BS Lê Bá Vận – BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ THẬP KỶ 1960 (phần III)

PHẦN 3 : BVTUH sinh hoạt và tình cảm

IV) Sinh Hoạt Bệnh Viện.

bvhueLúc tôi qua BVTUH vì ít bác sĩ, số lớn còn kẹt trong Quân đội, nên phải đảm nhiệm cùng lúc nhiều trại bệnh.

Năm 1960 ở BVTUH, về phần trực gác thì chia tua bốn. Trực Nội Nhi có các bác sĩ Phạm Văn Giàu, Nguyễn Khoa Nam Anh, Nguyễn Khoa Mân, Lê Văn Điềm, tất cả đều học ở Pháp về.

Trực Ngoại Sản có các BS Tô đình Cự, Thân trọng Phước, Nguyễn Duy Chi và tôi, tất cả đều có học ở Hà nội.

BS Tô ĐìnhCự là y sĩ Thiếu tá, giải ngũ về BVTUH. BS Thân Trọng Phước (1902- 1960) đã nghỉ hưu song vẫn trực giúp bệnh viện mỗi bốn ngày.

Cụ Phước có phòng khám và nhà bảo sanh ở đường Gia Long, ngã giữa gần cửa Chính Đông. Các bác sĩ không trực gác là BS Lê Khắc Quyến, Lê Huy Bính và Đặng Hóa Long, Giám đốc Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia.

Các năm 1960, 61, 62 vẫn còn khá thanh bình nên trực ngoại sản cũng nhẹ nhàng, rất ít thương tích chiến tranh, mà thường là ở thôn quê chở đến, thủng ruột do mìn, còn ở Huế xe hơi, xe gắn máy thưa thớt, chạy ít theo luật nhưng chậm rì, nên cũng không có tai nạn giao thông gì đáng kể; người Huế hiền hòa, ẩu đả đâm chém cũng không có, các bệnh cấp cứu ngoại như thường lệ vẫn là viêm ruột dư, thủng loét dạ dày tá tràng, thủng ruột thương hàn, nghẹt ruột nhiều nguyên nhân…và ở bên sản các ca sinh khó.

Tôi ở ngay trong bệnh viện nên có thuận lợi về trực gác.

Trước khi chuyển qua trường YK Huế, tôi có giữ chức vụ  bác sĩ Thường trú tại BVTUH, cũng là trong ban giám đốc.

Nhiệm vụ Bác sĩ Thường trú, ở thường trực trong bệnh viện là thay mặt ban giám đốc giải quyết toàn bộ sự việc ngoài giờ làm việc và ngày lễ nghỉ, phụ cấp chức vụ khoảng 1/10 lương tháng. Nói vậy chứ tôi cũng không thấy việc gì quan trọng đã xẩy ra.

Bác sĩ Thường trú lại là bác sĩ gia đình cho nhân viên bệnh viện.

Mỗi sáng, đầu giờ làm việc khám bệnh cho các nhân viên đau ốm trong ngày, cho thuốc lãnh tại kho thuốc, cho nghỉ dưỡng bệnh hoặc cho nằm viện.

Rồi ký vào một số giấy tờ sổ sách trong đó tôi nhớ mãi là các sổ ghi số phần cơm trong ngày để đưa xuống nhà Bếp phụ trách thi hành.

Tổng cọng trên 1000 phần ăn cho bệnh nhân song phải ký trội thêm mấy chục phần.

Tôi ngạc nhiên thì được nhân viên trả lời: “Thưa bác sĩ lúc nào cũng phải ký dư phần ăn để lấy đó trả cho các y công, lao công bệnh viện mướn làm việc mà chưa có sổ lương. ”

Tôi nghe có lý liền ký hết không thắc mắc.

Hồi đó từ xa xưa cho đến cuối tháng tư 1975, nhân dân đến khám bệnh, được cấp thuốc, cho toa, cho nhập viện nằm, xét nghiệm, khám điện, mổ xẻ, thuốc men, ăn uống kể cả các khẩu phần đặc biệt đều khỏi trả tiền từ A đến Z mà chẳng đòi hỏi giấy tờ lý lịch, hộ khẩu, bảo hiểm chứng nhận gì cả, miễn là có bệnh.

