Lê Bá Vận – TRƯỜNG YK HUẾ & CÁC KHOA TRƯỞNG (1961-1975) (Phần 2b)

ĐHYKH GIAI ĐOẠN 2 (1968/1972)

ykhGiai đoạn 2 bao gồm hai biến cố: Tết Mậu Thân và Mùa Hè đỏ lửa Quảng Trị.

PHẦN 2b

I) Cuộc Sống Hải Ngoại. GS Lê Thanh Minh Châu, GS Bùi Duy Tâm, các Thầy trong ban giảng huấn của Trường cũ và tôi vẫn sinh hoạt thân thiết với các anh chị cựu sinh viên Hội Ái Hữu ĐHYK Huế hải ngoại. Đặc biệt đầu tháng 8, 2009 Hội Ái Hữu ĐHYK Huế tổ chức lễ Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường ĐHYK Huế 1959/2009 tại California, Hoa Kỳ, với sự tham dự đông đảo thầy trò cũ đến từ nhiều nơi trên thế giới, bao gồm những mấy chục anh chi cựu sinh viên đến từ Việt Nam.

Trong dịp này GS BDTâm đã đọc một bài diễn văn rất cảm động nói lên những cảm tình tha thiết của ông đối với Trường Huế, với sinh viên YK Huế mà ông xem như gia đình ruột thịt, yêu mến vô cùng và mãi mãi như trong một phần đời của ông (diễn văn).

Đại hội thường niên của Hội Ái Hữu ĐHYK Huế Hải ngoại. “Tiền quân bắc Tế Liễu” lai rai từ ngày July 23 đã có những họp mặt nhóm nhỏ từ 10 đến 20 người, đông nhất là tại nhà hàng Harvest .”Hậu kỵ tây Trường Dương...” kéo dài nhiều ngày.

Đại hội thường niên của Hội Ái Hữu ĐHYK Huế Hải ngoại. “Tiền quân bắc Tế Liễu” lai rai từ ngày July 23 đã có những họp mặt nhóm nhỏ từ 10 đến 20 người, đông nhất là tại nhà hàng Harvest .”Hậu kỵ tây Trường Dương…” kéo dài nhiều ngày.

Tuy nhiên ít tháng sau đó, vào cuối năm 2009 ông nghênh đón tại tư gia ở San Francisco Hoa Kỳ, phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, và phái đoàn sang viếng thăm Hoa Kỳ.

Sự việc, ngôn ngữ và tác phong của ông gây bất bình lớn trong cộng đồng người Việt tị nạn cũng như trong Hội Ái Hữu YKHuế hải ngoại khiến ông buộc phải rời Hội kể từ ngày đó, đoạn tình với các học trò cũ YKH mà ông thương mến. (1)

Nhất thất túc thành thiên cổ hận,

Tái hồi đầu dĩ bách niên thân .“

Cũng như năm xưa, năm 1972 cách gần 45 năm trước ông buộc lòng rời bỏ ĐHYK Huế với nhiều luyến tiếc, và viết :“ …Họ (các SV) là một phần đời tôi. Ngày rời trường, tôi cho họ tất cả số lương tôi vừa lãnh. Họ dùng tất cả số tiền đó để mua một bức tranh sơn mài rất qúi về “Cảnh Huế, người Huế” đề tặng tôi với dòng chữ :

NGƯỜI ĐẾN TRONG GIAN NGUY và RA ĐI KHI AN BÌNH”

(BDT, Kỷ yếu YKH 2009).

ykh22-2

(Chú giải: Thực sự thì GS Bùi DuyTâm đến Huế lúc thanh bình, trước biến cố tết Mậu Thân và sống an bình ở Sài Gòn, xa Huế, xa Trường suốt thời chiến).

