Lê Bá Vận – TRƯỜNG YK HUẾ & CÁC KHOA TRƯỞNG (1961-1975). Phần 3

PHẦN 3a

ĐHYKH Giai Đoạn 3 (1972/1975)

ykh31Bác sĩ Lê Bá Vận (là tôi) được bộ Giáo Dục bổ nhiệm Khoa trưởng ĐHYK Huế thay thế GS Bùi Duy Tâm và giữ chức vụ từ cuối 1972 cho đến ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam sụp đổ.

Trước đó, từ khi Trường thành lập, tôi (BS Vận) chưa từng tham dự việc trường, chỉ lo giảng dạy và điều trị, khiêm nhường ít gây chú ý.

Mới đây tôi được nhắc nhở đến cũng khá nhiều (!) vì tôi hay viết lách (ví dụ viết bài này), phát biểu trên diễn đàn của hội Ái Hữu ĐHYK Huế hải ngoại.

ykh32

Trong tập Kỷ Yếu YK Huế ấn hành nhân lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ĐHYK Huế 1959-2009, theo lời yêu cầu của Hội, như mọi người, tôi cũng viết tiểu sử của tôi như sau :

Lê Bá Vận. Vài dòng tiểu sử.

Năm sinh: 12/1929. Cha mẹ cư trú: Đồng Hới (trước 1954)

Nguyên quán : Lệ Thủy, Quảng Bình.

Sài Gòn : Tú Tài Pháp, Tú Tài Việt Nam.

Hà Nội : Đại học Y Dược Khoa, Cựu Ngoại trú Bệnh viện.

Sài Gòn : Đại học Y Khoa, Cựu Nội trú Bệnh viện.

Huế : Từ 1957- 1959 : Y sĩ Trung úy trưng tập,

*Bệnh viện Quân Y Mang cá Huế.

Từ 1959 đến 30/4/1975 :

*BVTƯ Huế : Y sĩ Quốc gia Chính ngạch, Bộ Y Tế. (1)

*ĐHYK Huế : Giảng viên, Hậu Đại Học Hoa Kỳ, Giảng sư.

Giáo sư Khoa Trưởng ĐHYK Huế (1972-1975).

Y tế Bội tinh, Giáo dục Bội tinh VNCH.

Vợ : Võ Thị Lệ Thủy, Luật sư Tòa Thượng Thẩm Huế. Năm con (4 gái 1 trai).

Các đồng nghiệp cũng có viết về tôi :

-Giáo sư Võ Đăng Đài viết : “Ở Đại học Huế trước 75 cấp trên của tôi còn có hai người nữa là Thầy Lê văn Bách và Thầy Lê bá Vận…Trước khi làm Khoa trưởng, người ta nói Thầy (Lê bá Vận) có tính gàn gàn, nhưng sau khi lên làm Khoa trưởng,Thầy đã tỏ ra không gàn tí nào, trái lại rất uyển chuyển, khôn ngoan đối với Viện, đối với các Khoa khác cũng như đối với nội bộ của Trường. Thầy hành xử đúng là một người lãnh đạo.

Sự khôn ngoan của Thầy càng thấy rõ sau 75 trong những buổi học tập chính trị. Thầy đã đưa ra những câu hỏi rất khó trả lời nhưng không ai bắt bẻ được. Sau 75 Thầy được giữ lại Trường chỉ vì Thầy có chuyên môn rất giỏi…” (VĐĐài ‘Tính sổ…’, ĐSan YKH 2006 tr.12).

Và ở một đoạn khác trước đó : “Có sự ủng hộ nhiệt tình của Viện và sự hợp tác tích cực của ban giảng huấn và sinh viên, Thầy Lê bá Vận vừa mới đưa Đại học Y Khoa lay tỉnh trở lại thì đầu năm 1975 Huế thất thủ, Viện Đại học Huế tan rã, một số giáo sư và sinh viên đi vào Sài gòn” (tr. 8).

-Giáo sư Bùi Duy Tâm trong bài diễn văn đọc nhân lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường có đoạn nhắc lại chuyện xưa : “Thầy Lê bá Vận cùng Thầy Nguyễn văn Tự nhẹ nhàng lái con thuyền Y Khoa Huế đi hết con đường. Khi còn đi học ở Sài gòn tôi vẫn thường sang gặp Thầy Lê bá Vận tại nhà trọ đường Cá Hấp để mượn sách vở học thi Nội trú.

