BS Lê Bá Vận – TRƯỜNG Y KHOA HUẾ & CÁC KHOA TRƯỞNG (1961-1975) (Phần 1-tiếp theo)

PHẦN 1b

2) Bác Sĩ Lê Khắc Quyến (1963-1966) kế nhiệm BS Lê Tấn Vĩnh.

ykh-bslekhacquyenÔng được bổ nhiệm Quyền Khoa Trưởng ĐHYK Huế vào cuối tháng 1 năm 1963, chức vụ mà ông giữ cho đến giữa năm 1966 thì ông bị cưỡng bức rời Huế vào cư trú ở Sài Gòn.

Tuy nhiên ngay từ khi Trường đang thành lập, BS Quyến trong nội bộ đã được xem là người gầy dựng ra trường y khoa và điều hành mọi việc.

Tính ông ưu ái lo lắng chu đáo cho nhân viên, sinh viên.

Kể ra thì tôi là đồng môn với ông vì cùng là cựu sinh viên trường thuốc ở Hà nội, song BS Quyến vào trường Y Hà nội trước tôi đến cả một hai thập kỷ, như thế có thể làm thầy dạy của tôi.

BS Lê Khắc Quyến (1915-1978) cùng BS Tô Đình Cự (1912?-2008), Phạm Biểu Tâm (1913-1999), Tôn Thất Tùng (1912-1982), Đặng Văn Chung (1913-1999), Vũ Công Hòe (1911-1994) v.v… ở trường Y Hà Nội thời đó học cùng lớp hoặc chỉ cách nhau một hai năm.

YKH Khóa 1: Những con chim đầu đàn của ĐHYK Huế, 1961-1962. (Lớp chỉ có một nữ sinh viên duy nhất, mặc áo dài ngồi phía trước, theo lời thầy Vận là "hoa lạc giữa rừng gươm, do đó cũng là hoa hậu của lớp và của trường thời đó". Đứng ở giữa là cố GS, BS Krainick)

YKH Khóa 1: Những con chim đầu đàn của ĐHYK Huế, 1961-1962. (Lớp chỉ có một nữ sinh viên duy nhất, mặc áo dài ngồi phía trước, theo lời thầy Vận là “hoa lạc giữa rừng gươm, do đó cũng là hoa hậu của lớp và của trường thời đó”. Đứng ở giữa là cố GS, BS Krainick

Hồi đó mà đậu cho được Tú Tài Pháp để vào Đại học rất gian nan và phải là giỏi. Tôi nghe nói BS Lê Khắc Quyến học rất giỏi ở tiểu học (tại Đồng Hới) và trung học tại trường Albert Sarrault (Hà Nội).

Tại trường Y Hà Nội thì BS Quyến đệ trình luận án vế bệnh thương hàn, tốt nghiệp năm 1944, phụ tá cho Giáo sư Henri Gaillard, Khoa Trưởng trường Y, giáo sư vi trùng, ký sinh trùng học. Sau này ở Huế BS Quyến là trưởng khu (bộ môn) kiêm trưởng khoa lây (truyền nhiễm) ở Trường và Bệnh viện. (1)

Trong thời gian BS Quyến lãnh đạo trường YK Huế và ngay từ niên khóa đầu tiên 1961-62, sự giảng dạy ở Trường ở vào điểm cực thịnh, ấy là nhờ các giáo sư, bác sĩ thuộc phái bộ ngoại quốc, nhất là phái bộ Đức hùng hậu, dù cho từ hè 1963 ở Huế có các biến động chính trị và chính BS Quyến lại có liên hệ nhiều hơn là ít.

BS Quyến cũng hăng hái với văn nghệ, thể thao.

Bệnh viện TƯ Huế do ông làm giám đốc thường bao giàn các gánh cải lương Sài gòn ra Huế lưu diễn. Ông thành lập và làm ông bầu đội bóng tròn Bệnh viện Huế.

Hồi đó tôi có nhà ở trong bệnh viện kề sát nhà mệ Bửu Tu, nhân viên phòng X- Quang và phụ tá cho BS Quyến về hoạt động thể thao.