Với nhiều giới, đặc biệt sinh viên, BS Bùi Duy Tâm là Khoa trưởng được nhớ đến của biến cố Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ lửa Quảng Trị mà có các tác dụng trái ngược trên sự nghiệp của ông, song điều làm ông tự hào, mãn nguyện nhớ đời là như ông đã viết :

“…Nhưng mọi người (cả Việt Nam lẫn ngoại quốc) đã gắn liền tôi vào Y khoa Huế, dù ai muốn hay không muốn. Lịch sử Y Khoa Huế có chuyện dỉ chuyện gì, cũng chẳng ai để ý.

Dư luận chỉ nhớ đến YKhoa Huế qua huyền thoại “Tổng Hợp Đông Tây Y, lời tuyên thệ trước Hải Thượng Lãn Ông và các bộ Quốc Phục Việt Nam”. Gần hai chục năm sau, mọi người còn trân trọng nhắc nhở đến các việc làm của tôi ngày xưa ở Huế…

Thế mới biết :

Trăm năm bia đá thời mòn,

Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ…”

(Bùi Duy Tâm “Một Quãng Đời Qua”, Kỷ Yếu YKH 2009).

ykh22-3

II) Nhận Định Về GS Bùi Duy Tâm, Khoa trưởng ĐHYK Huế 1968-1972

Muốn nhận định trung thực về con người của GS Bùi Duy Tâm thì tất nhiên phải xem xét những gì ông đã viết trong các hồi ký mà ông kể lể sự việc, đặc biệt vào lúc ông nhậm chức.

1) Lời phát biểu lúc nhậm chức.

Lúc đó tôi (Lê Bá Vận) đang học ở Mỹ, nghe tin GS Bùi Duy Tâm về làm Khoa trưởng YK Huế thì tôi có đôi chút ngạc nhiên vì GS Tâm chưa hề giúp gì cho trường Huế và còn rất trẻ, học dưới tôi.

Tuy vậy tôi cũng chẳng có gì thắc mắc thêm, cho rằng ông chịu ra Huế là điều tốt cho Trường thôi.

Sau này tôi được biết bộ Giáo Dục có tiếp xúc mời một số giáo sư, bác sĩ đàn anh song các vị ấy đều từ chối dù rằng vào năm 1967 ở Huế rất phồn thịnh, yên vui.

Các vị ấy có lẽ nhận thức nếu làm Khoa Trưởng YKH, một trường đại học công lập, mà không ra sống tại nơi thì về lâu về dài, do tự trọng, họ thấy cũng không phải nhẽ.

Chuyện cũ chẳng ai nhắc nhở.

Mãi đến những trên 40 năm sau, vào năm 2009, ở hải ngoại, tôi đọc được 2 bài viết của GS Bùi Duy Tâm: “Một Quãng Đời Qua” và “Lịch Sử Y Khoa Đại Học Huế” đăng trong Kỷ Yếu YKH Hải Ngoại 2009. Những thông tin tôi chẳng biết, do đang ở nước ngoài lúc đó và không hề có ý tìm hỏi, nay đột nhiên xuất hiện trước mắt, lại do chính bút tích GS Tâm, khiến tôi phải đọc kỹ.

Tôi vẫn ngỡ GS Bùi Duy Tâm ắt nắm rõ lịch sử trường YKH từ đầu.

Song đọc kỹ thì những phán quyết của ông lúc nhậm chức, ngôn từ khinh bạc về trường làm tôi tá hỏa, vì trái ngược với sự hiểu biết của tôi, đặc biệt trong những năm đầu tiên của trường YKH.

GS BDTâm viết trong “Một Quãng Đời Qua”:

Bộ Giáo Dục Đại Học cử tôi ra Huế đảm trách trường Y Khoa trong tình trạng gần như tuyệt vọng (cuối năm 1967)…

Họ cử tôi ra Huế, không trông mong nhiều phép lạ, nhưng có lẽ muốn làm một ân huệ cuối cùng trước khi quyết định dẹp bỏ một gánh nặng.

