Trần Minh Thương – Tản Mạn Về Những Yếu Tố Tình Dục Trong Văn Học Việt Nam (Phần I)

sex-thicaNghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là giao hợp hay giao cấu, ta thường nghĩ ngay đến việc đưa bộ phận sinh thực khí người nam vào bộ phận sinh dục người nữ.

Gần với khái niệm tình dục, còn có khái niệm “dâm”. Theo tự dạng chữ Hán thì chữ Dâm 淫 viết với bộ thủy, theo nghĩa chiết tự thì chữ nào có bộ thủy là mang ý nghĩa đầm đìa, ướt át, tràn trề, thâm thúy, mê ly, quá sức, quá chừng. Theo Hán – Việt Từ điển của Đào Duy Anh thì chữ Dâmcó ba nghĩa là: quá chừng, không chính đáng và mê hoặc.

Trong văn hoá, tự thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt, con người duy trì nòi giống để phát triển.

Trần Ngọc Thêm cho rằng: Để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tươi tốt. Để cho phát triển cuộc sống cần cho con người sinh sôi. Trí tuệ của người bình dân nhìn thấy thực tiễn đó ở một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà sùng bái nó như thần thánh và kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực – tín ngưỡng cầu mong sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người (phồn = nhiều, thực = nảy nở). Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam từng tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử, và có tới hai dạng: thờ cơ quan sinh dục và thờ bản thân hành vi giao phối. [tr.234, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp tp HCM, 2006]

Ở cuộc sống hiện đại, nhiều người vẫn chưa có thiện cảm khi nhắc đến hai chữ “tình dục” bởi theo họ đó là điều cấm kỵ, là chuyện riêng của hai người trong phòng ngủ, lôi ra trước bàn dân thiên hạ, bàn tán thì chẳng còn ra cái thể thống gì. Lại có người quan niệm những ham muốn, những ý nghĩ về tình dục là “tội lỗi”.

Phải chăng chúng ta chưa thoát ra khỏi lối nghĩ khắt khe theo quan niệm đạo đức thời phong kiến, chưa thật sự “giải phóng” chức năng tình dục, dù đây là một hoạt động quan trọng trong quan hệ vợ chồng, là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người.

Tình dục là một trong “tứ khoái” được nhiều người đồng tình:

Cơm Phiếu Mẫu, gối Trần Đoàn

Ngửa nghiêng gối phượngnhẹ nhàng nương long

Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi không đi sâu vào bàn bạc chuyện nên hay không nên nói chuyện mà nhiều người cho là “tế nhị” này. Chúng tôi chỉ khảo sát, miêu tả lại những gì trong hiện thực khách quan của văn chương Việt Nam, khảo sát những tác phẩm  chứa đựng yếu tố về tình dục, cùng với những giá trị nó mang đến mà thôi.

1. Trong ca dao dân ca

1.1. Miêu tả sinh thực khí

Bắt đầu từ một sự chọc ghẹo “quá đà” của chàng trai lém lĩnh:

Vú em nhu nhú chúm cau

Cho anh bóp cái có đau anh đền

Hay

Nước láng linh chảy ra Vàm Cú

Thấy em chèo cặp vú muốn hun

Nam tu nữ nhũ, nhũ hoa là bộ phận không thể thiếu và cũng không kém phần nhạy cảm của người con gái. Dân gian cảnh báo rằng:

– Nuôi con chẳng biết tính con

Hể vú gai gạo thì l. chớp đông.