Các cầu thủ, nhân viên bệnh viện thường tụ họp trước sân và trong nhà mệ Tu và BS Quyến cũng năng đến. Mặc dầu được trang bị áo quần giày dép rất cẩn thận, các thành tích của đội bóng tròn bệnh viện hình như cũng khiêm tốn.

Năm 1962 BS Quyến lại thành lập và làm ông bầu đội bóng tròn bác sĩ bệnh viện và trường Y.

Các bác sĩ trẻ chủ nhật hàng tuần lái xe hơi cả đoàn, rất oai vệ, vào trường Đồng Khánh tập dượt ở sân cỏ sau. Hai cầu thủ nổi bật nhất là BS Nguyễn Khoa Nam Anh và Nguyễn Văn Vĩnh.

May mắn hoặc rủi thay chưa kịp ra quân thử sức thì chắc BS Quyến quá bận việc, không theo dõi kỹ, đội bóng tròn bác sĩ giải tán, quần áo giày tất biếu đội bóng bệnh viện.

Thú thật các bác sĩ Nam Anh, Vĩnh và tôi tuy cũng thích bóng đá, ngay từ hồi nhỏ, nhưng đến nay lại thích chủ nhật ra sân tennis hơn. Các bác sĩ khác thì có những giải trí riêng.

BS Quyến tuy được mọi người kính nể nhưng ông lại dễ dàng, xuề xòa, tốt bụng, có khi tốt nhịn.

Ở trong cương vị lãnh đạo Trường và Bệnh viện, đi chiếc Mercedes trắng bề thế, ông vẫn kéo đôi dép lẹt xẹt, áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần, trời lạnh khoác thêm một áo dạ đen hở nút, nét mặt tươi cười. Hình ảnh rất quen thuộc, như những lúc ông đứng chụp ảnh chung với sinh viên Y khoa, cán sự Y tế, nữ hộ sinh, nhân viên.

ykh-bslekhacquyenvanhanvien

Đối với các bác sĩ trẻ tuổi đồng nghiệp dưới quyền lúc nào ông cũng xưng “toa, moa”, nhưng ai cũng thưa lại “anh, tôi” (‘toa moa’, tiếng Pháp dùng xưng hô thân mật, trong gia đình, quen thân).

Có lần trong buổi họp thứ bảy hàng tuần tại văn phòng giám đốc, BS Nguyễn Khoa Nam Anh (từ Pháp về) phàn nàn về một điều gì đó, bác sĩ Nam Anh tính thường hùng hổ, bộc trực. BS Quyến có vẻ tức bực, bảo : “Mais c`est toi qui as demandé à venir !” (nhưng chính ‘toa’ đã xin về đây). BS Nam Anh trả lời liền : “C`est vrai, mais je n`ai pas demandé à rester” , (đúng, nhưng tôi không hề xin ở lại).

BS Quyến nhượng bộ. Hòa khí trở lại, vui vẻ, thật ‘dĩ hòa vi quí’.

Khoảng gia năm 1964 BS Quyến cho biết phải có ECFMG (văn bằng tương đương) thì qua Mỹ mới được tiếp xúc bệnh nhân, học các khoa lâm sàng. Nói là làm, ông rủ rê ở đâu được một đại úy bác sĩ Mỹ đến dượt ECFMG cho các bác sĩ trẻ và hối thúc họ đi học.

Tuần hai lần ông Đại úy Mỹ khoảng 8 giờ tối, lái xe Jeep đến Trường.

Ông Cách, cai trường đã mở sẵn cửa giảng đường A phía tay mặt, ngay cửa chính đi vào.

Học viên khoảng sáu, bảy người, học đến 10 giờ về, các tài liệu học do ông Mỹ cấp.

Sau đó nghĩ lại nhỡ đêm hôm có gì nguy hiểm cho ông bác sỹ Mỹ này thì phiền phức lớn.

Nhưng chuyện là của ông, ông ắt phải tự lo. Năm 1964 coi như trong nước chưa đánh chác gì.

Năm sau tôi vào Sài Gòn thi ECFMG, thi tại một sở Mỹ trên lầu rạp Nguyễn Văn Hảo (?).

Năm đó có 3 người thi, tôi và 2 vị lạ mặt. Điều này khiến BS Quyến xin cho tôi đi Mỹ học.