Trong lúc tiếp xúc với Bộ Giáo Dục để làm trường Huế, tôi đã nghĩ ngay ra việc Y Khoa Huế phải có sắc thái đặc biệt để không phải chỉ là phó bản của Y Khoa Sài Gòn, thì mới tồn tại được…

Và đó là lý do khẩn cấp nhất của việc hô hoán om sòm lên rằng:

.Đại Học Y Khoa Huế tổng hợp Đông Tây Y và tiến tới 1 nền Quốc Y Việt Nam.

.Lời Tuyên Thệ của Bác Sĩ Y Khoa Huế có đề cao tên tuổi của Y Tổ Việt Nam là Hải Thượng Lãn Ông, bên cạnh Hippocrate, Y Tổ Hi Lạp của Tây Phương.

Từ nay trong Lễ Tốt Nghiệp, các Bác Sĩ Y Khoa Huế vận Quốc Phục Việt Nam thay vì áo choàng tây (toge) (2)

Thực ra tôi đâu có xin phép và đâu có được cho phép gì đâu, vì tôi biết nếu xin phép thì còn lâu mới tới. Nhưng tôi đã đạt được mục tiêu của tôi là “Không còn ai nghĩ đến việc đóng cửa trường Y Khoa Huế nữa, vì Y Khoa Huế là 1 hiện hữu độc đáo…”

(BDTâm “Một Quãng Đời Qua”, Kỷ Yếu YKH 2009).

Nhận định về lời phát biểu của GS BDT: 4 điểm.

1- GS Tâm: Trường Y Khoa trong tình trạng gần như tuyệt vọng (cuối năm 1967).”

Chẩn đoán này là sai nhầm. Vào cuối năm 1967, trường YKH sức khỏe bình thường.

Ban giảng huấn YKH trong đó có các giáo sư, bác sĩ người Đức, Pháp… là nguyên vẹn.

Các bác sĩ của Trường được gởi ra nước ngoài tu nghiệp từ các năm trước, lần lượt trở về.

Mẻ thép đầu tiên được ra lò, đi vào sản xuất. Thực vậy:

Ngày 21/11/1967 trường YKH tổ chức trình luận án Tiến Sĩ Y Khoa và lễ tuyên thệ cho 4 bác sĩ tân khoa đầu tiên: Lê Quốc Bảo, Nguyễn Văn Thuận, Lê Đình Thương, Hoàng Quỳnh (theo thứ tự từ trái qua phải trong hình) trong số 28 sinh viên cùng khóa, do 4 vị này đã hoàn thành xong luận án và đề biện trước tiên.

ykh22-4

BS Nguyễn văn Thuận (Texas, Hoa Kỳ), Khóa 1 Y khoa Huế, tốt nghiệp hôm đó, cuối năm 1967, đã viết như vậy (NVT “Trường ĐHYK Huế”, Dòng Việt 1997, tr.90). GS Tâm có biết chuyện này hay không?

BS Lê Khắc Quyến, năm 1966 vì lý do chính trị, bị ép buộc phải rời Huế.

Trường YKH đã có một Xử lý thường vụ là BS LV Bách và Bộ Giáo Dục đang từ từ kiếm một khoa trưởng, dù để làm vì, thì GS BDTâm diễn dịch là được Bộ mời để “ra tay tế độ”, cứu trường YKH đang cơn hấp hối, gần như tuyệt vọng.

Khoa trưởng là chức vụ hành chánh. GS Bùi Duy Tâm có bằng tiến sĩ Sinh hóa học thì lúc ấy cũng chưa giúp ích gì thêm vì YKH đã có GS Võ Đăng Đài cũng tiến sĩ Sinh hóa học.

2- GS Tâm: “một ân huệ cuối cùng trước khi quyết định dẹp bỏ một gánh nặng.”

Nghe giống như cho tử tù ăn bữa cơm chót có rượu,thịt.

