Nguyễn Xuân Quang – THẦN TƯỢNG MẮT XANH THỔ NHĨ KỲ MUSTAFA KEMAL

thonhiky-1Mustafa Kemal Ataturk (hình trích từ www.mrdowling.com/608-ataturk.html)

Thổ Nhĩ Kỳ là một nước tôi ao ước được đặt chân tới từ khi tôi nghiên cứu về các nền văn minh cổ đại của nhân loại.

Thổ Nhĩ Kỳ nằm trong cái nôi của văn minh nhân loại. Nơi đây chồng chất nhiều tầng lớp văn hóa từ cổ đại cho tới hiện kim. Nơi đây còn đào tìm được dấu tích quí giá tuyệt hảo của Thời Cổ Thạch, Thời Tân Thạch, Thời Đồ Đồng, Sắt xa xưa cho tới các nền văn hóa cổ đại của vùng Lưỡng Hà, Cận Đông như Akhadian, Sumerian, Anatolian… rồi tới Hy Lạp, La Mã, Byzantine, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Ottaman…

Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều phế tích Hy Lạp hơn cả Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều phế tích La Mã hơn cả La Mã…

Nhưng tôi chờ đi hết các nơi chính yếu trên thế giới rồi mới “dám” đi du lịch tới các nước theo Hồi giáo. Lý do giản dị ai cũng biết là ngại về vấn đề an ninh. Sau khi đi Ai Cập xong tôi quyết định đi Thổ Nhĩ Kỳ.

Chúng tôi đi một vòng miền Tây Thổ Nhĩ Kỳ nhằm mục đích bao che tất cả các tầng lớp văn hóa và các cảnh quan tuyệt vời của Thổ Nhĩ Kỳ. Khởi đầu từ Istanbul qua Troy, Pergamon, Ephesis, Pamukale, Antalya, Capadocia và trạm cuối trước khi trở về Istanbul là Ankara, thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Khi đặt chân tới Thổ Nhĩ Kỳ thật là ngạc nhiên. Thổ Nhĩ Kỳ khác hẳn với những ấn tượng không đẹp về xã hội nước này đã có trong đầu tôi. Những gì tôi nghĩ trong đầu về Thổ Nhĩ Kỳ hoàn toàn sai lệch. Sự khác biệt có được ngày hôm nay giữa Thổ Nhĩ Kỳ tân tiến, giầu mạnh và các quốc gia Hồi giáo khác là nhờ một lãnh tụ tuyệt vời của Thổ Nhĩ Kỳ, đó là Mustafa Kemal.

Thủ đô Ankara có hai nơi mà tôi phải đến, đó là viện Bảo Tàng Nền Văn Minh Anatolia và Lăng Mustafa Kemal.

Đến Ankara, chúng tôi đi thăm ngay lăng mộ Mustafa Kemal.

Lăng của ông uy nghi đứng trên một ngọn đồi cao nhưng thật là giản dị. Kiến trúc đơn giản, bên ngoài phảng phất một chút kiến trúc Hy Lạp-La Mã có nguồn gốc từ kiểu kiến trúc của ngôi đền ở lăng của Nữ Hoàng Pharaoh Hatshepsut tại đền Deir-el-Bahri ở Thung Lũng Các Vị Vua (Valley of the Kings), Ai Cập.

Lăng của ông tuyệt nhiên không mang một nét Hồi giáo nào. Không có mái vòm củ hành, không có tháp nhọn (minaret), không thư pháp Ả Rập… Nổi bật nhất của lăng là bệ đá cẩm thạch trước lăng coi như là tấm bia lăng mộ của ông. Tấm bia này khắc ghi lại lời nói của Mustafa Kemal “Trong Mọi Trạng Huống, Thành Phần Cai Trị Đất Nước Phải Là Nhân Dân”.

thonhiky-2

Tác giả đứng sau “bia lăng mộ” ghi khắc hàng chữ “Trong Mọi Trạng Huống Thành Phần Cai Trị Đất Nước Phải Là Nhân Dân”

Bên trong lăng cũng rất đơn sơ so với các lăng tẩm của những lãnh tụ khác. Chiếc quan tài cẩm thạch trống không trưng bầy ở chính điện dùng như một biểu tượng. Trên có đặt một vòng hoa tươi. Thân xác ông được chôn ở tầng hầm bên dưới lăng. Trên trần lăng, chỗ để quan tài ở dưới, có một tác phẩm nghệ thuật dát vàng là tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ với những hoa văn đặc thù Thổ Nhĩ Kỳ.

Cái giản dị, đơn sơ bên trong lăng nhằm mục đích làm nổi bật lên những tấm bảng đồng ở bốn bên tường chung quanh ghi khắc lại những lời nhắn nhủ dân và quân Thổ Nhĩ Kỳ của ông.