BS Quyến trong cương vị lãnh đạo Trường đã rất tích cực, hăng hái tìm mọi cách sớm gửi các bác sĩ trẻ ra du học nước ngoài, phần đông đi Tây Đức với sự giúp đỡ của GS H. Krainick tại Trường.

Kết quả các năm 1965, 66, 67 nhiều bác sĩ đã trở về thay thế các giáo sư ngoại quốc mãn nhiệm kỳ giảng dạy, giảm dần lệ thuộc .

Công lao này của BS Quyến đối với Trường rất lớn.

Được BS Quyến chỉ định đại diện Trường, qua năm 1966 tôi sang New Delhi, Ấn độ trong 2 tuần lễ dự hội nghị Thế giới kỳ 3 (?) về Giáo dục Y khoa.

Trưởng đoàn VNCH là GS Phạm Biểu Tâm, Khoa trưởng ĐHYK Sài Gòn, thành viên đoàn gồm GS Nguyễn Hữu, ĐHYK Sài Gòn và tôi (Lê Bá Vận), ĐHYK Huế.

Hôm lên máy bay đoàn lại có thêm BS Hoàng Ngọc Minh đi tự túc.

Sang đến New Delhi, GS PBTâm, là khách mời của ban tổ chức và Chính phủ Ấn Độ, ở khách sạn riêng. Ba người còn lại, GSHữu rủ vào ở YMCA cho rẻ tiền, vì ở đến 2 tuần lễ, mà cũng là giữa trung tâm thành phố; cùng nhau đi phố, đi ăn cơm cà ri, đi hội nghị, đi thăm Taj Mahal.

Có hôm cùng nhau đi shopping, tôi chỉ nhìn ngó, GS Hữu thì mở cuốn sổ tay ghi chi chit những điều ở nhà dặn mua, đồ trang sức, vải lụa, kỷ niệm… thấy ông chọn lựa rất kỹ, tôi không dè ông quá rành mua bán.

Tôi chỉ chú ý thấy có sân đất, và khi vào phủ Tổng Thống thấy có sân cỏ, cũng tennis, lạ mắt.

Không thấy có phái đoàn ĐHYK miền Bắc.

Kể từ ngày Bác sĩ Lê Khắc Quyến được bổ nhiệm Q. Khoa Trưởng ĐHYK Huế vào đầu năm 1963, các rối loạn Miền Trung đã manh nha rồi bộc phát mạnh, nhất là tại Huế, nơi có Viện Đại học, nhiều thầy, nhiều sinh viên.

Sự giảng dạy riêng ở trường YK vẫn tốt, nhờ sự tận tâm và khôn khéo của các giáo sư người Đức, đặc biệt GS Krainick và GS Discher (cả hai thiệt mạng trong biến cố Tết Mậu Thân 1968), cũng như các giáo sư người Pháp.

Sinh viên YK đi học đều đặn, có khi vào cửa sau trong khi BS Quyến bị lôi cuốn vào làm chính trị, có tình nghi Phong trào Mặt trận Hòa Bình liên kết với kháng chiến, có giam giữ, được thả sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ.

Có Hội đồng nhân sĩ, thành viên Thượng Hội đồng Quốc gia ở trung ương (giải thể cuối 1964) thời Đại Tướng Dương Văn Minh, rồi cũng từ 1964, chủ tịch hội đồng nhân dân cứu quốc, rất lớn, thủ lĩnh khối ‘Lập Trường’ ở địa phương, chống đối chính phủ Sài Gòn dưới thời các tướng lãnh kế tiếp: Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu v.v… gì đó, kẻ khen người chê, lắm khi thóa mạ nặng lời, làm chính trị là vậy, và cũng thật khó nhận định đúng, đánh giá tốt sự việc cứ như hỏa mù trong thời điểm ấy, 1963-66.

Tuy nhiên không bao giờ tôi nghe ông bàn luận chính trị ở nơi làm việc.