– Con gái chơi với con trai

Coi chừng cặp vú như hai sọ dừa

Những bộ phận khác trên cơ thể người con gái, đến tuổi dậy thì, các bộ phận ấy cũng phát triển theo:

Mười ba mười bốn loăn xoăn

Mười lăm mười sáu lông quăm mép l…

Mười bảy mười tám thẹn thùng

Hai mươi mười chín như khùng như điên

Ra đường con mắt ngó nghiêng

Về nhà chui chốn buồng riêng vê mồng

Cũng có khi mượn cảnh ngộ để gợi đến một bộ phận … nhạy cảm:

Gió nam non thổi lòn hang cóc

Phận em nghèo nên mồng đốc khô rang

Gắn liền với phần kín là lông, ca dao diễn tả hình ảnh này qua sự tinh quái, cợt nhã:

– Cô kia cắt cỏ bên sông

Cái váy thì cụt, cái lông thì dài

Thuyền chài nó trả quan hai

Thưa rằng chẳng bán để dài quét sân

– Hỡi nàng má đỏ hồng hồng

Cổ cao, miệng rộng, lông l… vắt vai

Ngược lại, thì thật … đáng tiếc:

Tiếc thay cây mía ngọt lại sâu

Tiếc con gái tốt mà cái bím bầu không lông

Từ trong cảnh sinh hoạt, người con gái đã “hé lộ” nơi kín đáo nhất:

– Trèo lên cây khế giữa ngày

Váy thì trụt mất, lưỡi cày thò ra

– Sáng trăng trải chiếu em ngồi

Em ngồi em để cái sự đời em ra

Sự đời bằng cái lá đa

Đen như mõm chó chém cha sự đời

Lưỡi cày, cái sự đời trong ngữ cảnh ấy dường như cung nét nghĩa. Một tiếng chửi, một lời mỉa mai, hay một sự hãnh diện về cái “tự có” của mình. Có lẽ phải hiểu đa nghĩa mới thấy hết cái thâm thuý mà tác giả dân gian muốn gửi gắm.

Ở câu ca khác dùng cách chơi chữ đồng nghĩa nhằm đánh đồng để phê phán một hạng người: thầy đồ đạo cao đức trọng, cố ý “thanh cao” nhưng không tránh khỏi cái bản năng bình thường của con người, tác giả dân hết sức sắc sảo trong bài ca dao sau đây:

Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ

Ra hồ sen xem ả hái hoa

Ả hớ hênh ả để đồ ra

Đồ trông thấy ngắm ngay tức khắc

Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp

Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia

“Đồ nọ” tưởng “đồ kia” là hai từ đồng âm nhưng một từ với nghĩa là thầy đồ – một hạng người trong xã hội, và một từ “đồ” cũng là danh từ nhưng để chỉ sinh thực khí của phụ nữ!

Miền đồng bằng Tây Nam bộ còn câu ca với motif “thân em” nhưng vật dùng để so sánh rất dễ để người nghe liên tưởng đến bộ phận kín đáo của người con gái, nó như cá rô mề, ấy mà!

Thân em như cá rô mề

Lao xao giữa chợ biết về tay ai

Có lúc dùng trực tiếp yếu tố tục, gọi thẳng tên, nói thẳng … cái bộ phận ấy!

Bà Đội cho chí bà Cai

Bà nào mà chẳng váy ngoài l.. trong

Người phụ nữ tự hào, hay chính là cái tát độp thẳng vào mặt những người tự nhận mình là kẻ có học thức, nhưng những kẻ ấy vẫn phải tôn gọi … là “thần”:

Văn chương chữ nghĩa bề bề

Thần l…  ám ảnh mà mê mẫn đời

Đến bộ phận sinh thực khí nam, chúng ta hãy nghe và … thấy nó qua bài ca đối đáp sau:

– Gặp đây anh mới hỏi nàng

Cái gì lủng lẳng một gang trong quần

– Chàng hỏi thì thiếp thưa rằng

Cái đeo lủng lẳng là “giằng cối xay”.

Về chất lượng và kích cỡ cái “của quý”, chủ nhân của nó tự nhận định:

– Em đừng khinh quân tử nhỏ nhoi

Con lươn bao lớn nó xoi lủng bờ

– Chẳng thà nó nhỏ mà dài

Còn hơn chụp bụp nữa ngoài nữa trong

– Chẳng thà nó nhỏ mà cong

Còn hơn tổ bố nữa trong nữa ngoài

Cũng là cảnh ngộ nghèo hèn, cũng là yếu tố tục, chàng trai tự bộc bạch:

Dĩa bàng thang con tôm càng dựng đứng

Bởi gia cảnh anh nghèo nên c…  nứng nửa con

Tình trạng … bất lực “có như không” được người bình dân hài hước:

Cho dù có sống đến già

Cho dù béo tốt cũng là phí toi

Bây giờ pháo đả tịt ngòi

Gia tài còn lại … một vòi nước trong

Đúng là hết giá trị nhưng vẫn … hấp dẫn!