Thầy Vận là một đàn anh học giỏi mà tôi ngưỡng mộ. Chị Vận là một luật sư giỏi với dáng người thanh lịch mà tôi khó quên… ” (ĐSan YKH 2009).

Tôi đọc những lời chân tình và xin cám ơn hai người bạn tốt là GS Đài và GS Tâm.

-Các anh chị học trò cũ viết về tôi cũng nhiều, nói chung các anh chị ấy có rất nhiều huyền thoại để kể về các thầy cô cũ. Các câu chuyện về tôi được ghi lại rải rác ngắn gọn nhiều nơi, song cũng có những bài viết dài hai ba đến sáu bảy trang trong đó “ mười phần bớt bảy còn ba, bớt hai còn một mới ra sự tình ”.

Tôi thật tình vui thích và cảm động được các anh chị học trò cũ viết về mình, gồm chính truyện, ngoại truyện và nhiều hư cấu. Hiện giờ tôi nghĩ các cựu sinh viên hiểu biết tôi rõ vi tôi hay viết chuyện của mình, của các anh chi, các thầy, trường, bệnh viện, đất nước.

ykh33

Các anh chị cũng hiểu biết Thầy Bùi Duy Tâm nhiều qua các bài viết, phát biểu, tranh luận…

-Các lãnh đạo trường Y Huế sau 1975 có nói về tôi.

Năm 1985 lúc tôi từ giã Huế vào Nam, BS Văn Học Tấn, người Quảng trong Ban Lãnh Đạo trường YKH nói riêng với tôi “anh là người duy nhất tôi kính phục trong bạn bè”.

Lời nói đó là thực, song không hiểu BS VHT thành thật được mấy phần. Cũng không có lý do gì để ông ta xã giao đưa đẩy.

______

Ban tân giám hiệu YKH gồm 5 vị. Hai vị phó khoa trưởng là GS Lê Văn Bách và Nguyễn Văn Tự.

Ở Trường Y Khoa, GS Bách đặc biệt được kính trọng; được ông nhận lời tham dự việc trường, ban giám đốc Trường tăng uy tín rất nhiều. GS LT Minh Châu có nhận xét ở những buổi họp ai cũng chờ nghe GS Bách cho ý kiến vì là mực thước, xác đáng, thuyết phục. Tôi cũng nhận thấy thế.

Giáo Sư Nguyễn Văn Tự vẫn đảm nhiệm chức vụ Phó Khoa trưởng Học vụ mà ông có sẵn nhiều kinh nghiệm. Các thầy Lê Bá Nhàn, Lê Xuân Công, Tôn Thất Chiểu giữ các chức vụ Phụ tá Khoa trưởng về Khoa học vụ, Sinh viên vụ, Đối ngoại vụ.

Cùng lúc, các giáo sư, giảng sư khác được phân nhiệm giữ những chức vụ Trưởng khu (chủ nhiệm bộ môn) của trường. Nhiều vị đồng thời là Trưởng Khoa ở các khoa tại Bệnh Viện.

Cuộc khủng hoảng kéo dài giữa Viện Đại học Huế và Trường Y Khoa, do Viện khởi xuất, đến đây đã chấm dứt.

Viện đã bỏ ra biết bao công sức, tâm huyết mà lẽ ra, theo nguyên tắc tự trị Đại học, Viện không thể và không nên xen lấn vào nội bộ Trường Y Khoa.

Do đó Viện cũng đã nhẫn nhịn suốt một hai năm trời.

Lúc tình hình căng thẳng cao độ sau ”mùa hè đỏ lửa 1972”, tôi nhận thấy ngoài bề mặt, tương quan lực lượng như sau : một bên là GS Tâm, quyết tâm giữ chức vụ, thêm một hai thầy (?) và một số sinh viên tích cực, bên kia là GS Viện trưởng Lê Thanh Minh Châu, có GS Nguyễn Văn Hai hỗ trợ.

Ban giảng huấn của Trường phần lớn thì kín đáo không bày tỏ thái độ, có khi lại thiên về Viện, và đó là điều ước mong của Viện tìm đạt cho bằng được.