BS LKQ (1915-1978) và phu nhân Võ Thị Thạnh (1917-1984) Ảnh 1961

BS LKQ (1915-1978) và phu nhân Võ Thị Thạnh (1917-1984) Ảnh 1961

Trong bài viết này tôi nhằm kể lại chuyện xưa, những suy nghĩ, nhận xét về các khía cạnh và diễn biến trong việc điều hành trường của các người lãnh đạo; nếu có đề cập đến sự kiện chính trị cá nhân nhất là trong cương vị công bộc có liên quan đến trường thời ấy, thì cũng tránh không bàn rộng, dành dư luận cho những diễn đàn khác.

BS Nguyễn Văn Thuận, một học trò cũ YK1 của ông, ở Houston, Texas đã viết : “Bác sĩ Quyến đã đi vào chính trị như một cơn lốc, kéo theo những cơn bão. Và cuối cùng, từ 1966 ông bị cô lập ở Sài gòn, và không còn một dịp nào trở lại Huế, trở lại với niềm ước mơ của đời thầy, được thấy những học trò của thầy thành đạt” (DÒNG VIỆT 1997,tr.89). Các cựu sinh viên YKH các khóa đầu tiên, được BS Quyến dạy dỗ đều hiểu rõ và cảm thông với ông.

Lỡ bước một phen, nghìn đời ân hận.

Quay đầu nghĩ lại, chín suối ngậm ngùi “.

Tôi thật không nghĩ BS Quyến nên làm chính trị. Tôi không phải là nhà tướng số gì, song nhìn ông ngồi trên ghế bành, tôi thấy có khi thật giống đức Phật Di Lặc, hiền hòa, mặt tròn, bụng mập, tươi cười. Ông nhân ái, không trừng phạt, không thủ đoạn, như thế khó làm chính trị ??

Sự kiện BS Lê Khắc Quyến phải rời Huế tôi nghĩ là một mất mát to lớn nhất cho Trường, hơn bất cứ ai trong chức vụ điều khiển ĐHYK Huế.

Chúng ta mất một người lãnh đạo giàu kinh nghiệm quản trị, một người có tâm huyết với Trường, một giáo sư hàng đầu về khoa lây nhiễm rất quan trọng trong nội khoa, và đang trực tiếp hàng ngày giảng dạy sinh viên tại trường và bệnh viện.

Sinh viên Tô Đình Đài YK1, vào năm thứ ba đi thực tập ở khoa truyền nhiễm viết tưởng nhớ như sau : “…Cũng trong thời gian này, BS (BSQuyến) đã cho phép chúng tôi tập trung tại phòng khách tư gia của BS trong các buổi tối để được ăn bánh ngọt, uống nước trà, đồng thời được nghe BS giảng dạy…truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm về chuyên môn nhất là những trường hợp cấp cứu khi trực gác…” (Đặc San YKH 2006, tr. 33).

Rời Huế vào Sài gòn, BS Quyến được mời làm Giám đốc Bệnh viện Sùng Chính, rất lớn của người Hoa, trên đường Trần Hưng Đạo. Từ đó ông chỉ chăm lo công việc chuyên môn và quản trị.

Năm 1973, tôi vào Sài gòn, được bộ Y tế mời tham dư Hội thảo về Kế hoạch gia đình.

Trong buổi tối chiêu đãi, BS Quyến và tôi ngồi cùng bàn, sát cạnh. Ông vẫn ‘toa, moa’ hỏi thăm chuyện trường và căn dặn nhiều điều trong giao tế để đoàn kết anh em trong Trường.

Tôi luôn vâng dạ. Đó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Tôi vẫn luôn nhớ ông đã làm ơn nhiều cho tôi và lại còn nhiều hơn cho nhiều người khác, cho mọi người.

BS Quyến (Văn Xá, Hương Trà, Thừa Thiên) mất tại Sài gòn, tại nhà riêng, vì chứng ung thư đại tràng, năm 1978, ở tuổi 63, ngoài Huế ít người biết.

GS Phạm Biểu Tâm, bạn học cũ, mổ cho BS QuyếnGia đình có xin đưa bệnh nhân qua Pháp để xạ trị sau khi phẫu thuật song không được chấp thuận xuất cảnh.

ykh-tykheohangtruong

Vào tháng 7-1994, một buổi lễ tưởng niệm cố linh mục Cao Văn Luận (1908-1986) và cố khoa trưởng Lê Khắc Quyến (1915-1978) đã được tổ chức tại chùa Vạn Phật Thành, Talmagage, California.