ĐHYK Huế chưa bao giờ là một gánh nặng cho bộ Giáo Dục, hoặc cho trường YK Sài Gòn.

YKH chưa từng đòi hỏi họ cung cấp ban giảng huấn, phương tiện, mè nheo, yêu sách…

Mọi thứ tại trường YKH đều được phái bộ Đức và Pháp chu toàn.

Cũng không thể nói GS BD Tâm là một ”ân huệ” mà Bộ Giáo Dục dành cho YKH.

Bộ GD không có ý đó.

Nhiều lắm thì GSTâm chỉ có thể là một “cơ hội”, mà cũng không phải là cơ hội cuối cùng.

BS Lê Văn Bách đang Xử Lý Thường vụ Trường là người dự bị, có thể được bổ nhiệm Quyền Khoa Trưởng bất cứ lúc nào và Bộ GD không hề khẩn trương trong việc này.

Mặt khác, GS Tâm được bổ nhiệm Khoa trưởng YKH là trước biến cố Tết Mậu Thân 1968.

YKH chưa hề khai phá sản với Bộ vào thời điểm ấy và xin Bộ cử người ra Huế thanh lý.

3- GS Tâm: “Y Khoa Huế phải có sắc thái đặc biệt để không phải chỉ là phó bản của Y Khoa Sài Gòn, thì mới tồn tại được…”

GS Tâm om sòm hô hoán (theo ông viết) như vậy là không đúng.

Cho dù YKH có là phó bản của trường YK Sài Gòn thì cũng chẳng sao, miễn là dạy tốt.

ĐHYK được mở (1959) vì lý do bác sĩ Việt Nam thiếu quá nhiều cho nhân dân, nhất là ở miền Trung.

GS H. Krainick, trưởng phái bộ Đại Học Freiburg, Đức, được xem như là giám đốc học vụ, nói với sinh

viên ông có quyết tâm đào tạo các bác sĩ ra trường tại Huế có trình độ ngang hàng với bất cứ nơi nào tiên tiến trên thế giới. Người Đức đã nói là làm được

YKH không hề có vấn nạn “sắc thái đặc biệt… phó bản” để tồn tại, ngay từ khi thành lập.

Đó là sản phẩm của GS Tâm, là Đông Y, lời thề Hải Thượng Lãn Ông, bộ quốc phục Việt Nam khăn đen áo dài… được ông xem là những yếu tố đột phá giúp trường ĐHYK Huế có lý do tồn tại (!)

Bệnh quỉ thuốc tiên” xem ra duy Đông Y là chữa được căn bệnh (tưởng tượng) của trường YKH.

GS BD Tâm áp đặt các “sắc thái đặc biệt” của ông mà không thông qua Hội đồng Khoa.

(BDT:Thực ra tôi đâu có xin phép và đâu có được cho phép gì đâu…)

Do đó tất cả đã theo gót ông vĩnh viễn ra đi mất dạng, lúc ông buộc phải rời trường năm 1972, như có thể thấy từ các hình ảnh dưới đây:

ykh22-5

4- GS Tâm: “Không còn ai nghĩ đến việc đóng cửa trường Y Khoa Huế nữa, vì Y Khoa Huế là 1 hiện hữu độc đáo…”

Lo bò trắng răng”, chẳng ai, kể cả bộ GD, có thể đóng cửa trường YKH, dù YKH độc đáo hoặc không.

ĐH Huế, YK Huế là niềm tự hào của nhân dân Huế, nhân dân miền Trung, có ý nghĩa và tầm cỡ chính trị to lớn thời đó, là một quốc sách mà chỉ tổng thống mới có quyền quyết định.

Trường YKH do đích thân Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho phép thành lập và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, người miền Trung cũng cương quyết chẳng kém, ra lệnh cho tất cả các cơ quan, sau Tết Mậu Thân, không được di chuyển rời Huế.

Kết luận: Các nhận định của GS Bùi Duy Tâm về trường YKH khi ông nhậm chức rất lệch lạc.

