Giới thiệu CD „Dạ khúc“ với Tiếng Hát Thu Vàng: Lấp Lánh Sao Mai

thuvang

Thu Vàng

Album này tập hợp hơn mười bài hát, viền quanh chủ đề Dạ Khúc, một thuật ngữ phương Tây. Tiếng Ý Sérénata nghĩa là „Đêm thanh“ dùng cho những tấu khúc hay ca khúc xướng lên dưới cửa sổ lầu hoa, thường để xưng tụng kẻ quyền quý hay người yêu quý.

Du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 20, thuật ngữ xoay hướng: Sérénade phương Tây mời gọi hạnh phúc, còn Dạ Khúc Việt, như của Nguyễn Mỹ Ca hay Nguyễn Văn Quỳ, là tâm sự cô đơn, quay về dĩ vãng. Tiếng tang tình khuya khoắc, não nùng của Nguyễn Mỹ Ca, tưởng đã từ lâu xa vắng, sao vẫn bây giờ thân thiện bên ta? Âm hao Nguyễn Văn Quỳ, cổ điển, tinh tế như xoáy vào lòng người bao kiếp sống mong manh. Cung Tiến vào tuổi mười bảy mười tám, cảm thơ Xuân Diệu, đã phổ tiếng Nguyệt Cầm, vào „Một đêm trăng úa làm vỡ hồn ta“.

dakucHọ đều xa tinh thần Sérénade của Schubert hay Toselli mà Phạm Duy khi đặt lời Việt đã tài tình đưa vào những âm hao ngậm ngùi trong hồn Việt. Với Dạ Lai Hương làm tại Huế 1953, Phạm Duy trở lại với niềm lạc quan của Sérénade: „Đời vui như ong bay, ngọt lên cây trái“. Đã xa rồi, tiếng đàn ảo não „Vườn khuya trăng rải“ trong Đêm Thu của Đặng Thế Phong, có lẻ là Dạ Khúc sớm nhất trong nhạc thuật Việt Nam.

Sầu khuya đâu đây còn là sấu xứ, trong Đêm Lạnh của Phạm Trọng Cầu, là khúc lữ hoài xa vọng từ chuyến metro cuối cùng đêm Paris. Lời ca lạc loài, niềm khuya không địa chỉ, như „đời gió đi không về“ của Hoàng Quốc Bảo với Tango Xanh, tiêu đề tân kỳ, nhưng điệu hát thân quen, một thoáng phôi pha như có „ai ngắt đóa quỳnh hương dưới trăng“.

Hình Ảnh Một Buổi Chiều của Lâm Tuyền và Dạ Chung „tha thiết tình mong nhớ“ đến với thế hệ sau, khoan thai hơn, như Hoàng Ngọc Đức sáng tác Mùa Trhu Qua Rồi Đó lúc ngoài hai mươi tuổi: Nhạc linh hoạt, nhịp thanh thoát, lời tươi sáng cho người nghe một thoáng mơ mộng êm đềm, cùng trong một dòng nhạc ngậm ngùi hoài vọng.

Album ngưng đọng giữa Đêm Buồn, Văn Phụng phổ nhạc lời ca dao thân thuộc: Đêm khuya ra đứng bờ ao, diễn lại thân phận người phụ nữ Việt Nam ngày xưa có lẻ cả ngày nay.

Đêm phương Tây an lành, đêm phương Đông khắc khoải, trước vũ trụ nín câm: „trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ“. Người phụ nữ cất lên lời gào gọi, thất thanh , dù chỉ trong nội tâm: sao ơi sao hỡi. Dạ khúc, trong tâm cảm người đàn bà Việt là „ngọn nhan tàng thắp khuya“ như một lời ca dao. Nó là niềm chịu đựng câm nín, cô đơn và chung thủy, mà vẫn lấp lánh sao mai.