Ngay sau khi Viện đã tranh thủ được quyết định của bộ Giáo Dục ngưng chức GS Tâm, sự việc thắng bại cũng chưa ngã ngũ rõ rệt trong mấy hôm cho đến khi GS Viện trưởng tạm đảm nhiệm điều hành trường YK. Tôi suy đoán nước cờ cao này có thể do từ GS NVHai (?).

GS Đài có nhận xét : “Thầy Hai thuộc những nhân vật có cá tính A (personality A).

Thầy nóng nảy, mưu lược nhưng không thâm độc và thù hận” (Đsan YKH, 2006, tr. 12).

Tôi cũng nhận định : “Hồi đó Hội đồng Viện họp coi như hàng tuần, gồm Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, các ông Khoa Trưởng và ông Tổng Thư ký Viện.

Giáo sư Nguyễn Văn Hai, Phó Viện trưởng, Khoa trưởng trường ĐHKH được xem là chiến lược gia của Viện, nắm vững tình hình, mưu thâm trí viễn.

Giáo sư Nguyễn Sĩ Hải, Khoa trưởng Luật Khoa phát biểu khôn ngoan, chín chắn, mực thước tương tự giáo sư Lê Văn Bách YKH; các vị khác và tôi phát biểu ít hơn ngoại trừ việc liên quan đến Trường.

Ông Viện Trưởng nói ít, cân nhắc lựa lời, nghe nhiều, tổng hợp và hành xử khôn khéo, mềm dẽo.

Từ sau ngày ban Giám hiệu Trường được thành hình, Viện Đại học Huế chấm dứt can thiệp ở Trường YK, tôn trọng sự tự trị Đại học, như từ hồi nào.

Tôi lên giữ chức vụ Khoa trưởng ĐHYK Huế thừa hưởng được những thành quả lớn lao của những vị tiền nhiệm từ lúc thành lập Trường vun xới, tích lũy, phát triển trong nhiều năm, giúp tôi có nhiều thuận lợi trong nhiệm vụ :

–Hiện nay Trường có nhiều vị có tước vị giáo sư, giảng sư khiến trường không bị động.

–Hội đồng giám khảo các kỳ thi lâm sàng, đề biện luận án tốt nghiệp, thi tuyển giảng nghiệm viên đều do Trường đảm trách, không mời ngoài trường.

–Sinh viên ra trường đã nhiều khóa, nhiều bác sĩ ưu tú được giữ lại Trường.

Sau khi khóa 1 YKH tốt nghiệp, các bác sĩ Bùi An Bình, Trần Viết Phồn, Tôn Thất Hứa, Phạm Thị Xuân Quế được trường giữ lại. Tiếp theo là các bác sĩ các khóa sau: Phạm Văn Nguyện, Lê Văn Bàng, Dương Đình Châu, Bảo Chủ, Trần Nhơn, Trần Tiễn Sum, Trần Tiễn Ngạc, Đoàn Văn Quýnh, Văn Quảng, NT Tinh Châu… và còn nhiều nữa, được tuyển vào Trường.

Điều này rất quan trọng cho tương lai, là từ nay trở đi có thêm thế hệ thứ hai của ban giảng huấn tức là các bạn ra trường các khóa đầu, ngày càng nhiều, được gởi du học nước ngoài và về lại Huế.

Sóng Trường Giang, lớp sau dồn lớp trước”, tôi nghĩ rằng các bạn ở thế hệ giảng huấn thứ 2 này là rất xuất sắc, có thể giỏi hơn chúng tôi là thế hệ đầu của ban giảng huấn, vì họ được học tập tốt và vì họ là những sinh viên ưu tú nhất của những sinh viên ưu tú đã trúng tuyển vào trường Y, rất khó.

ĐHYK Huế sau 1972 “cây nhà lá vườn” không hề nhờ vả gì từ Sài Gòn như ở giai đoạn trước.

–Huế yên, sau sự cố Mậu Thân 68, Hè Quảng Trị 72.

–Năm 1973 Trường đã dựng một tấm bia tưởng niệm các cố giáo sư người Đức có công giúp thành lập Trường và đã thiệt mạng trong biến cố Tết Mậu Thân đầu năm 1968.

ykh34

–Quan hệ với Viện Đại học và các phân khoa bạn rất tốt.

