Hà Văn Thùy – BÀN VỀ VIỆC DẠY CHỮ NHO Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

chunhoSau tham luận của PGS.TS Đoàn Lê Giang trong một hội thảo khoa học thì trên văn đàn rộ lên những ý kiến đồng tình cũng như phản đối việc dạy chữ Nho trong trường phổ thông. Đáng buồn, đó là cuộc cãi lộn vô sở cứ của những người mù sờ voi vì cả hai phe cùng không hiểu chữ Nho (hay chữ Hán) là gì! Khi một cuộc tranh luận khoa học mà người ta không xác định đúng đối tượng tranh biện thì mọi lý lẽ đưa ra đều vô nghĩa!

Muốn bàn chuyện học hay không học chữ Nho, trước hết cần phải biết chữ Nho là gì, do ai sáng tạo và được sáng tạo ra như thế nào!

  1. Chữ Nho là gì?

Thứ chữ mà hơn 2000 năm là quốc ngữ ở nước ta, vốn được các cụ gọi là chữ Nho, chữ thánh hiền hay chữ Hán. Năm 1932, trong sách Hán Việt tự điển, học giả Đào Duy Anh gọi là từ Hán Việt. Nhưng trong sách Văn phạm Việt Nam in năm 1936, học giả Trần Trọng Kim lại gọi là chữ Nho: “Người Việt Nam từ xưa đến nay… có thứ tiếng để nói, có thứ chữ để viết. Chữ Nho là thứ chữ dùng để học đạo Nho, đọc sách thánh hiền.” Từ sau năm 1954, ở miền Bắc thống nhất gọi là từ Hán Việt, còn trong Nam gọi là Cổ văn.

Trong những tên gọi đó thì từ Hán Việt là sự ngộ nhận tai hại. Những người theo chủ trương này cho rằng, khi người Hán đem chữ sang dạy thì đám học trò Giao Chỉ vốn quá thông minh lại đầy tinh thần dân tộc, nên không phát âm theo thầy mà “sáng tạo ra cách đọc bằng tiếng Việt.” Chẳng hạn như thày dạy chữ “tác” thì trò đọc ra “tộ”, thầy dạy “ngộ” trò đọc là “quá”… từ đó mà tạo ra từ Hán Việt với nghĩa: chữ của Hán còn cách đọc của Việt! Thật khôi hài, một lớp học như thế chỉ có thể có ở loài tu hú!

Từ khảo cứu của mình (Lịch sử hình thành chữ viết Trung Hoa), tôi khẳng định, chữ tượng hình là do người Lạc Việt tổ tiên ta sáng tạo từ 9.000 năm trước ở văn hóa Giả Hồ, sau đó ở Tây An Sơn Tây, Cảm Tang Quảng Tây 6.000 năm trước; ở Lương Chử Chiết Giang hơn 5.000 năm trước, rồi được đưa lên An Dương tỉnh Hà Nam. Năm 1.300 TCN, khi chiếm đất An Dương của người Dương Việt, vua Bàn Canh nhà Ân chiếm chữ Giáp cốt của người Việt rồi phát triển lên. Qua thời Chu tới thời Tần tạo ra chữ Trung Hoa ngày nay.

Từ ban đầu, cho tới nhà Hán, chữ vuông được đọc theo âm Việt cổ. Bằng chứng là cuốn Thuyết văn giải tự của Hứa Thận người thời Hán soạn, là cuốn từ điển đầu tiên của Trung Quốc, ghi lại cách đọc chữ vuông theo âm Việt cổ. Sách này về sau thất truyền. Tới đời Tống được biên soạn lại nhờ gom những đoạn trích từ các sách khác. Trên cơ bản, sách vẫn ghi cách đọc âm Việt cổ nhưng nhiều chỗ có thêm cách đọc theo Đường âm. Rõ ràng là do người sau thêm vào bởi lẽ, thời Hán thì Dường âm chưa xuất hiện.