Do thiếu thông tin hiểu biết, mới đến, còn trẻ tuổi, mà ông bộp chộp phán quyết nặng lời, không thân thiện, hầu như khinh miệt, hạ nhục trường YKH trước đó, mà các đàn anh cùng các giáo sư, bác sĩ nước ngoài tiên tiến, Đức, Pháp đã bỏ công bỏ của đến gầy dựng với biết bao thiện chí giúp đỡ.

Đối với các sinh viên YKH lắm người xuýt xoát kém ông chỉ 4, 5 tuổi, đặc biệt bạn Đỗ Văn Minh YKH1 mà sau này là Trưởng ty Y tế Thừa Thiên – Huế, do vào học chậm, tuổi còn lớn hơn ông, thì lúc vừa ra Huế GS Tâm đã mô tả họ là “cái lũ học trò khát khao học hành như con đói sữa” và sau đó ít tháng là “cái lũ học trò với bộ mặt nhớn nhác trong biến cố Tết Mậu Thân…”

(BDT “Một Quảng Đời Qua” Kỷ Yếu YKH 2009)

Đi xa hơn nữa, GS Tâm gọi giai đoạn đầu 1961-1967 của trường ĐHYK Huế là “bi thảm”.

(BDT “Lịch Sử Y Khoa Đại Học Huế” Kỷ Yếu YKH Hải Ngoại 2009).

Điều này dễ gây hiểu lầm ông có chủ tâm, dụng ý.

Như vậy là không tốt, ngay từ khởi đầu.

Bô bô quảng cáo YKH thành một trường dạy Đông Y ồ ạt khiến các sinh viên YK Sài Gòn cười thầm, lắm người nhắc nhở đến bác sĩ tốt nghiệp YKHuế với khi dễ, nói bóng gió là kém trình độ về Tây Y.

Các bác sĩ YKH ở hải ngoại đã nhiều lần phải thanh minh, đính chính.

Riêng tôi nhận thức, tôi có bổn phận phải lên tiếng, nói sự thật để bảo toàn danh dự cho Trường.

Ban Biên Tập YKH Hải Ngoại khi cho đăng 2 bài viết của GS Bùi Duy Tâm cũng đã cảnh báo:

Bài viết dưới đây rất giá trị và nhiều công phu. Tuy nhiên một vài đoạn có thể làm một số bạn đọc khó chịu. Vì sự tôn trọng đối với độc giả cũng như tác giả, BBT xin được đăng nguyên văn…”

2) Trường di tản vào Sài Gòn 1968-1969.

GS BD Tâm có công lớn trong giai đoạn này.

Nhưng ông kể: “Tôi xung đột tứ phía, hung hãn như Triệu Tử Long một đao, một ngựa vùng vẫy trong gươm giáo trận mạc để cứu Ấu Chúa…”  thì đẹp và ‘vui’? hình ảnh Triệu Tử Long “hung hãn”.

Tôi rất thú vị được tưởng là CIA hay Việt Cộng” thì là siêu nhân bất bình thường! (2)

3) Trường hồi cư về Huế 1969-1972

Khác với giai đoạn trước mà GS Tâm có thể lo chu đáo cho Trường, cho sinh viên, tại Sài Gòn, nay Trường hồi cư về Huế thì GS Tâm chỉ có thể hàng tháng, hoặc hơn, tùy lễ, nghỉ hè… từ Sài Gòn bay ra Huế, hôm nay đi, ngày mai về.

Ông từ chối không ở lại Huế lâu hơn và “dù ai nói đông nói tây”, ông vẫn kiên định.

Rốt cuộc, dù chật vật, người ta buộc phải giải chức ông với lý do chính đáng.

4) GS Bùi Duy Tâm giải chức 1972

Là chuyện chẳng đặng đừng.

Ngẫm lại, các Khoa trưởng YKH thì mỗi người buộc rời trường trong một hoàn cảnh.