Các cựu sinh viên YK Huế đã dự lễ tại chánh điện của chùa dưới sự chứng giám của tỳ kheo Hằng Trường là con của cố khoa trưởng Lê Khắc Quyến. Sau buổi lễ, mọi người đã được mời thụ trai, một bữa ăn chay đạm bạc nhưng đầy tình thân ái “ (Đồng Sĩ Nam YKH5, ĐSan YKH 2006, tr.138).

Hiện nay kể từ 14/8/2014, Thành phố Huế có các đường mang tên Lê Khắc Quyến tại phường An Cựu, và Thân Trọng Phước tại phường Thủy Biều (thuvienphapluat.vn/…/Nghi-quyet-03-2014-NQ-HDND-dieu-chinh)

*****

3) Bác Sĩ Thân Trọng An, được Bộ hợp thức hóa thay thế BS Quyến vào cuối tháng 10-1966 và giữ chức vụ cho đến cuối tháng 3-1967. BS An, có vợ đầm, học ở Pháp về, làm ở khoa ngoại.

Trong thời gian ngắn ngủi ông làm Quyền Khoa Trưởng ĐHYK Huế, việc giảng dạy ở Trường không có thay đổi. Tuy nhiên vì có nhiều xung khắc, va chạm với các đồng nghiệp, nhất là đối với các bác sĩ cùng ở Pháp về, ông mất sự tín nhiệm và sau đó từ chức.

Ông có vẻ cũng không có mối giao hảo tốt với các giáo sư, bác sĩ người Đức ở trường.

Bà vợ mang yểu tố Rh(-) nên bà mong muốn gia đình trở về Pháp để yên tâm lúc bà thai nghén các lần sau.

BS An tính thân mật với sinh viên, chỉ bảo nhiều cho họ ở bệnh viện, được sinh viên ưa thích.

Vào năm 1995, ông từ Pháp qua Canada trong một chuyến công tác phẫu thuật cho cư dân một hòn đảo nhỏ thuộc Pháp tại ngoài khơi, gần Canada. Nhân chuyến đi này của ông, các bác sĩ cựu sinh viên YKHuế, tại Montréal đã tổ chức buổi gặp mặt thật vui vẻ, cảm động.

Tuy nhiên kể từ vào gần cuối năm 1965, BS Lê Khắc Quyến không thấy đến trường và có một khoảng thời gian trống ngót cả năm trường YKH có một ban đại diện trường tạm xử lý mọi việc.

Nói chung, ban đại diện hoàn thành nhiệm vụ rất tốt nên việc học tập, giảng dạy ở trường suôn sẻ.

Cũng tương tự sau ngày 30/4/1975 trong thời gian đầu, trường có một ban điều hành.

BS Nguyễn Văn Mẫn rồi BS Lê Văn Bách lần lượt làm trưởng ban đại diện trường trong thời gian đó.

Bộ Giáo Dục ở Sài Gòn thì mất kiểm soát về các trường đại học tại Huế mà tình hình đang sôi động.

Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, con dân Huế, người Phú Cam (sinh năm 1929) , học y khoa, nội trú các bệnh viện ở Toulouse, Pháp, về trường YKHuế cùng lúc với BS Thân Trọng An.

Bà vợ là nha sĩ, cũng tốt nghiệp tại Pháp về, làm việc tại BVTW Huế..

Các sinh viên YKhoa thuật lại trong chuyến Đại học Huế đi cứu trợ lụt bão tại Quảng Nam/Đà Nẵng cuối năm 1964, BS Mẫn trưởng đoàn rất nhiệt tình, khéo léo nên được lòng với bên quân đội, cả với Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Vùng 1 Chiến thuật (kiêm đại diện chính phủ).

Trung Tướng Thi đem BS Mẫn lên làm giám đốc BVTƯ Huế thay thế BS Nguyễn Duy Chi vào giữa năm 1965 và kiêm trưởng ban đại diện trường khi BS Quyến khiếm diện (song trên danh nghĩa vẫn là Q. Khoa trưởng trường YK Huế).