2.2. Miêu tả hành động giao hợp

Không phải lúc nào cũng cứ yêu là … hợp. Hãy nghe người trong cuộc bày tỏ ước muốn cháy bỏng:

Ước gì em hoá lưỡi cày

Anh hoá thành bắp lắp ngay bây giờ

Lưỡi cày và bắp cày là những hình ảnh rất quen thuộc trên cánh đồng thửa ruộng, nhưng cách tạo hình và sự liên tưởng của nó để chỉ chuyện nam nữ thì thật là … không gì có thể thay thế được!

Tương tự như thế, những phía chủ động lại là “phái yếu!

Cây trời có cái chỉa ba

Thương em thì hãy đem tra nó vào

Táo bạo hơn, tục tĩu hơn:

Gió nam non thổi lòn hang chuột

Đ.. em rồi, đ.. nữa được không em

Cũng cách chơi chữ đồng âm, nhiều câu ca phát huy hết tác dụng “ao ước” sự giao cảm của chủ thể trữ tình:

– Chị kia lớn mổng cao mu

Lại đây cho tôi gởi con cu trọc đầu

– Cu tôi vừa mới đâm lông

Cho mượn cái lồng nhốt đỡ vài đêm

– Cu tui ăn đậu ăn mè

Ăn chi của chị mà chị đè cu tui

Cu là con chim gáy, nhưng ai dám chắc chủ thể phát ngôn chỉ nghĩ đến đó, …

Cũng có những khao khát được thể hiện, nhưng chức năng để mỉa mai, để cười cợt kẻ “muốn chồng”:

– Con gái mười bảy mười ba

Đêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng

Mẹ giận mẹ phát ngang hông:

“Đồ con chết chủ đòi chồng thâu đêm”!

– Mẹ ơi con muốn lấy chồng

Con ơi mẹ cũng một lòng như con


– Bà già đã tám mươi tư

Ngồi bên cửa sổ viết thư tìm chồng

– Rung rinh nước chảy trên đèo

Bà già lật đật mua heo cưới chồng

Trong giáo tiếp, ứng xử, đôi lúc chính những cảnh hoạt động ân ái lại thể hiện thái độ, nhân cách của con người.

Đây là hạng người ngoại tình, lẳng lơ, trắc nết:

– Chồng chết còn chửa hết tang

L… đà ngấm ngáp như mang cá mè.

– Đánh tôi thì tôi chịu đau

Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

– Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

Còn như yêu trộm nhớ thầm

Họp chợ trên bụng đến trăm con người

– Có chồng thì mặc có chồng

Tôi đi ngủ dạo kiếm ít đồng mua rau!

Rồi chính họ là người tự nhận thức, tự đánh giá về hành động ấy. Người trong và ngoài cuộc có thể xem đó là tiếng nói phản kháng, hay một sự biện minh cho hành động điếm đàng, câu ca thật đa nghĩa!

– Lẳng lơ chết cũng ra ma

Chính chuyên chết cũng chôn ra ngoài đồng

– Lẳng lơ cũng chẳng hao mòn

Chính chuyên cũng chẳng sơn son để dành

Nạn nhân của chuyện ngoại tình, sẵn sàng cất tiếng nói mạnh mẽ:

Nước nóng đổ lọ bình vôi

Tôi ngồi tôi nghĩ bố tôi, tôi buồn

Bố tôi dở dại dở khôn,

Say mê cái l… bỏ mẹ con tôi

Thế mới biết hạnh phúc gia đình đổ vỡ bở có kẻ “chê cơm thèm phở!”