Áo quần, khăn mền mùng chiếu, giặt giũ sạch sẽ tử tế cũng được phát không để bắt buộc dùng, thay đổi tuần hai lần và khi cần thiết, lúc ra về trả lại.

Nếu có tiền muốn nằm rộng rãi thì trả thêm chút đỉnh nằm phòng trả tiền, và đó là tiền phòng, các dịch vụ khác đều miễn phí.

 

Sau tháng 4/1975 nhân dân đến phòng khám ngoại chẩn cũng được khám miễn phí, được cho toa ra cửa hàng Dược tự mua thuốc.

Ở BVTUH từ năm 1960 có các đoàn bác sĩ Hoa kỳ thỉnh thoảng đến thăm và ở lại làm việc dăm bữa, hơn tuần.

bvhueNăm 1960 tàu USS Hope đến viếng thăm Huế từ 30 tháng 7 đến mồng 9 tháng 8 và các bác sĩ Mỹ đã đến làm việc tại BVTƯ Huế.

Tôi đã làm việc với họ suốt thời gian tại phòng mổ.

Người Mỹ rất nhã nhặn tinh tế. Họ chỉ quan sát, phụ mổ cho mình và chỉ bảo giúp ý kiến rất tế nhị.

Các bức hình công tác của đoàn được trưng bày ở phòng Thông tin Hoa Kỳ và sau đó Sở Thông Tin Hoa Kỳ gởi biếu tôi một tấm hình mà tôi vẫn giữ để kỷ niệm trong đó tôi đang phẫu thuật cùng Bác sĩ S. F. Herrmann, ở Tacoma, Washington (*).

Lần khác trong khi làm việc một bác sĩ vui vẻ giúp cho tôi phát âm chuẩn một vài chữ Anh ngữ, tôi nhớ mãi, lại có ông hướng dẫn bài vở trắc nghiệm ECFMG rất mới lạ lúc đó.

Nhiều năm sau, khi chiến tranh cao độ, luôn có hai tàu bệnh viện USS Repose và USS Sanctuary của Hoa Kỳ luân chuyển ngoài khơi giữa Huế và Đà Nẵng để đón nhận thương binh và tôi cũng có dịp đi trực thăng ra thăm tàu USS Repose, ở lại 2 ngày.

Nhân viên Phòng mổ rất nhanh nhẹn thành thạo khi phụ mổ, vui vẻ, tận tụy.

Các Anh: Mầu, Bộc, Sâm, Tể, Huỳnh…tôi nhớ người nhớ tên mãi.

Anh Mầu, đã lớn tuổi, rất giỏi, nhiều khi thay bác sĩ mổ sỏi bàng quang…

Bác Chắt có nhiều kinh nghiệm về gãy xương, bó bột giỏi.

Ở địa phương các anh ấy rất được dân chúng yêu mến và tin tưởng.

Phòng mổ lại càng thêm nhộn nhịp khi có các sinh viên Y khoa vào kiến phẫu, phụ mổ.

Và nói chung cho cả bệnh viện, vào thập kỷ 1960, có nhiều thầy người nước ngoài thường xuyên giảng dạy, điều trị tại nhiều khoa là một đặc thù. Ngoài kiến thức chuyên môn họ truyền đạt, các sinh viên lại có cơ hội trau dồi ngoại ngữ Anh và Pháp.

Vào hồi đó, từ năm 1960, mỗi tuần đều có buổi họp các bác sĩ vào sáng thứ bảy – thứ bảy làm việc nửa ngày – không phải ở phòng họp hoặc Hội trường mà ở văn phòng Giám đốc.

Bác sĩ Lê khắc Quyến ngồi giữa ở bàn giấy chủ tọa, các anh em khác kẻ ngồi salon người đặt ghế ngồi thêm, chuyện trò bàn cãi vui vẻ khi thì chuyên môn, khi thì bóng đá, văn nghệ không đâu vào đâu, nhưng không hề nói đến thời sự.

Các bác sĩ có mặt, tất cả các bác sĩ mà tôi đã nêu tên ở trên khi đề cập đến trực gác bệnh viện, chỉ thiếu BS Thân Trọng Phước, nghĩa là vừa trên mười bác sĩ.

Như thế vào thời đó (1960) đã là rất nhiều, nhờ có các bác sĩ ở Pháp về.

