BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ THẬP KỶ 1960 (phần I)

bvtuh-1Thân tặng các bạn sinh viên các trường Đại học Y khoa Huế, Nữ hộ sinh, Cán sự Y tế Điều dưỡng, Y tá, Tá viên Điều dưỡng đã đi thực tập hoặc làm việc tại bệnh viện Trung Ương Huế, nhất là trong thập niên 1960. (Lê Bá Vận)

畫水無風空作浪,繡花雖好不聞香

Ha thy vô phong không tác lãng. Tú hoa tuy ho bt văn hương.

(V nước gió không, sao ni sóng. Hoa thêu tuy đp chng mùi hương)

Bệnh Viện Trung ương Huế (BVTUH) từ ngày thành lập đến nay đã trên 120 năm (1894-2016), trải qua bao thăng trầm gắn liền với lịch sử giàu biến cố của cố đô Huế,

lúc thạnh lúc suy, thay xương đổi thịt lắm lần, song: “Min là cá dưới h, Cn con cũng có ngày to kết sù,“ để ngày nay trở thành một bệnh viện lầu cao dãy dọc, nguy nga đồ sộ, hoành tráng, nổi bật bên cạnh các cơ sở bao quanh như hạc giữa bầy gà, ngảnh mặt trông ra sông Hương thơ mộng, trên một con đường lớn và đẹp nhất của Thành phố, cạnh Quốc lộ 1A, sát chân Cầu Mới (cầu Phú Xuân) bắc ngang sông.

Lịch sử hình thành và phát triển BVTUH trong hơn một thế kỷ có thể giản lược như sau :

1. 1894 Thời kỳ phát khởi, lợp tranh ở bờ sông Hương, lớn dần thành một bệnh viện nhỏ.

2. 1907 Thời kỳ tái tạo, 200 giường, sau cơn bão dữ dội năm Giáp Thìn 1904.

3. 1920 Thời kỳ trưởng thành, trên 1000 giường bệnh; 1944, tên chính thức BVTUH.

4. 1947 Thời kỳ thu hẹp, quân đội Pháp chiếm đóng, b/viện chỉ còn 1/3 diện tích ở góc sau.

  1. 1954 Thời kỳ phục hưng: hiệp định Genève, đình chiến; Pháp rút lui, trao trả cơ sở.

6. 1968 Thời kỳ hoán diện, xây dựng cao ốc tiếp sau biến cố Tết Mậu Thân 1968.

7. 1975 Thời kỳ Xã Hội Chủ Nghĩa, bao cấp và đổi mới.

Song thời kỳ thập kỷ 1960 là có những biến chuyển đổi đời.

BVTƯH 1960 từ cổng trước, 16 Lê Lợi nhìn thẳng ra cổng sau, 3 Ngô Quyền, cách xa khoảng 300 m, xuýt xoát chiều ngang sông Hương trước mặt bệnh viện.

BVTƯH 1960 từ cổng trước, 16 Lê Lợi nhìn thẳng ra cổng sau, 3 Ngô Quyền, cách xa khoảng 300 m, xuýt xoát chiều ngang sông Hương trước mặt bệnh viện.

——

A) PHẦN 1 : BVTUH và Huế.

l) BVTUH các năm 1959 và 1968

Khởi đầu thập kỷ 1960, BVTUH có thêm 2 thành viên mới.

Năm 1960 một khu điều tri trẻ em – khu Nhi Khoa – 3 tầng với 150 giường bệnh do quỹ UNICEF tài trợ được khánh thành và 1 tòa nhà mới cho khoa X quang kề cận phòng Mổ được xây dựng.

Song thập kỷ 60 có hai thời điểm tạo khúc rẽ ngoặt tiến tới mang ý nghĩa trọng đại đối với chức năng và phát triển của BVTUH.

Đó là 2 mốc thời gian 1959 và 1968.

  1. Năm 1959: BVTUH đổi đời.

Trường Đại Học Y Khoa Huế thiết lập năm 1959 (NĐ/GD 21/8/1959), sinh viên học lớp Dự bị YK (chứng chỉ Lý Hóa Sinh) niên khóa 1960 – 61, và vào lớp YK1 đầu tiên, niên khóa 1961 – 62.

