Lê Bá Vận – TRƯỜNG YK HUẾ & CÁC KHOA TRƯỞNG (1961-1975). Phần 2

ykh2aĐHYKH GIAI ĐOẠN 2 (1968/1972)

Giai đoạn 2 bao gồm hai biến cố: Tết Mậu Thân và Mùa Hè đỏ lửa Quảng Trị.

PHẦN 2a

Bác sĩ Bùi Duy Tâm cho biết ông sinh ngày 08/09/1934 năm Giáp Tuất, là giáo sư Trưởng khu (bộ môn) Sinh hóa ĐHYK Sài Gòn được bộ Giáo Dục bổ nhiệm Khoa trưởng ĐHYK Huế theo Sự vụ lệnh ngày 26/12/1967 và Nghị Định hợp thức hóa ngày 26.01.1968 (1).

Bác sĩ Bùi Duy Tâm, nói giọng Bắc, là một người giao du rộng, có tài ăn nói, ứng đáp sắc bén, quyết định nhanh, ưa thích làm văn nghệ, văn hóa, phong thái lãng tử như ông tự nhận, bất cần đời, chính kiến thì lưỡng diện, cao siêu.

Tính ông “không làm nhiều việc mọi người thường làm và hay làm những việc ít người muốn làm hay dám làm.” (BDT “Đi Bắc Cực”, Tập san YKH Hải ngoại 2006, tr. 231)

Trong nước, trước 1975 thì ông tự hào: “Tôi rất thú vị được tưởng là CIA hay Việt Cộng,” ở hải ngoại thì ông thuộc diện “Thuyền Nhân Tị Nạn” và “Việt Kiều Yêu Nước” thành danh. (2)

“Lịch sử Y Khoa Huế có chuyện dỉ chuyện gì, cũng chẳng ai để ý. Dư luận chỉ nhớ đến YKhoa Huế qua huyền thoại “Tổng Hợp Đông Tây Y, lời tuyên thệ trước Hải Thượng Lãn Ông và các bộ Quốc Phục Việt Nam”. (BDT)

“Lịch sử Y Khoa Huế có chuyện dỉ chuyện gì, cũng chẳng ai để ý. Dư luận chỉ nhớ đến YKhoa Huế qua huyền thoại “Tổng Hợp Đông Tây Y, lời tuyên thệ trước Hải Thượng Lãn Ông và các bộ Quốc Phục Việt Nam”. (BDT)

Ông ít mặc âu phục, ưa thích lễ lạc thì mặc quốc phục Việt Nam, hoặc áo kiểu bà ba dài, cổ tròn, nhiều nút, để búi tó, đội mũ phớt.

Tuy là một người đặc biệt khác thường nhưng nói chung, ông là một người khá tốt đối với đồng nghiệp.

Phu nhân nhũ danh Nha sĩ Đỗ Thị Việt Hương mất tại Cali, Hoa Kỳ, tháng 3/2015, hưởng thọ 82 tuổi.

bdt-2

Thời kỳ GS BD Tâm làm Khoa trưởng ĐHYK Huế 1968-1972 có thể được chia ra 2 giai đoạn:

1) trường di tản vào Sài gòn, sau Tết Mậu Thân 1968.

2) trường hồi cư về Huế, hè 1969

Tết Mậu Thân năm đó có ngày 30 Tết. Ở Huế mọi gia đình ngày càng khá giả, mua sắm Tết nhộn nhịp. Chợ hoa ở bên cầu Trường tiền đông nghẹt, hoa đào vàng lẫn hoa thược dược đỏ.

Huế tưng bừng hơn những năm trước.

GS Bùi Duy Tâm được bổ nhiệm đúng vào những ngày lễ nghỉ Tết Tây và Tết Nguyên Đán.

Ông ra Huế, tiếp xúc với Trường, được sinh viên chào mừng đón tiếp, rồi trở vào Sài Gòn ăn Tết.

Huế rộn rã đón Xuân” thì chiến cuộc ác liệt đột ngột xẩy ra vào khuya mồng Một (30/1/1968), rạng sáng mồng 2 Tết Mậu Thân, tức là vào ngày 31/1/1968 kéo dài cho đến ngày 24/2/1968.

1) Giai đoạn Trường di tản vào Sài Gòn. “Triệu Tử Long Phò Ấu Chúa”.

Thị xã Huế bất ngờ bị đánh chiếm và kiểm soát vào khuya mồng một Tết Mậu Thân (1968).