Ở Hà Nội (1954) tại Bệnh viện Bạch Mai, Phủ Doãn, và ở Sài Gòn tại Chợ Rẩy, Bình Dân lắm khi lại ít hơn. Các bác sĩ lớn nhỏ đều bị trưng tập vào Quân Y kể từ năm 1950, 1951.

Mặt khác trường ĐHYK mỗi năm chỉ đào tạo hai ba chục bác sĩ, mãi nhiều năm sau khi có các kỳ thi TúTài Việt Nam thì sĩ số sinh viên mớí vọt tăng nhiều nhưng vẫn còn hạn chế tùy theo khả năng của Trường về nhân số, cơ sở vật chất… đảm bảo chất lượng đào tạo.

Thập kỷ 1960 lại có trên mười bác sĩ con dân Huế du học Pháp trong thập kỷ trước trở về Huế ở trường YK và ở bệnh viện.

Đồng thời các bác sĩ từ quân y biệt phái về dân y ngày càng đông.

Đến tháng 9 năm 1963 thì BS Quyến thôi giữ chức vụ giám đốc bệnh viện.

BVTUH thay đổi giám đốc tất cả 6 lần trong thập niên 1960 giàu biến động tại Huế.

Tuy vậy sinh hoạt bệnh viện về chuyên môn trong thập niên này rất hứng khởi do có sự hiện diện thường trực của các giáo sư và bác sĩ người nước ngoài đến giảng dạy và điều trị hàng ngày.

V) Những Tình Cảm Xưa.

Trong thời gian 1959-68 BVTƯ Huế là Bệnh viện thực hành, có sinh viên Y Khoa đến thực tập các bệnh phòng, không khí trở nên nhộn nhịp.

Các sinh viên đã ghi lại nhiều kỷ niệm thời ấy, trong Tập San 2006 kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Ái Hữu của họ ở hải ngoại.

Tất cả các kỷ niệm đều được ghi lại xẩy ra ở BVTƯ Huế trước 1968, thơ mộng, huyền bí như khung cảnh của bệnh viện thời đó, mà có lúc lại hãi hùng theo thời cuộc.

Sinh viên các Trường vây quanh mặt sau BVTU H: Tá viên Điều Dưỡng, Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Cán Sự Y Tế Điều Dưỡng, ĐHọc Y Khoa vào học trước 1968 và đi thực tập lâm sàng ở các khoa phòng đều ít hoặc nhiều biết rõ bệnh viện xưa, đến lúc ra trường bổ nhiệm đây đó ở các cơ sở Y tế miền Nam, thấy nhiều biết nhiều để có thể đối chiếu so sánh và nhận thấy BVTUH đẹp, rộng và thật độc đáo, là niềm kiêu hãnh của mọi người.

Riêng tôi và gia đình đã sống thời gian lâu dài trong khuôn viên BVTUH nên có nhiều kỷ niệm.

Chỉ nêu lên một, là vào thời điểm biến cố Tết Mậu Thân, cuối tháng giêng năm 1968.

Vì là dịp Tết nên bệnh viện rất vắng, hầu như các trại bệnh đều trống trơn, bệnh nhân về nhà ăn Tết.

Lúc đó tôi đang học ở Hoa Kỳ. Vợ tôi và mấy con núp riết ở trong nhà, ở tư thất số 5 đường Ngô Quyền, sát cổng sau của bệnh viện.

Sau vài hôm thì gia đình các nhân viên ở cạnh nhà tôi chạy qua đem mấy mẹ con vào lầu Huỳnh Thúc Kháng, bây giờ đông nghẹt vì dân chúng gần đó chạy vào bệnh viện lánh nạn.

Gia đình các nhân viên chuyển qua khu X-Quang, gần đó, được xây rất kiên cố.

Chỉ được vài hôm thì lính Mỹ kéo vào bệnh viện, lùa tất cả mọi người xuống trường Đại Học Sư Phạm ở múi cầu Tràng Tiền, đối diện bên kia sông là chợ Đông Ba.

Nhà tôi kể lại trên quãng đường đi từ bệnh viện xuống trường Sư Phạm, dọc đường Lê Lợi, ngổn ngang vôi gạch, nhánh cây gãy và xác xe, xác người chết, giữa tiếng bom đạn.