Sau thời loạn Ngũ đại thập quốc, nhiều triệu dân du mục xâm nhập Trung Quốc, làm tiếng nói biến đổi khiến người trong nước không hiểu được nhau. Vì vậy, sau khi lập quốc, nhà Đường buộc các quan khi lâm triều phải nói tiếng của kinh đô Tràng An. Tiếng nói đó được gọi là Đường âm, thứ quan thoại đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Người Trung Quốc thời Đường đa số là người Việt nên tiếng nói của dân Tràng An cũng là tiếng Việt. Như vậy có nghĩa, Đường âm là tiếng nói của người Việt ở kinh đô Tràng An Trung Quốc vào thời nhà Đường. Đường âm được đưa sang dạy ở Việt Nam. Nếu trước đó chữ vuông được đọc theo tiếng Việt thì bây giờ đọc theo Đường âm, cha ông ta gọi là chữ Nho. Sau thời Đường, nước ta giành được độc lập nên chữ Nho cùng cách đọc Đường âm được bảo tồn. Do lịch sử như vậy nên trong bài viết này, tôi xin dùng thuật ngữ chữ Nho.

Từ 5.300 năm trước, tại nước Xích Quỷ, chữ tượng hình đã được chế tác và sử dụng. Khoảng 4.300 năm trước, do nước biển dâng, kinh đô Lương Chử bị nhấn chìm, nhà nước Xích Quỷ tan rã, hơn 500 ký tự giáp cốt bị chôn vùi. Do những biến động của lịch sử, chữ tượng hình khắc trên yếm rùa, xương thú và rìu đá ở Cảm Tang cũng bị chôn vùi. Duy có bộ tộc Thủy ở Quảng Tây, trước cuộc xâm lăng của Tần, Hán đã lui vào sống trong rừng là còn giữ được chữ Lạc Việt cổ gọi là Thủy tự cùng với sách cổ gọi là Thủy thư. Chữ Thủy gần về tự dạng với Giáp cốt văn nhưng cách đọc xuôi theo ngữ pháp Việt, gọi là văn tự hóa thạch sống, được thế giới công nhận là di sản văn hóa nhân loại.

Như vậy, có đầy đủ chứng cứ để khẳng định, chữ Nho do người Lạc Việt sáng tạo để ký âm tiếng Việt. Do sự trớ trêu của lịch sử, người Việt bị mất đất, mất chữ viết dẫn đến mất lịch sử cho nên hàng nghìn năm không biết chữ Nho là sáng tạo của tổ tiên mình.

Nay nhờ tri thức mới của nhân loại, chúng ta tìm lại được cội nguồn, lịch sử, văn hóa, trong đó có chữ viết nên hoàn toàn có quyền khẳng định: chữ Nho là tài sản vô giá của dân tộc Việt.

  1. Quá trình hình thành chữ Nho

Trong lịch sử, tổ tiên ta ít nhất đã sáng tạo ra ba loại chữ: chữ thắt nút, chữ Khoa đẩu và chữ hình vẽ. Trong kháng chiến chống Pháp, Giáo sư Lê Trọng Khánh từng gặp những vị trưởng tộc ở đất Quảng Nam có cả gian nhà chứa chữ thắt nút làm bằng những sợi gai nhuộm nhiều màu khác nhau rồi thắt nút, ghi lịch sử, địa lý, bói toán, cúng tế [1]. Loại chữ thứ hai nay ta gọi là chữ Khoa đẩu vì có hình như con nòng nọc. Nhưng theo ý kiến của học giả Đỗ Ngọc Thành thì tên gọi của nó là chữ Khoe đầu, theo nghĩa Nôm, nghĩa là chữ đầu to. Đó là loại chữ ghép vần kiểu ABC từng tồn tại trên đất Trung Hoa vào thời Khổng Tử. Tới thời Đường, do tiếng Việt biến âm nên Khoe đầu chuyển thành Khoa đẩu. Hiện loại chữ Khoe đầu này còn được lưu giữ nơi đồng bào Thái, Mường… Là loại ký tự mà ông Vương Duy Trinh gọi là Man mẫu tự, mới đây được tác giả Đỗ Văn Xuyền khôi phục, gọi là chữ Việt cổ.