Vào đầu năm 1966 tướngThi lại đưa BS. Mẫn vào làm Thị Trưởng Đà Nẵng.

Ở Huế BS Tô Đình Cự lên thay thế, làm giám đốc Bệnh viện, BS LVBách thì làm trưởng ban đại diện Trường cho đến lúc Huế yên, BS Thân Trọng An được bộ GD bổ nhiệm thay thế BS Quyến.

Tướng Thi bị cất chức gần giữa tháng 3/1966 và được cho đi Hoa Kỳ chữa bệnh.

BS Nguyễn Văn Mẫn sau đó cũng mất chức thị trưởng Đà Nẵng và bị quân đội bắt giữ (23/5/1966).

Đến giữa tháng 6 thì quân chính phủ đã đến Đà Nẵng từ tháng trước, ra Huế dẹp nốt các cuộc chống đối được mệnh danh là “Biến Động Miền Trung” kéo dài từ giữa năm 1964 đến giữa năm 1966 và bắt các lãnh tụ chống đối, trong đó có BS LK Quyến giải về Sài Gòn.

Huế, Đà Nẵng yên từ đó cho đến chiến cuộc Tết Mậu Thân đầu năm 1968.

Ngày 28/4/1975 Tổng Thống Dương Văn Minh vừa nhậm chức, chỉ định Thượng Nghị Sĩ Vũ Văn Mẫu làm thủ tướng, thành lập chính phủ hòa bình gồm những phần tử hoàn toàn thuộc thành phần thứ ba, theo tinh thần Hiệp định Paris.

Trong tân nội các có GS Bùi Tường Huân cựu Viện trưởng Đại học Huế là Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, BS Lê Khắc Quyến là Quốc vụ khanh kiêm Tổng trưởng Y tế và BS Nguyễn Văn Mẫn là Tổng trưởng Xã hội và Cứu trợ.

Chính phủ Vũ Văn Mẫu dự kiến ra mắt hôm sau, sáng 30/4 song đến phút chót phải hủy bỏ ý định. Chính phủ của ông chỉ tồn tai được một ngày.

(nguồn: www.viethaingoai.net/bai-dien-van-cuoi-cung-cua-chinh-phu-viet)

BS NV Mẫn qua Pháp, hành nghề trở lại và mất tại Paris, Pháp vì bệnh tim cách trên 10 năm.

(nguồn: http://motgoctroi.com/HoiKy/VolongTrieu/Hky_VLTrieu29.htm)

Tuy vậy, ông bà BS NVVĩnh, người cùng làng Phú Cam, bạn thân của BS NVMẫn, cho biết từ Hoa kỳ sang Pháp rất nhiều lần và nhờ bạn bè định cư ở Pháp cố gắng dò hỏi vẫn không tìm được tung tích của hai ông bà người bạn xưa.

Cũng có nguồn tin từ giới Y khoa nói BS NV Mẫn thiệt mạng tại Úc, trong một tai nạn giao thông trên đường đi Blue Mountains, khi ông vừa nhận được giấy phép hành nghề trở lại, cũng cách trên mười năm. Phải chăng là trùng tên với một bác sĩ Y Khoa Sài Gòn. Đâu là sự thật?

Dù sao thì trường ĐHYK Huế cũng có được 2 thầy dạy đã làm đến chức bộ trưởng trong chính phủ thời đó.

*****

4) Bác sĩ Lê Văn Bách được Bộ Giáo Dục cử Xử lý thường vụ Khoa Trưởng thay thế BS Thân Trọng An kể từ đầu tháng 4-1967 và giữ chức đến cuối tháng 12-1967 .

ykh-bslevanbachBSBách từ quân đội được biệt phái về Trường, được gửi đi tu nghiệp ở Đức rất sớm, lúc về làm ở khu Nội thương và sau đó giữ chức Trưởng khu (bộ môn) Nội cho đến lúc ông về hưu, năm 1995.