-GS Lê Tấn Vĩnh không tham quyền, về lại Pháp rồi gởi thư từ chức; đó là tự nhiên và phải lẽ nhất.

-BS Lê Khắc Quyến làm chính trị thì bị quân đội cách ly Huế, bộ GD không can dự.

-GS Bùi Duy Tâm ỷ y nhiều đại công thì Bộ ra quyết định giải chức.

Nhiều người nghĩ rằng GS BDTâm có công cứu giá Trường YKH sau biến cố Tết Mậu Thân 1968.

Điều này là đúng, tuy nhiên cũng do “thời thế tạo anh hùng” và là chuyện đến sau.

Quan trọng hơn nhiều là chuyện trước biến cố Tết Mậu Thân, GS Tâm có từ tâm nhận đảm trách trường YKH (mà ông cho là) đang ở trong tình trạng gần như tuyệt vọng, cuối năm 1967.

Chẳng phải “ách giữa đàng quàng vào cổ”, trường YKH dù có mệnh hệ thì ông vẫn được tiếng.

Song gặp ông là đúng thầy.

Ông có những linh dược, bửu bối: Đông Y, lời thề Hải Thượng Lãn Ông, bộ Quốc Phục Việt Nam?

-Tôi (Lê Bá Vận) thì cùng các viên chức đại học chế độ cũ, ngụy quyền diện “rô hai” (02) được lưu dụng, chỉ học tập cải tạo ở cơ quan, sau ngày 30/4/1975.

5) Sống với quá khứ huyền thoại.

GS Tâm viết: “…Dư luận chỉ nhớ đến YKhoa Huế qua huyền thoại “Tổng Hợp Đông Tây Y, lời tuyên thệ trước Hải Thượng Lãn Ông và các bộ Quốc Phục Việt Nam”. Gần hai chục năm sau, mọi người còn trân trọng nhắc nhở đến các việc làm của tôi ngày xưa ở Huế.”

Tuy vậy, nếu có nhắc nhở thì chắc không phải trân trọng, mà là nhớ lại một trải nghiệm bi hài.

Thực tế là ngay sau khi GS Tâm giải nhiệm, vị tân khoa trưởng (là tôi) trở về truyền thống cũ của trường khi thành lập, bãi bỏ dạy Đông Y tràn lan (các sinh viên thường bỏ trốn giờ Đông Y), bãi bỏ lời thề Hải Thượng Lãn Ông, không bắt buộc sinh viên vận quốc phục Việt Nam trong buổi lễ tốt nghiệp.

Sinh viên được để tùy ý, nhưng tất cả đều chọn mặc âu phục, có khi mặc áo choàng Đại học, nếu có.

Các thầy thì mặc áo choàng Đại Học, là tài sản chung của Viện Đại Học.

Huyền thoại… trân trọng”, những phát biểu cường điệu đưa chúng ta say men hoài cổ trở về quá khứ huy hoàng trong bộ Quốc Phục Việt Nam, vang bóng một thời “Lều Chõng”. (2)

Lời phát biểu giúp chúng ta hiểu được tâm tư của GS Bùi Duy Tâm, cựu Khoa trưởng trường ĐHYKI Huế 1968-1972. (2)

Lê Bá Vận

ykh22-6

Chú Thích:

(1)Thư ngỏ của BCHYKHHN. California 27/11 năm 2009. BS Lại đức Thuần, Chủ Tịch.

(2) Đó là một người rất đặc bit và khác thường, thể hiện bằng một số việc làm khác người ở trường ĐH Y khoa Huế. (mauthan68hue.blogspot.com/…/buiduytam-nguoi-du-duongthu)

 ykh22-7

Các tân khoa được Tổng đốc thay mặt nhà vua ban yến. Các khoa thi của triều Nguyễn được tổ chức cho đến năm 1919 thì chấm dứt.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s