chọn sáng suốt, là tìm được con đường giải thoát khỏi ngục tù cộng sản; được gởi gắm đời sống trong thế giới an lạc, dầu chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời.

Và như thế, nếu chúng ta muốn cảnh giới mai sau sẽ “trở về” là một cảnh giới tốt đẹp, thì chúng ta phải chọn lựa ngay bây giờ để ghi vào nhật ký làm kim chỉ nam cho cuộc về khỏi lạc lối !

Giá sách: US 15.00- Muốn có sách xin liên lạc về:

Lý Văn Văn

Schillestr.53

72810 Gomaringen – Germany

sach-quenguoiquenha

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s