Hướng thứ ba là chế ra chữ tượng hình. Vốn là cộng đồng có tập quán tư duy tổng hợp (chủ toàn) nên khi chế chữ, tổ tiên ta dùng trí lực thu hút cái hồn của vật thành ký hiệu tiêu biểu nhất. Trước hết là nét cách điệu của con rắn, con chim, con cá, con nai… thành những hình tượng mà khi vẽ ra, người khác nhận được. Tiến bước nữa là trừu tượng hóa:

Chữ Giả Hồ Chữ Lương Chử: chữ phụ chữ vương

Chữ trời chữ trăng chữ lửa

Rồi chữ an () là khi người nữ ở trong nhà; chữ tốt () là người nữ có con (nữ hữu tử); chữ phúc ():một con người có áo mặc, có ruộng cày thì đó là phúc… Do kỹ lưỡng như vậy nên thời gian làm ra chữ quá lâu. Chín nghìn năm trước ta đã thấy chữ Mục, chữ Bát, chữ Hỏa, chữ Nhật khắc trên yếm rùa Giả Hồ mà sau 5000 năm, tại Cảm Tang Quảng Tây, chữ vẫn chỉ dùng cho bùa chú, bói toán!

Chữ được chế ra là để ký âm tiếng nói. Trước một thực tế là tiếng nói nhiều mà chữ làm ra thì nên chỉ những tiếng thông dụng nhất hoặc có ý nghĩa thâm thúy nhất mới được chọn ra để ký âm. Và mặc dù dùng nhiều cách khác nhau như tạo ra từ đồng âm để ký âm thêm tiếng nói thì vẫn rất nhiều tiếng không được ký âm nên không có chữ. Người ta thống kê được khoảng 30% tiếng không được ký âm. Tại lưu vực Hoàng Hà, những tiếng không có chữ dần dần mai một. Ở Nam Dương Tử, có thống kê cho thấy khoảng 20% tiếng không có chữ, chỉ được trao đổi truyền miệng trong dân gian, ngày một rơi rụng. Trên đất Việt Nam cũng có tới 30% tiếng không được ký âm mà ta quen gọi là Nôm. Để giải quyết mâu thuẫn này, cha ông ta đã từ chữ Nho sáng tạo ra chữ Nôm. Trong dân gian Việt tồn tại khái niệm “chữ” để chỉ những từ bác học, chữ Nho và “nôm”để chỉ những từ dân dã. Một số người, trong đó có tôi thường phản bác học giả Maspéro vì ông cho rằng “tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ Hán.” Nhưng khi nghĩ lại, thấy rằng ông chỉ sai khi cho đó là “ngôn ngữ Hán” còn con số 30% thống kê theo kỹ thuật ngữ âm là chính xác, đó là số lượng “chữ” trong tiếng nói Việt.

Một mặt khác, tiếng Việt cổ vốn đa âm: blời = trời; Krông = sông, rồng; tlủ = trâu… Trong khi đó, chữ tượng hình là đơn lập. Do vậy, muốn được ký âm, tiếng nói phải chuyển thành đơn âm. Kết quả là, cùng với việc phát triển của chữ tượng hình, tiếng nói cũng được đơn âm hóa. Và do đơn âm nên tiếng được bổ sung thanh điệu: thanh – thành – thánh… Tới đời Đường, tiếng Việt ở Tràng An có sáu thanh.

3. Những lý do cần gấp rút dạy chữ Nho trong trường phổ thông

Theo suy nghĩ của tôi, nhất thiết phải dạy chữ Nho cho lớp trẻ vì những lý do sau:

a. Đó là chữ do tổ tiên Lạc Việt sáng tạo

Nhân loại cho rằng, chữ viết là biểu trưng trình độ văn minh của một dân tộc. Hàng nghìn năm chúng ta phải cúi đầu câm lặng chịu nhục vì bị coi là một dân tộc mông muội không có chữ viết với 70% tiếng nói phải đi vay mượn. Chúng ta vừa mang tâm lý học nhờ, đọc mướn vừa mang mặc cảm thù ghét thứ chữ từng góp phần nô lệ hóa dân tộc.

Nay phát hiện ra, đó là chữ do tổ tiên chúng ta sáng tạo nên không những phải học mà cần học nghiêm cẩn chữ của tổ tiên.

b. Dạy chữ Nho giúp trẻ có tư duy chiều sâu

Việc dạy hay không dạy chữ Nho cho học sinh còn tùy theo mục đích của giáo dục. Nếu một nền giáo dục muốn tạo ra con người chức năng để giải quyết từng công việc cụ thể thì dạy chữ Nho là thừa. Nhưng nếu muốn đào tạo con người toàn diện, biết tư duy sáng tạo thì lại là chuyện khác.