Người lao động dùng ngay hành động lẳng lơ kia để mỉa mai, châm biếm đối tượng chủ động là những kẻ có chức có quyền hoặc chí ít cũng là hạng “công tử” giàu sang, mà theo họ đó mới chính là thủ phạm gây ra cớ sự:

Thôi thôi, tôi van câu rằng đừng

Tôi lạy cậu rằng đừng

Tuổi tôi còn bé chưa từng nguyệt hoa

Tôi về gọi chị tôi ra

Chi tôi đã lớn nguyệt hoa đã từng

Với chế độ đa thê, chồng chung là điều khủng khiếp cho hạnh phúc lứa đôi. Thân phận người phụ nữ “làm lẽ” không khác gì chén cơm nguội đỡ lòng cho các đấng râu mày. Họ bị khống chế bởi quy định lễ giáo ngặt nghèo, bởi quan hệ chính – thứ, và họ cũng “thiệt thòi” ngay trong chuyện ân ái. Họ thẳng thắn tỏ bày:

– Đêm đông trời lạnh như đồng

Mượn chi thì cho mượn, mượn chồng thì không


– Làm thân con gái phải lo

Mùa đông rét mướt ai cho mượn chồng


– Chồng em đâu phải trâu cày

Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

Dữ dội hơn, táo tợn hơn, những người phụ nữ mặn nồng với chuyện phòng the, tuyên bố như thách thức, như đốp chát lại với “nửa kia”:

L… rằng l… chẳng sợ ai,

Sợ thằng say rượu, đ… dai đau l…

Lúc cao hứng, họ cũng không ngần ngại tự hào về điều đó:

– Dậm chân xuống đất cái đùng

Vỗ l … cái phạch chào anh hùng đến đây!

– Không chồng mà chửa mới ngoan

Có chồng mà chửa thế gian thường tình

Nếu như ở trên chỉ là “ước muốn”, nói những điều tiền giả định, sự việc chỉ có thể diễn ra trong tâm tưởng chứ chưa diễn ra trên thực tế, thì đến đây, ta lại bắt gặp những câu miêu tả trực tiếp cảnh ái ân. Có điều hành động giao hợp ở ca dao phần lớn thể hiện bằng hình ảnh, hoặc nghĩa nước đôi, hoặc là lời dùng để đố:

Cá lóc đâm phải cá rô

Ngút ngoáy một chút nước ồ ồ chảy ra

Ở trên chúng tôi có nhắc đến hình tượng “cá rô mề” mà dân gian mường tượng đến bộ phận sinh thực khí nữ giới, thì cá lóc mà câu ca này sử dụng khiến không ít người liên tưởng đến bộ phận sinh thực khí nam, có điều nó đâm phải, xắn vào tận bên trong tạo hứng khởi cho nửa phần còn lại.

Một kinh nghiệm tồn tại trong đời sống thường nhật, lại mang đậm tiếng cười trào lộng, gợi dục:

Đau bụng, lấy bụng mà chườm

Nhược bằng không khỏi, hắc hương với gừng

thica-tinhducTheo đó, đau bụng sẽ có hai cách chữa, mà cách chữa đầu thì không cần phải thuốc men gì, người trưởng thành ai cũng biết!

Nhiều câu ca dao dùng yếu tố tục giảng thanh để đố vui. Đây là câu đố về hình ảnh người kéo vó (một phương tiện đánh bát cá ở sông rạch):

Canh một thì trải chiếu ra,

Canh hai bóp vú, canh ba sờ l…

Canh tư thì lắc lom xom

Canh năm cuộn chiếu ẵm con ra về.