Đối với BVTUH năm 1959, đó là năm đổi đời: với sự thành lập một trường Đại Học Y Khoa tại Huế, BVTUH mặc nhiên đảm nhiệm thêm chức năng giáo dục đào tạo của một bệnh viện thực hành ngoài chức năng điều trị vốn có.

Trường và bệnh viện sẽ cùng chung sức đào tạo các cán bộ chuyên môn cao cấp nhất của ngành Y,

Cha sinh mẹ dưỡng, đức cù lao lấy lượng nào đong.“

Kể từ năm 1961, BVTUH là một bệnh viện có bóng dáng các sinh viên Y khoa vào thực tập đông đảo, ngang hàng với các bệnh viện danh tiếng, Chợ Rẫy, Bình Dân… ở thủ đô Sài gòn và do đó tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở, thiết bị, nhân lực không ngừng nâng cao chất lượng tầm mức một bệnh viện thực hành đầy đủ các khoa chuyên môn.

Thế mạnh của BVTUH là một bệnh viện toàn khoa, tập trung về một mối cận lâm sàng mà vào thời điểm này vốn đã sánh ngang với các bệnh viện lớn ở Hà Nội và Sài Gòn (Hà Nội thì năm 1954).

Thế mạnh của BVTUH lại là về Nội khoa, do có các giáo sư và bác sĩ người Đức đến Huế giảng dạy và điều trị trong thập kỷ 60 trong khi nhi khoa thì có giáo thạc sĩ H. Krainick trưởng phái bộ Đức và ngoại khoa thì có phái bộ Pháp.

Ở Sài Gòn thì khoa Ngoại và khoa Sản là trội nhất.

2- Năm 1968, BVTUH tang tóc. “Bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành”, trong chiến cuộc Tết Mậu Thân đầu năm 1968, lần đầu tiên ở tuổi 73, BVTUH nếm mùi chiến tranh, bị phá hủy khá nặng nhất là phía nửa trước của bệnh viện.

Họa trung hữu phúc, một thời gian ít năm sau đó bệnh viện được xây cất lại nửa phần trước, lầu 4 tầng, đại qui mô.

Thi công kéo dài mấy năm khiến bệnh viện phải tạm thời co rút, thu hẹp cơ sở ra phía nửa sau, trước khi công trình xây dựng hoàn tất, khoảng năm 1973, nguy nga tráng lệ khác hẳn xưa; xưa là cô gái mộc mạc duyên dáng, hương đồng cỏ nội, nay lầu son gác tía hoàn toàn biến đổi, đài các kiều diễm, phấn son lộng lẫy, khó nhận ra.

Cũng là trường hợp các bệnh viện Chợ Rẫy, Bình Dân ở Sài Gòn, tuy không bị hủy hoại do chiến tranh nhưng cũng phải đập phá, xây lên cao ốc, nhằm tận dụng mặt bằng, mở rộng cơ sở, đáp ứng đà tiến triển nền y khoa hiện đại.

*****

ll) Nét Độc Đáo Của Cố Đô Huế. Năm 1959, cuối hè, tôi giải ngũ, từ giã Bệnh viện Quân Y Mang Cá, Thành Nội và một tháng sau đến nhận việc ở BVTUH.

Lúc đó coi như là lần đầu tiên tôi bước chân vào đây, trước kia chỉ đi ngang, rất nhiều lần và lắm khi tò mò nhìn vào để ngạc nhiên thấy xa tắp tuốt cổng đằng kia cũng có người đi, xe cộ qua lại và thầm khen bệnh viện thật rộng lớn, đẹp đẽ và khác thường.

Cố đô Huế có Cung điện và các Lăng tẩm, không nơi nào có nên không cần so sánh.

Huế lại có ba điểm độc đáo:

Đó là 1.Sông Hương/Cầu Trường Tiền, 2.Quốc Học/Đồng Khánh và 3. Bệnh viện TƯ Huế.

1. Sông Hương đc bit. Cho đến năm 1959 tôi chưa từng thấy con sông lớn nào ở Việt Nam mà có công sở, phố xá, chợ búa đông đúc ở cả hai bên bờ sông, tả và hữu ngạn như ở Huế.