Chiến cuộc kéo dài gần một tháng. Huế bị tàn phá nặng.

Sau khi tình hình lắng dịu, BS Bùi Duy Tâm, Tân Khoa trưởng từ Sài Gòn ra, đem Trường tạm vào Sài Gòn học.

Quyết định này, được nhiều giới giáo dục, y tế, y khoa, quân y ở Sài gòn bàn đến, và đối với BS Tâm thuận lợi, là dời trường vào Sài gòn ông luôn ở cạnh, thường trực chăm lo.

Lúc quốc biến kích thích lòng yêu nước, trường YK Huế chạy lánh nạn vào Sài gòn được sự giúp đỡ tân tình của khắp mọi nơi : ĐHYK Sài gòn, trường Quân Y, Tổng Y viện Cọng Hòa (Quân đội), Bệnh viện Grall (Pháp), Viện Pasteur v.v….

Quyết định của GS Tân Khoa trưởng di tản Trường vào Sài gòn lúc đó thành công tốt đẹp, mọi người không tiếc lời khen ngợi, nhất là về phía các sinh viên, rất nhiều.

Bản thân GSTâm cũng kể lại : “…Tôi vừa là Tổng Tư Lệnh chiến dịch vừa là tài xế đưa đón các giáo sư đến giảng đường. Tôi xung đột tứ phía, hung hãn như Triệu Tử Long một đao, một ngựa vùng vẫy trong gươm giáo trận mạc để cứu Ấu Chúa của tôi là Sinh viên Y Khoa Huế, rồi ôm ấp bảo vệ nuôi dưỡng Ấu Chúa để đem về trả lại cho đất Mẹ- xứ Thần Kinh. Mọi người tưởng tôi thần thế lắm, được Nhà Nước và Mỹ ủng hộ…Tôi rất thú vị được tưởng là CIA hay Việt Cộng. ”(BDTâm, ‘Một Quãng Đời Qua’, Kỷ Yếu YKH 2009).

GS Tâm cho biết ngoài việc học hành “…sinh viên được vui chơi trong những bữa tiệc (quán Ánh Hồng…), buổi trình diễn Nhạc Phạm Duy, với ca sĩ Thái Thanh, được Y Sĩ Đoàn tặng sách, được học bổng, được phát phần thưởng,… và được trở về cố đô, cố hương Huế trong niềm hân hoan của gia đình, của nhân dân Huế “(BDTâm, Kỷ Yếu YKH 2009).

Bác sĩ Vĩnh Chánh YK7, vừa mới vào trường, học năm thứ nhất, nhớ lại : “Các bạn tôi cũng không thể quên được lần Thầy (GSTâm) tổ chức trại hè lịch sử tại đảo Phú quốc với sự cọng tác của Hải quân và ban ca Gió Khơi (mà thầy là trưởng đoàn), trước khi trường chính thức trở về Huế” (ĐSan YKH 2006, tr.42).

Xem ra, sinh viên YK Huế di tản vào Sài Gòn học, như “chuột sa chĩnh gạo”.

Tuy nhiên “đem chuông đi đấm nước người”, chịu thương chịu khó, sinh viên YKH học rất tốt, được các thầy Sài Gòn khen ngợi ngang tài đồng sức với các sinh viên của họ.

Mọi việc dù tốt đến bao nhiêu cũng có mặt trái.

Trường YK Huế di tản vào Sài gòn năm 1968, ở lại một niên khóa rưỡi, một số bác sĩ, giáo sư trong ban giảng huấn theo Trường dọn vào Sài gòn, sau đó “đất lành chim đậu, ở lâu mến cảnh” cùng gia đình ở luôn trong đó, chỉ thỉnh thoảng ra Huế dạy; họ cũng ỷ y, theo gót ông Khoa Trưởng.

Năm 1972 mùa hè đỏ lửa Quảng Trị tình trạng cũng tương tự.

2) Giai đoạn Trường hồi cư về Huế. “Trường Viện Phân Tranh”.

Trường YKH trở về Huế trong niềm vui hồ hởi toàn thắng, bắt đầu niên khóa học mới 1969/70.

Trường ốc thì không bị phá hủy gì, duy Bệnh viện Trung ương Huế bị phá sập phía trước, gần một nửa, khu hành chánh, các bệnh phòng nội và ngọai khoa, phòng mổ, thiệt hại nặng, còn chờ xây lại. Khoa Nhi, Sản, Dược, X-Quang, Xét nghiệm… còn nguyên vẹn.