Các đồng nghiệp đã viết về ông như sau :

Thầy Lê văn Bách vào làm cho Y Khoa Huế ngay từ lúc trường mới thành lập. Thầy là người rất có trách nhiệm, nguyên tắc và ghét tham quyền cố vị, vì vậy khi Thầy được bầu lên làm Quyền Khoa Trưởng, mặc dầu lúc đó Thầy được sự ủng hộ mạnh mẽ của các giáo sư người Đức và hầu hết nhân viên giảng huấn, hành chánh… và sinh viên, Thầy luôn đòi hỏi Viện phải thúc dục Bộ Giáo Dục bổ nhiệm một Khoa Trưởng thực thụ” (Võ đăng Đài, Giáo sư YKH, ‘Tính sổ…’ ĐSan YKH 2006, tr.12)

Bác sĩ Lê văn Bách đã giữ vững Y Khoa Huế trong thời gian rất nhiễu nhương để trao lại cho tôi. Ông là một bậc thầy khả kính đối với sinh viên. Ông có một đời sống khắc khổ với ông và nghiêm nghị với mọi người. Ông là một người bảo thủ, nhưng không hề cản trở công cuộc cải cách táo bạo của tôi” (Bùi Duy Tâm, Giáo sư, Khoa trưởng ĐHYK Huế, Kỷ yếu YKH 2010).

Riêng tôi nhận thấy Bác sĩ Lê Văn Bách sống thật đạm bạc. Ông luôn mặc áo sơ-mi trắng, tay dài và đi đôi dép xăng đan nâu, giản dị nhưng chỉnh tề. Suốt thời gian ở Huế, ông chỉ đi xe gắn máy, không hề sắm xe hơi như tất cả các bác sĩ khác. Ông cũng không đánh bài, văn nghệ, thể thao, đến Câu lạc bộ Huế…, ông quá bận bịu vì công việc giảng dạy và phòng mạch rất đông thân chủ.

Tôi chỉ nghe ông đến chùa xem bệnh cho các thầy.

Có vẻ ông không được sức khỏe lắm, phổi yếu (?), có lần phải nghỉ dưỡng bệnh hai ba tháng.

BS Bách đã trao Trường lại cho GS BDTâm ngày 26-12-1967.

Nếu qua tháng sau, cận Tết, bộ Giáo Dục vẫn chưa kịp bổ nhiệm Khoa trưởng thực thụ thì nhiều người nghĩ, sau biến cố Tết Mậu Thân, lúc tình hình tạm ổn định, BS Bách có thể đem Trường tạm vào Đà Nẵng, có sự giúp đỡ của BS Đinh Văn Tùng, Giám đốc Bệnh viện Toàn khoa Đà Nẵng.

Tổng y viện Duy Tân (Quân Y) Đà nẵng, rất lớn cũng là nơi nương tựa tốt.

Các bác sĩ ngoại quốc, nhất là Hoa Kỳ ở Đà Nẵng rất nhiều và nhiệt tâm.

Ngoài ra các giáo sư Sài Gòn nếu bay ra Đà Nẵng giảng dạy thì cũng thuận lợi.

Trong lúc quốc biến, tinh thần yêu nước, tương trợ, lá lành đùm lá rách lên rất cao.

Tạm dời Trường vào Đà Nẵng thay vì vào Sài Gòn trong niên khóa, đó là một lựa chọn thứ 2, khả thi.

Từ năm 1966, BS Đinh Văn Tùng trong ban giảng huấn ủy nhiệm của Trường, cùng các bác sĩ Phùng Văn Hạnh (ngoại phẫu), Võ Văn Tùng (Nhi khoa) v.v…tại BV Đà Nẵng phụ trách giảng dạy sinh viên YKHuế năm thứ 6 thực tập nội trú tại Đà Nẵng.

BS Lê Đình Thương YK1 viết hồi ký có đoạn : “Sáu năm Y khoa rồi cũng qua nhanh. Năm cuối (1966-67) còn đi thực tập nhiều nơi ngoài Bệnh viện Huế : về Phú Bài làm việc với nhóm quân y sĩ Mỹ, được ăn hotdog, uống coca cola, coi xiné trong lều. Vào Đà nẵng được Giáo Sư Đinh văn Tùng dành cho một căn nhà nhỏ trong khuôn viên bệnh viện, còn biệt phái cho một chiếc xe hơi International Scout chạy trên bãi cát. Đây là chưa nói đến công lao dạy dỗ chí tình của bác sĩ Tùng, cho chúng tôi nhiều vốn liếng hữu ích trước ngày ra trường” (LĐThương ‘Vài kỷ niệm…’, ĐSan YKH 2006, tr.19).