Ở miền Nam, Sài Gòn, Mỹ Tho và ở miệt Hậu giang, các thành phố, thị xã đều nằm một bên bờ sông.

Miền Trung cũng vậy, như Quảng Ngãi hữu ngạn sông Trà Khúc, Đà Nẵng tả ngạn sông Hàn, Đồng Hới tả ngạn cửa sông Nhật Lệ rộng lớn, bên kia sông là động cát, có một làng câu nhỏ ven sông, thị xã Vinh ở tả ngạn sông Cả, thị xã Thanh Hóa nằm ở hữu ngạn sông Mã.

Ở miền Bắc, Hà Nội nằm ở hữu ngạn sông Hồng.

Sông Hương ở Huế như một giải Ngân Hà đầy sao lấp lánh cả hai bên bờ và cầu Trường Tiền sáu vài hình dãy nửa đồng tiền bắc ngang sông như cầu Ô thước, thật độc đáo.

Sông Hương, thiên nhiên và cầu Trường Tiền, nhân tạo là biểu tượng của Huế.

2. Trường Quc hc/Đồng khánh là một độc đáo khác. Cùng ngảnh mặt ra sông Hương, “không trường nào bì kịp, hai Trường Quốc Học/Đồng Khánh, trong một khung cảnh hữu tình, nằm sát cạnh nhau đẹp đẽ như Phụng cầu Hoàng mà vẫn giữ ý tứ lễ độ như đôi Sư cưu.”

Phụng là chim Phượng, Hoàng là chim Phượng mái, Sư cưu là chim Sư cưu/Thư cưu, con trống con mái đi chung mà không hề bỡn cợt, vợ chồng người quân tử.

Thật là “Yu điu thc n, quân t ho cu.”

Không đâu trên đất nước Việt Nam có hai trường trung học lớn, nam nữ mà được chim liền cánh, cây liền cành, tỵ dực điểu, liên lý chi”, nên thơ như vậy.

3. BVTUH mô hình kiến trúc đc đáo.

Bnh vin Trung ương Huế có s giường ln và khuôn viên rng nht thi by gi.

Tuy nhiên mô hình kiến trúc mi thc là đc đáo.

Tôi chưa tng thy bnh vin nào, dù ln dù nh trên toàn cõi đt nước mà ta có th nhìn sut t cng trước thng tít ra cng sau, tm mt không h b ngăn cn dù đó là các bệnh viện nhỏ ở tỉnh, Vinh, Đồng Hới, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi… hoặc các bệnh viện lớn, Bạch Mai, Phủ Doãn (Việt Đức) ở Hà Nội, Chợ Rẫy, Bình Dân ở Sài Gỏn.

Sài Gòn li có nhiu bnh vin ln khác: BV T (Sn), BV Đô Thành bùng binh Sài gòn, bệnh viện Chợ Quán ở gần cầu chữ Y, bnh vin Đn đt (BV Grall, nay Nhi Đồng 2) cũng như các bnh vin ca người Hoa: Triu Châu, Sùng Chính và nhiu na, mi nơi đu có mt v đp riêng nào đó, “cúc tú lan hương”. Tuy nhiên BVTUH có ý nghĩa đc đáo, khác hn.

Những điểm độc đáo khác của BVTUH kể như sau:

– Các con đường bao quanh lấy tên các vị vua khởi nghĩa đánh đuổi Trung Hoa đô hộ trên 1000 năm, giành độc lập: Trưng Trắc (Hai Bà Trưng) chấm dứt nền Bắc thuộc lần 1, Ngô Quyền chấm dứt nền Bắc thuộc lần 3, Lê Lợi, vị vua chấm dứt nền Bắc thuộc lần 4.

Con đường thứ tư ngắn, chạy từ đường Lê Lợi mặt tiền, tận cùng ở đường Ngô Quyền phía sau, mang tên là đường Lâm Hoằng , nay đổi là Nguyễn Huy Tự.

Lâm Hoằng (1824-1883 Quảng Trị), đỗ Phó bảng năm 1868. Tháng 8/1883 Pháp tiến đánh cửa Thuận An. Sau ba ngày chống trả, nhiều quan binh của triều đình bị tử trận; không để rơi vào tay giặc, Lâm Hoằng đã gieo mình xuống sông tuẫn tiết. Thành Trấn Hải, Thuận An rơi vào tay giặc….Bài vị của Cụ được đưa vào thờ trong Đền Trung Chính của triều đình nhà Nguyễn.