Bệnh viện Huế rất rộng lớn nên việc tạm dồn phòng ốc cũng dễ dàng.

Việc học tập ở trường thì nguyên tắc GS BD Tâm đưa ra khi nhậm chức là phải mời các giáo sư, bác sĩ uy tín ở Sài gòn giảng dạy.

Chủ trương lớn này được quảng bá nghe rất phấn khởi, là mặt tiền hào nhoáng của triều đại song thực tế mời các thầy Sài Gòn ra chi viện – thầy lớn uy tín thì quá bận bịu, thầy nhỏ có vài vị chịu ra – thêm giờ Đông Y, giờ chữ Hán, nói chung “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

Chung qui, công lao chính vẫn là của ban giảng huấn tại chỗ, âm thầm làm việc, hợp sức cùng các bác sĩ ở BV Huế, Đà Nẵng.

Giai đoạn này rất giàu sự kiện và kết thúc với sự giải chức của GS Bùi Duy Tâm:

2.1) Học hành. Sinh viên khóa 9, vào trường niên khóa 1969/70 đã viết về một quãng đời cách đây hơn 40 năm : “…Qua năm thứ ba, chúng tôi bắt đầu đi thực tập ở bệnh viện…Khóa 9 là khóa có nhiều thầy mới, môn học lạ. Các thầy Mỹ đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, có vị như mới về từ chiến trường với bốt-đờ-sô lấm bùn chiều hành quân, dạy 1,2 bài rồi đi không bao giờ trở lại. Chúng tôi còn nhớ các thầy Momin, Pickering, Candela, Dupuis, Maes…

Khoảng thời gian này khóa 9 có khi còn được “lùa” đi học Đông Y. Vì không coi trọng môn học, khi đến giờ đông y chúng tôi thường “chạy trốn”. Đến nỗi thầy Tự phải đích thân bắt học trò vô lớp và than “thôi ta mệt lắm nờ, cứ như là cảnh sát” (thầy Đông Y : thầy Nguyễn Văn Ba, Sài gòn, và Trương Thìn, Quân Y)…

Còn có GS Đào Mộng Nam (Sài gòn) dạy chuyên về chữ Hán, nhất là cách viết. Nếu có ai đó tình cờ vào giảng đường Y Khoa vào giờ Hán tự có thể tưởng lầm là mình đang ở trong trường Văn khoa ! (Lê Văn Hùng 49, YK9, “Khóa 9 – ĐHYKHuế”, Kỷ yếu YKH 2009).

2.2) Sinh hoạt văn nghệ. Phong phú trong giai đoạn này.

BS Vĩnh Chánh YK7 viết : “Ngoài cách hành xử cứng rắn nhưng đầy hiểu biết của một vị khoa trưởng, GS Bùi duy Tâm còn là một vị thầy có tâm hồn nghệ sĩ và rất tình cảm. Tôi còn nhớ những lần Thầy tổ chức cho cả trường đi chơi bằng thuyền từ dưới Đông Ba lên đến lăng Minh Mạng, hay những đêm nghe nhạc trên thuyền ở sông Hương, hoặc những đêm dạ vũ tại trường …, hoặc cùng chở nhau đến lăng Tự Đức rồi chạy qua lăng Khải Định, để cùng nhau hát hò với sự thành lập ngay tại chỗ ban nhạc “les tuberculeux’ gồm các anh…

Cũng không quên được chuyến đi chơi hè năm 1971 tại Đà Lạt…

Ngay khi Huế vừa tan mùi khói súng sau Tết 68, Thầy đã bay ra làm việc ở trường YK và mang theo một phái đoàn văn nghệ gồm có chị Nhã Ca và thân hữu Chu Mai để úy lạo sinh viên chúng tôi (ĐSan YKH 2006, tr.41, 42) (Nhà văn Nhã Ca, tác giả Giải Khăn Sô Cho Huế, chủ nhiệm Việt Báo DailyNews, chị tuy không học Y Khoa Huế nhưng luôn có ân tình sâu đậm với Y Khoa Huế – Westminster (Bình Sa), 31.7.2015).

bdt-3

2.3) Bước thăng trầm. Uy tín của GSBDTâm lên rất cao khi trường từ Sài gòn về lại Huế, nhưng sau đó bắt đầu xuất hiện những nứt rạn. Trước đây khi GSTâm nhanh chóng nhận chức vụ Khoa Trưởng YK Huế và cứ hàng tháng ra Huế một lần ngắn ngủi, thì nhiều người đã nghĩ đây không phải là một “trường cửu chi kế”, hầu như một hạ sách phải chấp nhận, một tình trạng “bắt cóc bỏ dĩa không vững bền. Biến cố Mậu Thân, Trường dời vào Sài gòn tạo cho ông có dịp thường xuyên ở cạnh, chu đáo lo cho Trường. Trường về lại Huế, ông không thể về theo.