Do được sáng tạo từ tư duy hình tượng sâu sắc hàng nghìn năm nên khác mọi thứ văn tự của nhân loại chỉ là ký hiệu chuyển tải thông tin thì chữ Nho bản thân nó mang tính minh triết, hàm chứa chiều sâu triết lý, giúp người học người đọc hiểu sâu nội dung vấn đề mà con chữ đề cập. Từ đó, tư tưởng của người học Nho trở nên sâu sắc. Điều này quá nhiều chứng nghiệm trong cuộc sống.

Hiện nay, chúng ta dùng quốc ngữ vần ABC. Điều kỳ diệu là quốc ngữ đã dung nạp cả phần chữ lẫn phần Nôm của tiếng Việt. Có thể nói phần hồn của chữ Nho thoát khỏi cái vỏ vật chất vuông vức để hòa nhập vào cuộc sống. Nhưng rồi trong quá trình giao lưu va đập với cuộc đời ô trọc, nhiều chữ bị tha hóa đến siêu hồn lạc phách, đánh mất cái nghĩa nguyên sơ của nó. Lúc này, cái hồn chữ phải trở về mái nhà xưa để tìm lại hồn vía chân thực của mình. Tôi còn nhớ đã đọc ở đâu đó những lời như khắc vào đá thế này: “Chúng ta đã cho người Annam thứ chữ tiện dụng, dễ học, giúp họ bắt nhanh với đà văn minh. Nhưng rồi chắc chắn là sau này con cháu họ sẽ trách chúng làm cắt đứt mối liên hệ của họ với tổ tiên.” Phán đoán của học giả thực dân hàng trăm năm trước đã thành sự thực. Tiếng Việt đang trên đà suy đọa. Sở dĩ còn được như hôm nay là may mắn còn có lớp người muôn năm cũ, giữ được cái lề của cuốn sách đang rách. Có người nói rằng, chữ Nho là tử ngữ do đó không nên dạy tử ngữ cho học trò. Đó là sự hiểu biết ấu trĩ. Không hề là tử ngữ khi “chữ”- hồn vía của chữ ngôn ngữ – đang chiếm tới 70% tiếng nói hàng ngày. Không chỉ tồn tại mà “chữ” đang giúp các ngành khoa học sáng tạo những từ mới để hòa nhập văn minh nhân loại.

Đến hôm nay mới bàn đến chuyện dạy chữ Nho cho con em là quá muộn. Nhưng muộn còn hơn không. Không bao lâu nữa, lớp người “muôn năm cũ” còn rơi rớt chút ít nho nhe về với tổ tiên, sẽ tạo ra khoảng trống văn hóa không thể san bằng, tiếng Việt sẽ mất hồn, không thể cứu vãn được!

c. Học chữ Nho giúp trẻ dễ dàng đọc tiếng Trung

Nhiều người nói rằng: “Chương trình học hiện đã quá nặng, không nên chất thêm gánh nặng lên vai các em. Học được vài nghìn chữ cũng chẳng để làm gì!” Tôi đồng ý là chương trình học quá nặng. Nhưng nếu sắp xếp lại một cách khoa học, giảm những điều vô bổ, chúng ta vẫn có đủ thời gian để dạy trẻ chữ Nho. Nói “vài nghìn chữ cũng chẳng làm gì” là không đúng với thực tế. Từ trải nghiệm của mình, tôi thấy, tôi chỉ học Trung văn ba năm phổ thông Trung học, sau đó học tiếng Nga và Anh nên bỏ luôn tiếng Trung. Nhưng khi buộc phải khảo cứu các văn bản bằng chữ Nho, tôi đã dùng phần mềm dịch và từ điển Hán Việt online để đọc. Cố nhiên, ban đầu rất vất vả nhưng sau quen dần nên đọc được những tài liệu cần. Với ông lão “cổ lai hy” già nua chậm chạp, trí nhớ mỏi mòn còn làm được thì tôi tin, các bạn trẻ, nếu có vài ba ngàn chữ Nho, sẽ không khó khi làm chủ hầu hết những văn bản tiếng Trung.