Xuống trường Sư Phạm thì nhóm nhân viên bệnh viện được sắp ở chung một phòng.

BS Nguyễn Khoa Nam Anh (giám đốc bệnh viện 1973-75) thoạt đầu được cử làm trưởng nhóm, có nhiệm vụ hàng ngày chờ chực lãnh khẩu phần bánh mì, đồ hộp… quân đội Mỹ đem đến phát.

Dân chúng đem hàng quà, bún, bèo, ướt, nậm… hàng ngày đến bán đầy đủ.

Vùng này yên tĩnh trong chiến cuộc Tết Mậu Thân kéo dài ngót một tháng ở Huế.

Gia đình tôi ở ngay trong bệnh viện thời chiến tranh cũng là một điều may mắn.

Sau 1972 đi ngang BVTUH khởi công đươc xây dựng lại, t cng trước nhìn vào, tm mt b cn.

Bước qua cng là mt tòa nhà bn tng đ s vuông vc nm ngang chn đường (như kỳ đà cn l) tráng l nhưng cũng bình thường như trăm ngàn cao c khác, còn đâu là con đường rng dài thng tp, xa tít ni t cng trước ra sau nhìn sut thoi mái, nhng c th, ngôi nhà, tri bnh, hòn non b, vườn hoa lung c mát mt.

T cng sau, đường Ngô Quyn bước vào Bnh vin còn thy mt ít kiến trúc cũ không b chiến cuộc Tết Mu Thân phá hy, đc bit Khoa Sn Trưng Trc và Khoa Nhi tuy nhiên b bít con đường ra trước, lc lõng, mt hài hòa vi tng b, hàng thn lơ láo. H non b đã không còn và đng trên lu Nhi nhìn ra trước tm mt b cao c mi xây chn li, s sàng.

Tuy không hẳn là ngt ngt nhưng chng còn tươi mát như xưa.

Mt cu sinh viên Y Khoa, khóa sau 1975 thm chí viết: “Chưa bao gi anh đ ý đến cái kiến trúc ca nó. Nhưng gi đây anh cm thy điu gì không n. Cách kiến trúc ca Bnh vin trông nng n, cng cáp. Anh ghét cái kiến trúc ca Bnh vin Huế t đó.” (Tp San ĐHYK Huế Hi Ngoi, 2006, tr. 158.)

Điu an i là BVTUH vn còn rt nhiu khong trng nht là mé hông phi tiếp giáp vi Công viên Hàng Đoát, các Bnh vin Ch Ry, Bình Dân…xây ct li ch thy nhà là nhà.

Riêng tôi, tôi cũng bc bi vi ha đ ca bnh vin mi xây ct, lý do tôi biết mô hình cũ như thế nào trong ngót chín mười năm gia đình tôi sng ti khuôn viên bnh vin.

Tôi đc bit yêu thích con đường gia ct đôi, không Bnh vin nào có được, nay không còn tôi như mt mát môt cái gì độc đáo, trân trng.

Tôi ý thc bnh vin mi xây là tân tiến, mà phi như thế, và cũng đp, tuy nhiên:

Ha thy vô ngư không tác lãng. Tú hoa tuy ho bt văn hương.

(V nước cá không, sao ni sóng, Hoa thêu tuy đp chng mùi hương.)

Vì rng đã thiếu mt cái gì – con đường chính gia – du n.

Năm 1952 Hà Ni tôi đã tc ti khi nhìn người ta xe đt đổ lp mt khonh H Gươm.

H này nm gia lòng Hà Ni, tuy nh nhưng thc đp, danh bt hư truyn, đch th ca sông Hương, có hình quả xoài, chiều rộng bằng 2/3 sông Hương, chiu dài khong từ cầu Phú Xuân đến cầu Tràng Tiền, diện tích ngang ngửa bệnh viện Trung ương Huế hoặc có hơn, chẳng kém.

Tháp Rùa nm l loi, phía ph Tây, chùa Ngc Sơn sát b có cu Thê Húc bc qua, nm phía ph Ta, 36 ph phường.