Công thành thân thoái” mới là thức thời vụ.

Với thời gian :

+ Ở Trường có những bất bình trong ban giảng huấn về tư tưởng, chính kiến, đường lối, tác phong … tăng dần khi mọi người lại biết Viện Đại học cũng bực mình.

+GS Tâm (Tâm nhỏ, để đối với GS PBTâm) trích dẫn: “Sống trong chế độ mà tinh thần dân tộc không được chú ý, mang nặng đầu óc tự ti, sùng bái kỹ thuật nước ngoài, Ông Tâm vấp phải sự chống đối mãnh liệt nhất là trong các giáo sư, chính quyền lại chèn ép; cuối cùng đến năm 1972 Ông phải rời khỏi chức vụ khoa trưởng trường Y Khoa Huế” (BDT, ‘Một Quãng Đời Qua’, Kỷ Yếu YKH 2009).

+Đòi hỏi từ Viện Đại học Huế yêu cầu BSTâm dành nhiều thời gian có mặt tại Huế, dự họp Hội đồng Viện, lo việc trường. GS Võ Đăng Đài, phó khoa trưởng họp thay thế không dám tự quyết định, khác với thời BS Lê khắc Quyến giữ chức phụ tá khoa trưởng nhưng lại quyết đoán tất cả.

GS Đài kể lại :”Trong những buổi họp Hội đồng Viện, Thầy (GS Nguyễn văn Hai) thường ít ủng hộ tôi” (Đsan YKH 2006, tr.12). Điều này cho thấy quan hệ Trường- Viện không tốt đẹp. Quan hệ này không thấy được cải tiến : mỗi lần BSTâm ra Huế không có chương trình tiếp xúc Viện Đại Học, thăm các phân khoa trường bạn…

+Trong ban giảng huấn Việt ở trường hiện có nhiều giáo sư, giảng sư có thể đảm nhiệm chức vụ Khoa Trưởng.

+BS Tâm không thể dành cho Huế nhiều thời gian hơn, ông quá bận vì làm Khoa trưởng nơi khác, với các chương trình Đông Tây Y tổng hợp lớn lao, lại cũng không có ý định rút lui, từ chức ở Huế khiến Trường Y Khoa và Viện Đại Học Huế ở trong thế giằng co bế tắc trong một hai năm trời, cho đến khi xẩy ra vụ “Mùa hè đỏ lửa 1972” giải quyết được sự phân tranh âm ỉ, khủng hoảng kéo dài này.

2.4) GS Bùi Duy Tâm giải chức.

Mùa hè đỏ lửa Quảng Trị từ tháng tư tháng 5, 1972 Quảng Trị bị đánh chiếm. Dân chúng gồng gánh

chạy bộ ùa vào Huế. Trận đánh Quảng Trị ác liệt kéo dài.

Nhân dân Huế lo sợ thảm họa Tết Mậu Thân 1968 tái diễn, chạy loạn vào Đà Nẵng.

Viện Đại học và trường YK cũng vậy. GS Lê thanh Minh Châu, cựu Viện trưởng ĐHHuế nhắc lại : “Sau Tết Mậu Thân lại đến mùa hè đỏ lửa Quảng Trị, đưa đến quyết định di tản Đại Học Huế vào Đà nẵng. Chỉ trong vòng mấy ngày, Đại Học Huế phải di tản hố sơ, thư viện, dụng cụ thí nghiệm, giáo sư, nhân viên, sinh viên vào Đà nẵng…Sau khi trường hồi cư từ Đà nẵng về lại Huế, thầy Lê bá Vận thay thầy Tâm trong chức vụ Khoa Trưởng.” (LTMC, diễn văn, Đặc san YKHuế 2009).

bdt-4

Hè năm 1972 lại thêm một số thầy của YKH không di tản vào Đà Nẵng theo Viện và Trường mà dọn thẳng vào Sài Gòn ở luôn, có GS Khoa Trưởng tại đó, chỉ thỉnh thoảng bay ra Huế it hôm.