–Quan hệ với cơ quan AMA (American Medical Asciation) thiết thực, họ đã ra Huế dự họp, tìm hiểu và giúp đỡ.

–Tại Đà Nẵng,Viện Đại học cộng đồng được thành lập với sư bảo trợ của viện ĐH Huế, lễ khai mạc trọng thể, đem lại lạc quan tin tưởng cho miền Trung, Vùng 1, địa đầu giới tuyến.

Hoài bão lớn nhất của tôi là thành lập tại trường Y khoa Huế các lớp/khóa đào tạo chuyên khoa sâu, hậu đại học ngắn hoặc dài hạn.

Tôi trông đợi nhiều ở sự góp sức của thế hệ thứ 2 của ban giảng huấn, tức là các bác sĩ cựu sinh viên của trường, được tuyển dụng và gởi đi học trong hoặc ngoài nước. Làm từ từ vì đây là vấn đề về lâu về dài, song “ Miễn là cá ở dưới hồ, cỏn con cũng có ngày to kết sù.”

Và rồi điều gì cũng có thể làm được.

Trường Y khoa được sự hậu thuẫn mạnh mẽ và hữu hiệu của Đại học Huế.

Thời gian tôi (BS Lê Bá Vận) làm Khoa trưởng không lâu dài, chấm dứt khi Việt Nam Cọng Hòa sụp đổ, những thành tựu gì của tôi, nếu có cũng giới hạn.

Tân quan tân chế ”, tôi lên làm Khoa trưởng tức nhiên có những suy nghĩ riêng về chính sách, phương hướng, mục tiêu đào tạo của trường.

Tôi muốn đem Trường trở về bản chất, sắc thái, tinh thần, mục tiêu yêu cầu đào tạo cũ, năm xưa khi trường thành lập. Tôi mong muốn có một trường Y khoa tốt, giảng dạy tốt, đào tạo các bác sĩ giỏi, tay nghề cao, có lương tâm nghề nghiệp.

Tôi không quan niệm YKH kết hợp Đông Tây Y nhằm đào tạo các thầy thuốc chữa bệnh phối hợp thuốc tây, thuốc ta, tinh thông cả hai, có khi khách lấn chủ như trong lời thề khi ra trường, các tân bác sĩ hứa gắng sức làm phát triển các sắc thái đặc biệt của nền Y học Việt nam theo lời dặn dò của GS Khoa Trưởng BDTâm (Kỷ yếu YKH 2009).

Tôi cũng không quan niệm YKH phối hợp giảng dạy Đông Tây Y là có ý nghĩa làm văn hóa, giáo dục : nêu cao tinh thần dân tộc, tránh đầu óc tự ti sùng bái kỹ thuật nước ngoài, lại càng tuyệt đối không hồ đồ quan niệm trường ĐHYK Huế tổng hợp Đông Tây Y là do phải có sắc thái đặc biệt để không phải chỉ là phó bản của Y Khoa Sài gòn, để có lý do tồn tại.

Đó là một trong hai nguyên tắc GS BD Tâm đưa ra khi nhậm chức, nguyên tắc kia là phải mời các giáo sư, bác sĩ uy tín ở Sài gòn giảng dạy. (BDTâm, Kỷ Yếu YKH 2009).

ykh35

Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” đã chọn học Khoa học Tây Y, bao la bát ngát, thì chuyên tâm học cho đến nơi đến chốn. Để học Đông Y qui mô, cần đầu tư thời giờ và tạm gác bỏ suy luận logic Tây Y.

Sự giảng dạy Đông Y được duy trì thu hẹp, thay vì nhằm sách lược nền tảng tổng hợp Đông Tây Y, nay chỉ đơn thuần nhằm giúp kiến thức làm quen, căn bản cho những ai muốn nghiên cứu thêm.

Trường Y Khoa Huế đã không còn hô hào tổng hợp Đông Tây Y, tiến tới một nền Quốc Y Việt Nam, và trường YK Sài Gòn cũng không có ý kiến trách cứ trường Huế đánh mất sắc thái đặc biệt để có lý do tồn tại – theo sách lược của GS Bùi Duy Tâm – mà lại rất hòa thuận, nhã nhặn.

Lê Bá Vận

Chú Thích:

(1)LBV “Bệnh Viện Trung Ương Huế Thập Kỷ 1960”.

ykh36

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s