Hoặc câu đố về động tác tát đìa bằng gàu vai của hai người “đàn ông”:

Cái l… có bốn cọng lông

Hai thằng cha đàn ông nắc cong xương sống

Hành động giao hoan ân ái, xảy ra ngoài đồng ruộng, cũng có thể đâu đó ven luỹ tre làng. Những hành động ấy bất chấp tất cả, lễ giáo phong kiến gọi là hạng “dâm bôn”, xem hành động đó là của những kẻ “trên bộc trong dâu”:

Thương em đút c… qua rào

Không thương rút lại gai quào rách dạ

Một sự ngã giá trắng trợn:

Trăng lên đỉnh núi mu rùa

Cho anh đ. chịu đến mùa anh trả khoai

Hay hình ảnh cũng chẳng mấy hay ho đã từng diễn ra trên bờ, dưới rạch:

Cô tú kẽo kẹt cậu cai

Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới sông

Đương nhiên hậu quả của nó cũng không nhỏ:

– Đói lòng ăn trái khổ qua

Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười

Bạn cười thì mặc bạn cười

Tháng năm đi cưới tháng mười có con

– Ví ví rồi lại von von

Anh cho một cái, mang con đem về!

Khi yêu nhau, rồi nên vợ nên chồng, và lẽ đương nhiên trong cuộc sống ấy, ngoài việc hoà hợp tâm hồn, còn là sự khao khát hoà hợp xác thịt để duy trì nòi giống. Có những chuyện dở khóc, dở cười, vừa éo le, vừa hài hước được ca dao tả lại:

– Có chồng từ thuở mười lăm.

Chồng chê tôi nhỏ không nằm cùng tôi

Đến chừng mười chín đôi mươi

Tôi ngủ dưới đất chàng lôi lên giường

Một rằng thương, hai rằng thương

Có bốn cẳng giường gãy một còn ba!

– Đang khi lửa tắt cơm sôi

Lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem

Bây giờ lửa đã cháy lên

Lợn no con nín, tòm tem thì tòm

Đặc biệt hơn, ngay chuyện hãm hiếp, ca dao cũng ghi lại nỗi niềm bộc bạch của “nạn nhân”, chỉ có điều không biết điều đó để lại cho cô gái cảm giác ra sao mà thôi?

Hôm qua lên núi hái chè

Gặp thằng phải gió nó đè em ra

Em kêu nó cũng không tha

Nó đè nó nhét cái đầu cha nó vào, …

Tóm lại, ca dao, dân ca là mảnh đất khá phì nhiêu tạo nên nguồn sống khá mãnh liệt cho những câu ca, tiếng hát chứa đứng các yếu tố dục tình. Ý nghĩa của nó có lẽ đã được mọi người đồng tình, chỉ xin nhắc lại để khẳng định chân giá trị mà nó đã tạo ra.

Thứ nhất, những yếu tố miêu tả sinh thực khí và hoạt động tình dục của người lao động là để họ tự cười cợt, đùa vui cho khuây khoả những tháng ngày vất vả một nắng hai sương trên cánh động thửa rộng

Hai là, ở đó ẩn chứa khát vọng về tình yêu, hạnh phúc, khát vọng thể hiện vẻ đẹp về hành động duy trì sự sinh tồn của con người, nhưng đôi khi bị dư luận hà khắc, cấm đoán.

Ba là, ta đã thấy rõ sự mỉa mai, châm biếm, phản kháng mạnh mẽ ở nhiều cấp độ, nhiều cung bậc, đa phương diện dành cho xã hội đương thời bằng những yếu tố tình dục trong ca dao mà chúng tôi vừa dẫn và phân tích minh hoạ.

2. Văn học viết

2.1. Văn học Việt Nam trung đại

Văn học Việt Nam trung đại hình thành và phát triển suốt chiều dài cùng chế độ phong kiến Việt Nam. Và, như thế nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quy định, tác động đến nội dung, tư tưởng, đề tài, chức năng lẫn hình thức thể hiện. Quan niệm chính thống xem văn chương dùng để thể hiện “tâm, chí, đạo” của con người. Văn dĩ tải đạo; Thi ngôn chí, … Chỉ đến khi chế độ phong kiến xuống dốc, khả năng tiềm toả về mặt tư tưởng giảm bớt, con người mới “giật mình, mình lại thương mình xót xa”, từ đó nhà văn bắt đầu ý thức thể hiện vẻ đẹp hình thể như một nhu cầu của đời sống và văn chương.