Trường YKH mất thêm ban giảng huấn, rất thiệt hại cho sinh viên thực tập lâm sàng tại bệnh viện.

Biến cố ‘Mùa hè đỏ lửa 1972’ rõ ràng cho thấy cấp lãnh đạo cần thường trực bám sát nhiệm sở.

Sau khi niên học mới 1972-73 bắt đầu, bộ Giáo Dục theo đề xuất của Viện ĐH Huế (?), ra quyết định BS BDTâm thôi giữ chức vụ Khoa Trưởng ĐHYK Huế.

Vụ giải chức này, chưa từng xẩy ở Trường trước đó, đột ngột tuy không quá bất ngờ đã tức khắc gây ra một tình trạng căng thẳng như chưa bao giờ thấy ở trường ĐHYK Huế.

Theo lẽ tự nhiên các phó Khoa trưởng sẽ tạm thay thế, nhưng chuyện này không xẩy ra.

Không người lãnh đạo Trường như quân mất tướng, gây nhiều hoang mang và phản ứng dữ dội ??

Một nhóm sinh viên, vài chục người đã cùng GS Tâm giăng các biểu ngữ:“phản đối sự giải nhiệm dành cho GS KHOA TRƯỞNG ĐHYK”, “toàn thể SVYK biết ơn thầy” (BDTâm, ‘Một Quãng Đời Qua’, hình ảnh, Kỷ Yếu YKH 2009).

bdt-5

Tình trạng có thể gây bạo động, lan tràn toàn trường và làm cho Viện Đại học lâm vào thế bất lợi, phải nhượng bộ hoặc còn gì nữa chưa biết.

Đến đây đang cơn dầu sôi lửa bỏng, nhiều người khen ngợi sự khéo léo của Viện Đại Học đã hóa giải nhiều được tình thế. Viện thông cáo: GS Viện Trưởng sẽ đảm nhiệm tạm điều hành trường YK (chờ Trường cử Khoa Trưởng mới), đồng thời GS Võ Đăng Đài được cử Phụ tá Viện trưởng.

GS Đài sau này có tiết lộ : “Tôi thật cám ơn Thầy (GSTâm) đã tin tưởng tôi …Tuy nhiên lời cám ơn này không xóa được cái ân hận mà tôi vẫn giữ mãi trong lòng về việc Thầy ra đi khỏi Huế. Một số áp lực ở Trường làm tôi không tìm mọi cách để giữ Thầy lại…” (VĐ Đài, ĐSan YKH 2006, tr 11).

2.5) Hôi đồng Khoa YKH khi tình thế nhanh chóng lắng dịu, họp cử Khoa trưởng, với sự hiện diện của Viện trưởng GS Lê Thanh Minh Châu.

Không có ứng cử viên, tôi (Lê Bá Vận) đang tạm xử lý thường vụ trường, được đề cử.

Cuộc bỏ phiếu kín tiến hành, kết quả toàn bộ phiếu chấp thuận, không có phiếu chống hoặc phiếu trắng. Rõ ràng các thành viên trong hội đồng Khoa, chung cuộc đã đồng lòng gạt bỏ các bất đồng, dị biệt vì tiền đồ của Trường, quyền lợi chung của sinh viên.

Kết quả này đưa ra làm tan dịu tất cả mọi dị nghị, chống đối dù ở đâu, Huế hoặc Sài gòn vì đó là ý nguyện của Trường, không do áp đặt.

Căn cứ trên biên bản Hội đồng Khoa ĐHYK và đề nghị của Viện Đại Học Huế, một tân Khoa Trưởng cho trường ĐHYK Huế được bộ Giáo Dục bổ nhiệm (với đầy đủ quyền hành và phụ cấp chức vụ). Một lễ nhậm chức đã được cử hành trọng thể.

Lê Bá Vận

bdt-6

Chú Thích:

(1)Từ năm 1975, danh xưng Khoa Trưởng được gọi là Hiệu Trưởng trường ĐHYK HUẾ.

(2) Ông Tâm nhỏ xin miễn bàn, ông này lắm chiêu nhiều phép, quậy tới bến.

(From: MC LAI Date: October 28, 2016 at 12:28:17 AM PD)

One thought on “Lê Bá Vận – TRƯỜNG YK HUẾ & CÁC KHOA TRƯỞNG (1961-1975). Phần 2

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s