Nguyễn Huy Tự (1743-1790), tác giả Truyện thơ Hoa Tiên.

Đặc biệt đường Ngô Quyền lại chạy cắt ngang bệnh viện, ở phần sau (hồi đó).

Ở Hà Nội, Bệnh viện Bach Mai phía trước là đường sắt tàu hỏa và Quốc lộ 1, nay đổi tên là đường Giải Phóng cho đoạn này.

Bệnh viện Phủ Doãn, nay là Việt Đức thì mặt tiền là phố Tràng Thi.

Ở Sài Gòn, cổng trước của Bệnh viện Chợ Rẫy ở đường Thuận Kiều nay dời sang đường Nguyễn Chí Thanh (Trần Hoàng Quân cũ).

Cổng trước của Bệnh Viện Bình Dân ở đường Phan Thanh Giản, nay là đường Điện Biên Phủ.

Ở Đà Nẵng, mặt tiền bệnh viện là đường Nguyễn Hoàng, nay là đường Hải Phòng.

-Các trại bệnh trong BVTUH đều mang tên những danh nhân : trại Nguyễn Hữu Sum, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Diệu, Nguyễn Thiện Thuật… ngoại trừ tòa nhà khoa Nhi được xây cất hoàn thành sau này, trong thập kỷ 60 và khoa X-Quang không phải là trại bệnh.

-BVTUH có khuôn viên rất rộng nên nhiều gia đình nhân viên được cho ở trong bệnh viện.

Đặc biệt có 7 tư thất biệt lập dành cho các bác sĩ, trong đó có 2 tư thất lầu và tư thất lớn nhất ở góc đường Lê Lợi / Trưng Trắc dành cho bác sĩ giám đốc Nha Y tế Trung phần, thường kiêm luôn chức vụ giám đốc bệnh viện.

bvtuh-2Sau năm 1975, lúc đó phần nửa trước của bệnh viện bị phá hủy trong cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968 đã được xây lên cao ốc 4 tầng thay thế, ban lãnh đạo bệnh viện phân phối cho cán bộ, nhân viên vào ở tại các tòa nhà mang số chẵn, bên kia đường Ngô Quyền (lô đất bên kia đường Ngô Quyền rộng 12.000 m2) nơi có phòng khám ngoại chẩn.

Với thời gian cho đến năm 2000, các gia chủ nghỉ hưu, chuyển nhượng nhiều lần căn hộ của mình và nay lô đất này trở thành khu thương mãi tư nhân, có nhiều nhà thuốc, nhiều nhà nghỉ sang trọng, xây lầu, đón khách là bệnh nhân của bệnh viện và thân nhân.

Lại có cả trường trung học cơ sở Vĩnh Ninh mà trên bản đồ thì tọa lạc ở lầu Nguyễn Tăng Chuẩn cũ.

BVTUH có thể xem là bệnh viện độc nhất trong nước bị mất diện tích sau thời chiến tranh kết thúc.

Tuy vậy, dù đánh mất lô đất phía nam đường Ngô Quyền, bệnh viện vẫn còn rất rộng, đủ mặt bằng để xây lên nhiều kiến trúc cao ốc, từ đầu thế kỷ nay và hiện thời BVTUH cùng Bệnh viện Bạch Mai ở ngoài Bắc và Bệnh viện Chợ Rẫy ở trong Nam là ba bệnh viện lớn nhất tại Việt Nam.

– BVTUH là duy nhất có các trường Cán sự Y tế Điều Dưỡng, Đai Học Y khoa, Nữ hộ sinh vây quanh và dùng bệnh viện làm nơi thực tập lâm sàng cho các sinh viên Y khoa, Nữ hộ sinh, cán sự Y tế, Tá viên điều dưỡng và trong thập niên 1960 tại BVTUH có các giáo sư và bác sĩ ngoại quốc gồm Đức, Pháp, Mỹ, Bỉ… đến làm việc, giảng dạy, điều trị.

Lê Bá Vận

‘.

Còn tiếp…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s