Hát là chơi. Nghe hát, nhạc gì cũng vậy, là nghe chơi. Nhưng mai kia ai đó, muốn tìm hiểu tâm tình người hát, thì đây, nó ngưng đọng ở thân phận người phụ nữ giây phút „đêm đêm tưởng giải ngân hà“

Khi xuất thần, những trắc ẩn bỗng thăng hoa thành tiến hát. Tiếng hát hồn nhiên, óng ả đầy xúc cảm và truyền cảm.

Cũng không lấy chi làm lạ. Xưa nay vẫn vậy: nghệ thuật là dấu chân loài người để lại sau khi vượt qua những thử thch1. Nghệ thuật là khả năng con người biến định mệnh thành tiếng hát.

Đặng Tiến, Paris

haimat-bia_da_khuc

 

Du Tử Lê: Ca sĩ Thu Vàng và đam mê “Lội ngược dòng”…

Dạ Khúc” là tựa đề chung đĩa nhạc mới nhất của nữ ca sĩ Thu Vàng, ở Saigon.

Bằng đam mê và niềm tin mãnh liệt, Thu Vàng đã tự nguyện tìm về dòng nhạc Tiền Chiến. Sự “lội ngược dòng” của Thu Vàng cho thấy, chí ít cũng là ý thức đáng trân trọng của một tiếng hát, muốn tạo cho mình một nhan sắc riêng. Một chỗ đứng khác, dưới bầu trời trình diễn tân nhạc Việt hôm nay và, ngày mai.

Bình thường, chúng ta cũng có khá nhiều ca sĩ tìm về, ở lại với những rung động hay, tâm cảnh của những nhạc sĩ, làm thành dòng suối tân nhạc của chúng ta, thời tiền Chiến. Nhưng những trở về di vãng đó, nếu có, cũng chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ; có tính cách tượng trưng, tựa đôi nét chấm phá cho bức tranh âm nhạc thực tại của họ mà thôi. Ít ai đắm mình, gần như trọn vẹn trong dòng sông quá khứ, vốn đã trở thành xa lạ với đa số giới trẻ thưởng ngoạn, hôm nay.

Nhìn lại 12 ca khúc, làm thành chân dung “Dạ Khúc”, nếu không kể ca khúc “Tango Xanh” của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, có độ tuổi… “trung niên” – – (Thì,) 11 ca khúc còn lại, đều thuộc về vàng son, một thời mướt xanh, quá khứ.

Đó là những ca khúc như “Sérénata” của Enrico Toselli; “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca; “Đêm Thu” của Đặng Thế Phong; “Dạ Lai Hương” của Phạm Duy, hay “Hình ảnh một buổi chiều” của Lâm Tuyền – Dạ Chung, “Dạ Khúc” của Nguyễn Văn Quỳ; “Nguyệt Cầm” của Cung Tiến, “Sérénade của F. Schubert…

Theo một số nhân vật có thẩm quyền về dòng tân nhạc Việt thì, tự thân những ca khúc làm thành “Dạ Khúc”, tiếng hát Thu Vàng, vốn đòi hỏi ca sĩ chọn chúng, phải có một trình độ nhạc lý vững chắc, một trái tim đủ giàu nhậy cảm, để có thể vẽ lại những bức tranh nghệ thuật và rung động của các tác giả (bằng tiếng hát)… Đòi hỏi căn bản này, cũng không loại trừ ca khúc có độ tuổi “trung niên” của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Vẫn theo những nhân vật đó, thì may mắn thay, Thu Vàng đã có được cho cô, những đòi hỏi căn bản ấy. Hơn thế, Thu Vàng còn cho thấy sự thấu hiểu (hay khả năng thẩm thấu ngôn ngữ Việt?) khi cô trình bày phần chữ và nghĩa của những ca khúc kể trên, qua tiếng hát của chính cô nữa.

 

haimat-bia_da_khuc

Các bạn yêu thích nhạc muốn có CD „Dạ Khúc“ Tiếng Hát Thu Vàng xin liên lạc qua E-Mail:

webmasterkhoahocnetwordpress@gmail.com để được chuyển tiếp.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s