Tình dục, yếu tố “dâm” trong văn học Việt Nam trung đại chỉ rải rác xuất hiện ở truyện, thơ truyền khẩu dân gian (cả hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương, cũng được nhiều nhà nghiên cứu gọi là dạng truyền khẩu, dù có tác giả chứ không khuyết danh). Thỉnh thoảng có một số ít tác giả văn học trung đại đưa những yếu tố nhạy cảm ấy vào thơ, phú, …, song, không nhiều.

2.1.1. Yếu tố hình thể, yếu tố sinh thực khí trong văn học Việt Nam trung đại

Truyện thơ Nôm khuyết danh Phạm Công Cúc Hoa, có chi tiết tả cảnh trạng nguyên Phạm Công vô tình nhìn thấy các cung nữ đang tắm khỏa thân ở bờ sông và đã bị triều đình “bắt tội”.

Ở Ngã Ba Hạc phú, Nguyễn Bá Lân đã dùng hình tượng của ngã ba sông giúp người đọc liên tưởng đến chuyện khác:

Ba góc bờ chia vành vạnh, huyệt kim qui hẻm đá rộng hông hênh; hai bên cỏ mọc lâm dâm, hang anh vũ giữa dòng sâu huếch hoác.

Mọi thú mọi vui; một chiều một khác.

Lơ thơ đầu ông Lã thả cần; trần trụi mặc Chử Đồng ngâm nước.

Bè khách thương bạ bến, cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi; thuyền ngư phủ thuận dòng, giương nách khom lưng chèo tếch ngược.

Dùi điểm thùng thùng trống gọi, cửa tuần ty rộn rã khách chen vai; chày đâm văng vẳng chuông đưa, nền Phật tự lao xao người rén bước.

Khác gì: Những chốn Tiêu Tương; đồ Tranh thủy mặc.

Trên lọ phải vén quần vua Tống, ra sức anh uy; dưới cũng vui vỗ bụng giời Nghiêu, dắng ca canh tạc.

Nguyễn Du miêu tả cảnh Kiều tắm:

Rõ màu trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, đưa hình thể của “thiếu nữ” hiện lên như một tuyệt tác của thiên nhiên:

Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm

Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông

(Thiếu nữ ngủ ngày)

Bồng Đảo thường gọi là Bồng Lai, là tên của một trong ba hòn núi có tiên ở trong Bột Hải; Đào Nguyên là nơi đời Tần có một người tránh loạn vào ở đấy để tiêu dao. Từ nghĩa cụ thể chỉ địa danh nó phát triển rộng lên để chỉ những nơi đẹp, hấp dẫn. Hồ Xuân Hương dùng cách nói đồng âm để thay cho việc gọi tên hai bộ phận đặc trưng của thiếu nữ xuân thời. Thú vị hơn là cặp từ Bồng – Đảo; Đào – Nguyên cùng âm với bồng (bồng bế, nâng lên) – đảo; đào – (giữ) nguyên; là các hành động mà nếu đặt vào nhân vật “quân tử dùng dằng đi chẳng dứt” trong bài thơ, tương ứng với hai bộ phận “gò”, “lạch” đã nói, thì rất phù hợp cảnh ý lẫn tình!

Ở chỗ khác, dường như Bà đã tả bộ phận kín đáo của người phụ nữ bằng cách chơi chữ Vịnh cái quạt:

Chành ra ba góc da còn thiếu

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

Bộ phận sinh thực khí nam “ẩn mình” trong nghệ thuật tả cảnh Hang Cắc Cớ:

Một sư đầu trọc ngồi khua mõ

Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am

(Hang Cắc cớ)

Nguyễn Khuyến cũng dùng cách nói õm ờ để người đọc có thể liên tưởng…

Người xinh, cái bóng tình tinh cũng …

Một bút một thêm một điểm tình!

(Đề ảnh Tố Nữ)

Câu thơ lấy ý từ câu ca dao: Người xinh cái bóng cũng xinh/ Người giòn, cái tỉnh tình tinh cũng giòn.