Người ta đổ đất lp hồ khong từ 5 đến 10 mét mút đu Hàng Đào, Hàng Gai đ ni rng bến tàu đin, bến xut phát.

hoguom

Bệnh Viện Quốc Tế – đường Ngô Quyền – Huế 2015 H Gươm đã nh li b thu hp din tich, tôi tiếc ngn ngơ.

Tàu đin Hà ni (1901–1990) chy chm rì trên đường st, cng knh, cn tr giao thông gia đường ph vn đã hp, chưa dp đã may phước, li xâm ln b nước H Gươm.

Phi chi người ta cho xây mt bến cu cao trên mt nước thay vì lp mt khong h, phi chi BVTUH xây lên cao c, bng cách này hoc cách khác vn gi mt li đi thng t cng trước tut ra cng sau, đc đáo.

H Gươm thu hp chút ít din tích vn gi dáng cũ, mười phn xuân có gy đi na phn, còn BVTƯ Huế thay hình đi dng trit đ, hoàn toàn mt hn nét tự nhiên sng khoái xưa, mười phn xuân ch còn đâu na phn.

Sông Hương vn đp, vn tp np hai b nhưng ngày nay nhiu thành ph trên đt nước, nm cnh sông, trên đà phát trin cũng s được như vy nhiu ít, và biết đâu tương lai s có mt hai cu Trường Tin được xây, “tri mưa đt chu”.

Dù vn bám víu tin tưởng có sông Hương y phi có cu Trường Tin y, không đâu bng.

Trường Quc Hc/Đng Khánh đp đ danh tiếng t xưa thì nay đi tên h, tr thành hai trường trung hc bình thường, hn hp ging nhau, cùng nhn hc sinh nam ln n không phân bit, còn đâu là thi văn, gi cm ca Huế (!), “quýt làm cam chu”.

BVTƯ Huế xây dng lên lu hoành tráng song li đánh mt nét đc đáo, du n xưa, và tr nên tm thường, t nht, ”bng làm d chu”.

Có tc v ngc mà chết, có phin lên cu Trường Tin (gn đó) mà nhy.

Chúng ta đã lm l đánh mt các giá tr tinh thn ca c đô Huế, vô tình, c ý hoc do t đâu đâu, tôi bun tiếc day dt nh nhung nhng hình nh k nim thân thương xưa, BVTƯHuế trước năm 1968, bnh vin là mt “nhà thương”, Huế, miền Nam trước 1975, tình người mộc mạc và cả ở Hà Nội, miền Bắc trước năm 1954, Hà Thành hoa lệ, hồ Gươm, 36 phố phường, chốn ngàn năm văn vật.

North York, Tết Kỷ Sửu 2009 & Hè 2016

Lê Bá Vận

Chú Thích :

(*)Các bác sĩ Hoa Kỳ đã đến làm việc tại phòng mổ BVTUH từ đầu thập kỷ 1960.

Dưới nh, do phòng Thông tin Hoa Kỳ tại Huế cung cấp, ghi chú Vit và Anh:

Nhân chuyến viếng thăm Huế của phái đoàn y tế thứ hai thuộc tàu Hope từ ngày 30 tháng 7 đến ngày 9 tháng 8, Bác – sĩ giải – phẫu S.F. Hermann , ở Tacoma, tiểu bang Washington , đã làm việc sát cánh với bác – sĩ giải – phẫu viện Trung –ương, Huế . Trong ảnh này, vể phía tay trái , Bác – sĩ Hermann đang nhìn tường tận công việc của Bác – sĩ Le-Ba-Van, người đang giải phẫu phần ruột già của một bệnh nhân để tìm nguyên – nhân của chứng bệnh. Ông Nguyên-Van-Mau , một điều dưỡng viên đứng chực sẵn để trao các dụng cụ cần thiết cho các y – sĩ.

Sở Thông Tin Hoa Kỳ.

During the visit of a second medical team from the USS Hope to Hue , July 30 to August 9 , Dr. S. F. Herrmann, surgeon from Tacoma, Washington, worked closely with Vietnamese surgeons in performing a number of delicate operations at the Hue General Hospital . Here, at the left, he observes closely the work of Dr. Le- Ba- Van, who is performing the resection of a patient‘ s colon. A nurse, Mr. Nguyen- van- Mau, stands ready to hand the physicians the necessary instruments . USIS

lebavan-1

benhvienbachmai-choray

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s