BS Đinh Văn Tùng lúc học ở ĐH Y Dược khoa Hà Nội trước 1954 là Ngoại trú Bệnh viện, ở ĐHYK Sài Gòn là Nội trú Bệnh viện, đặc biệt xuất sắc.

Cho nên ông rất ham thích giảng dạy, đại diện cho trường YKH tại Đà Nẵng, hết lòng với sinh viên và có công rất lớn đối với Trường.

Sau này “Hè đỏ lửa Quảng Trị” năm 1972, Đại học Huế di tản vào Đà Nẵng, BS Tùng đã giúp đỡ hết sức tận tình, không những trường Y khoa Huế mà còn các phân khoa khác. (Lê Thanh Minh Châu, ’Diễn văn’, Đại hội YKH 2009).

GS Đinh Văn Tùng là giáo sư về khoa Sản Phụ và Bệnh Lý Cơ Thể Học tại Đại Học Y Khoa UTMB Galveston, Texas, mất tại Mỹ do chứng ung thư phổi, năm 2003. Tất cả cựu sinh viên YKH, học trò cũ của ông vô cùng thương tiếc, nhớ lại những gì quí giá, bổ ích ông đã làm cho họ tại Đà Nẵng.

ykh-gsdaovantung

Dù sao nói cho cùng, nếu Trường vẫn cố ở lại Huế (như ý muốn của chính quyền) thì có thể phải kéo dài niên học qua mấy tháng hè. Nhưng đó chắc là thế cùng, hạ sách. Tuy rằng các phân khoa khác trong Đại học Huế đều không di tản.

Thời gian từ cuối 1972 cho đến cuối tháng 4-1975 BS Bách đảm nhiệm chức vụ phó Khoa Trưởng đặc trách lâm sàng. Ông được xem là cột trụ lớn vững chắc của Trường, cầm giữ mối giường, khuôn phép, rất uy tín và được kính nể như vị Trưởng Lão Chấp pháp của Trường.

Ông ít trò chuyện, khi phát biểu thì chậm rãi, suy nghĩ, sâu sắc, thuyết phục.

Sau ngày 30/4/1975 ông được mời giữ chức phó trưởng ban điều hành trường tức là phó khoa trưởng cũ, nay goi là phó hiệu trưởng trong thời gian ban đầu.

Bác sĩ Lê Văn Bách mất tại tư gia ở Huế, sáng ngày 2 tháng 4, 2002, vì bệnh Phổi tắc ngẽn (Obstructive Lung Disease), thọ 72 tuổi.

Tính ra ông đã phục vụ cho trường ĐHYK Huế thời gian lâu dài nhất, và ngay từ đầu, đào tạo rất nhiều thế hệ sinh viên, ảnh hưởng sâu đậm.

Dân chúng, các học trò cũ, các giới y tế, giáo dục đi đưa đám tang ông đông đảo.

Tại hải ngoại : “Một buổi lễ tưởng niệm cho Thầy (Giáo Sư Lê Văn Bách) đã được tổ chức tại Orange County 1-8- 2002 với sự hiện diện của thầy Viện Trưởng Lê Thanh Minh Châu, cựu Khoa Trưởng Bùi Duy Tâm, các thầy Nguyễn Văn Tự, Phùng Hữu Chí, Lê Bá Vận, Bùi Minh Đức và nhiều các vị khác trong cộng đồng. Chị Tinh Châu (YK2) đã đứng ra để lập quỹ học bổng mang tên thầy, quyên góp được một số tiền lớn gởi về cho gia đình thầy ở Việt Nam.” (BS Đồng Sĩ Nam YKH5, Đặc san YKH, 2006, tr. 141).

Lê Bá Vận

ykh-bslevanbachvaphunhan

ykh-bslevanbach-damtang

Chú Thich:

  1. LBV “Bệnh Viện Trung Ương Huế Thập Kỷ 1960”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s