2.1.2. Yếu tố hoạt động tình dục trong văn học Việt Nam trung đại

Nguyễn Gia Thiều, trong Cung oán ngâm khúc khi miêu tả cảnh “mây mưa” của vua với cung nữ, đã dẫn tư liệu trong văn học Trung Quốc – một biểu hiện nghệ thuật tiêu biểu của thơ Việt Nam trung đại:

Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn,

Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng

Tề Tuyên Vương khi nói chuyện trị với Mạnh tử, có nói câu quả nhân hữu tật, quả nhân hiếu sắc: kẻ quả nhân (tự xưng) này có tật, kẻ quả nhân này ưa sắc. Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên, tức bệnh ưa sắc đẹp của một đấng quân vương

Trong thơ Kiều, khi miêu tả cảnh Thuý Kiều ở lầu xanh, Nguyễn Du viết:

Dập dìu lá gió cành chim

Sơm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh

Hình ảnh lá gió cành chim có nguồn gốc từ chuyện nàng Tiết Đào đời Đường lúc nhỏ, nàng có làm bài thơ rằng: Chi nghinh nam bắc điểu; diệp tống vãng lai phong, nghĩa là: Cành đón chim nam bắc/ Lá đưa gió lại qua.Người cha xem thơ biết rằng số con không ra gì. Nguyễn Du đúc ý tứ từ hai câu thơ của Tiết Đào thành nhóm từ lá gió cành chim để chỉ cảnh gái giang hồ, tiếp khách bốn phương.

Trước đó, nhà thơ miêu tả cảnh Mã Giám Sinh tước mất “cái ngàn vàng” của Kiều:

Miếng ngon kề đến tận nơi

Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham

Đào tiên đã bén hơi phàm,

Thì vin cành quýt cho cam sự đời!

Dưới trần mấy mặt làng chơi

Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa?

Nước vỏ lựu, máu màu gà

Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên” (…)

Tú Bà khi biết sự tình đã lớn tiếng mắng Thuý Kiều đánh mất sự trinh trắng bằng hình ảnh:

Màu hồ đã mất đi rồi

Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma

Sống cảnh lầu xanh, Thuý Kiều có lúc “nuối tiếc” bởi không trao thân cho người mình yêu thương:

Biết thân đến bước lạc loài

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung

Trong thơ Hồ Xuân Hương, cách miêu tả cụ thể hơn, chi tiết hơn, dù nó cũng ẩn ý qua cách miêu tả cảnh “đánh đu”, thực ra không khác gì cảnh trong “phòng the”:

Trai du gối hạc khom khom cật

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

Bốn manh quần hồng bay phấp phới

Hai hàng chân ngọc duỗi song song

Chơi xuân đã biết xuân chăng tá

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

Tóm lại, với quan niệm thẫm mỹ khắt khe của những “hiền nhân quân tử” theo học cửa Khổng sân Trình nên văn học Việt Nam trung đại không chú trọng yếu tố tả thực. Vì thế, nó càng hiếm hoi cảnh ái ân, nếu có cũng được dùng bằng các điển tích, cách chơi chữ dùng từ đa nghĩa, … Tất cả nhằm mục đích để “tránh” đi những chuyện cần tránh!

Song khát vọng của con người vẫn âm ĩ và sẵn sàng bùng cháy khi có điều kiện. Nguyễn Công Trứ, một bậc danh Nho thời Nguyễn đã thẳng thừng tuyên bố:

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các cho người biết tay

Tài tình dễ mấy xưa nay?

Trong cảnh “ngất ngưởng”, đi chùa lễ Phật ông vẫn mang hầu thiếp theo cho thoả lòng vui thú!

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Hồ Xuân Hương mạnh mẽ khẳng định, đó là chuyện con người, rất con người, chẳng có gì phải dấu giếm: Chúa dấu vua yêu một cái này! (Vịnh cái quạt)

Hay như:

Hiền nhân quan tử ai mà chẳng

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

Còn tiếp…

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=13489

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s