  1. Học chữ Nho thì học những gì?

  1. Học lịch sử sáng tạo chữ Nho.

Theo tôi, không như các cụ xưa học chữ Nho, chỉ học Tử viết với chi, hồ, giả, dã… Nay học chữ Nho trước hết phải học lịch sử sáng tạo chữ Nho. Lịch sử này bắt đầu bằng việc, 40.000 năm trước, người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục. 20.000 năm trước mang rìu đá mới Hòa Bình lên mở mang giang sơn mới. Từ đó sáng tạo đồ gốm, thuần hóa cây lúa, xây dựng văn minh nông nghiệp trên đất Đông Á. 9.000 năm trước tổ tiên ta sáng tạo ký tự đầu tiên ở văn hóa Giả Hồ, sau đó ở Bán Pha, Cảm Tang. Chữ Giáp cốt được đưa lên Hà Nam. Khi chiếm đất Hà Nam của người Lạc Việt, nhà Ân nhận được Giáp cốt văn ở dạng đã trưởng thành rồi từ đó phát triển lên…

Từ khi chữ ra đời, tiếng Việt được đơn âm hóa rồi có sáu thanh. Sự chuyển hóa tiếng Việt trên đất Trung Hoa để dẫn tới Đường âm, được tổ tiên ta gọi là chữ Nho.

  1. Học cách tư duy của tổ tiên để sáng tạo ra chữ Nho.

Làm ra chữ Nho là việc cha ông chúng ta rút hết tâm hồn và trí lực để “trói voi bỏ rọ,” hình tượng hóa những vật và sự cùng tư tưởng để khắc lên yếm rùa, xương thú rồi sau đó đưa lên mặt giấy. Ngày nay, học chữ Nho, chúng ta dạy lớp trẻ hình dung lại cách tư duy sáng tạo của tổ tiên. Và đó là bài học vô giá về tư duy chiều sâu, con đường dẫn tới thành công trong thế giới hiện đại.

Dạy chữ Nho cho con trẻ là công việc cấp bách ngay bây giờ vì sự tồn vong của dân tộc. Không thể muộn hơn nữa, khi những người còn chút ít chữ Nho ngày càng thưa vắng. Việc này phải trở thành quốc sách, cần được bàn bạc kỹ để thực hiện sớm chừng nào tốt chừng ấy.

Sài Gòn, Thu 2016

Tài liệu tham khảo:

  1. Lê Trọng Khánh. Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình Khoa đẩu (NXB Từ điển bách khoa, 2010)

One thought on “Hà Văn Thùy – BÀN VỀ VIỆC DẠY CHỮ NHO Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

  1. Trong những tên gọi đó thì từ Hán Việt là sự ngộ nhận tai hại. Những người theo chủ trương này cho rằng, khi người Hán đem chữ sang dạy thì đám học trò Giao Chỉ vốn quá thông minh lại đầy tinh thần dân tộc, nên không phát âm theo thầy mà “sáng tạo ra cách đọc bằng tiếng Việt.” Chẳng hạn như thày dạy chữ “tác” thì trò đọc ra “tộ”, thầy dạy “ngộ” trò đọc là “quá”… từ đó mà tạo ra từ Hán Việt với nghĩa: chữ của Hán còn cách đọc của Việt! Thật khôi hài, một lớp học như thế chỉ có thể có ở loài tu hú!

    Câu thành ngữ “Tác đánh tộ, ngộ đánh quá” là một thành ngữ chỉ việc ai đó bất cẩn, hoặc do vội vã, láu táu, hay có thể do ít chữ mà khoe khoang nên nhầm lẫn cái này ra cái kia do hai cái gần giống nhau, ở đây là chữ, vì tự dạng của chữ Tác作gần giống với chữ Tộ祚, chữ Ngộ遇gần giống với chữ Quá過. Nó chẳng liên quan gì đến chuyện cách hình thành từ Hán Việt cả. Còn từ Hán Việt là chỉ âm đọc cùng một chữ hay tự dạng (hình vị)(Hán – Nho) nhưng người Việt đọc (Âm vị) khác người Tàu. Ví dụ: Cùng một hình vị 越 . Người Tàu phát âm là [Yue], người Việt đọc là [Việt] thế mà tác giả Hà Văn Thùy giải thích từ Hán Việt như đã dẫn trên. Điều này không khỏi làm cho người đọc băn khoăn, không biết là tác giả có biết chữ Nho không!?

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s