Ông là một lãnh tụ sống cho nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ và chết cũng không màng tới việc được tôn vinh. Ông đã từng nói với tuổi trẻ Thổ Nhĩ Kỳ là thân xác ông rồi sẽ trở về cát bụi nhưng tương lai Thổ Nhĩ Kỳ còn ở trong tay tuổi trẻ Thổ. Ông chỉ muốn khi lìa đời trở thành cát bụi của đất nước mình thế thôi. Vì chỉ là hạt bụi, ông đã yên nghỉ, không phải sợ hãi những người tới thăm viếng mình, không cần phải có sự canh phòng cẩn mật thân xác, lăng mộ mình như các lãnh tụ khác. Chết rồi mà vẫn còn nằm lo sợ trong quan tài thì làm sao yên giấc ngàn thu được.

Dân Thổ Nhĩ Kỳ gọi ông là Cha Đẻ Thổ Nhĩ Kỳ, Ataturk. Mustafa Kemal Ataturk. Người Thổ vốn là dân du mục tên không có họ và chữ đệm. Ông được gọi lúc còn bé là Mustafa giống hàng ngàn hàng trăm những Mustafa khác. Khi đi học, ông học rất giỏi được thầy giáo dậy toán cho thêm chữ Kemal có nghĩa là “hoàn hảo” (Perfection) vào tên ông để phân biệt với các Mustafa bất hảo khác. Mustafa Kemal. Và ngày nay dân thổ tôn vinh ông gọi ông là Ataturk, Cha Đẻ Thổ Nhĩ Kỳ. Ataturk coi như là một thứ họ (last name). Mustafa Kemal Ataturk. Cũng nên biết ông là người bắt buộc dân Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay phải có một tên họ để cho dễ phân biệt.

Hồi nhỏ, theo truyền thống Hồi giáo, mẹ ông gởi ông đến trường đạo học giáo lý Hồi giáo nhưng ông miễn cưỡng, không thích. Về sau cha ông cho ông theo học một trường tư đặc biệt về giao thương buôn bán. Cha ông chủ trương vô thương bất phú. Nhưng sau đó, Mustafa lén bố mẹ thi vào trường quân sự. Ông tốt nghiệp ở Học Viện Chiến Tranh năm 1905.

Ông tiến nhanh trong binh nghiệp, năm 1914 được thăng cấp trung tá. Năm này Đế Quốc Ottoman lâm vào Thế Chiến thứ I với Âu Châu và Trung Đông.

Cũng nên biết một chút về Đế Quốc Ottoman. Một thời Ottoman là một đế quốc hùng mạnh đã chiếm cứ cả một vùng rộng lớn ở Tiểu Á, Cận Đông, các quốc gia vùng địa Trung Hải, Bắc Phi, vùng biển Hắc Hải, Caspian, Hồng Hải, Vịnh Ba Tư… kiểm soát tất cả cửa ngõ giao thương của Âu châu với Trung Hoa, Ấn Độ qua Con Đường Lụa.

Ottoman hùng mạnh là nhờ vào thể chế Tiểu Vương Sultan theo Hồi giáo. Sớm hơn tất cả các nước khác, các Sultan Ottoman đã tổ chức một quân đội hùng mạnh có hệ thống và khát máu. Mỗi nhà dân phải nộp cho quân đội một người con trai, bù lại được miễn trừ đóng thuế. Ngay cả trong hoàng tộc Sultan, các hoàng tử lớn lên tới tuổi mười một đều được phân tán ra các vùng địa đầu để được huấn luyện trở thành một vị chỉ huy quân đội dũng mãnh. Các hoàng tử phải ra công tập luyện để sống còn. Hoàng tử nào “giết người” giỏi nhất được kế vị vua cha lên làm Sultan, các hoàng tử khác còn lại đều bị giết chết hết. Giết hết để tránh hậu hoạn vì để sống còn thì sự tranh giành quyền lực giữa các anh em sẽ xẩy ra. Với chính sách này Sultan nào cũng là một dũng tướng khát máu. Về sau, khi chính sách giết bỏ các hoàng tử kém cỏi này được bãi bỏ thì quả thật sự tranh giành quyền lực giữa các hoàng tử nổi lên, xâu xé lẫn nhau khiến cho đế quốc Ottoman suy tàn.

Chính vì Đế Quốc Ottoman hùng mạnh này kiểm soát mọi giao thương của Châu Âu với Á Châu, các nước Âu Châu bị bóp chẹt, phải đóng thuế và trả tiền mãi lộ rất cao cho Đế Quốc Ottoman vì thế mà các nước Âu Châu thù nghịch với Đế Quốc Ottoman và phải đi tìm một con đường giao thương khác với Á châu. Đó là con đường biển. Kết quả là vận mạng các nước ở Nam Mỹ, vùng biển Á châu trong đó có Việt Nam đã bị các thực dân châu Âu chiếm cứ làm thuộc địa.

Mustafa Kemal phục vụ trong Quân Đội Ottoman. Ông đã chống cự lại được liên quân Đồng Minh tại mặt trận Gallipoli khiến liên quân phải rút lui. Ông là một vị tướng có lòng từ tâm. Ông đã tỏ ra thông cảm với các quân nhân Đồng Minh bại trận. Không thù hận các chiến sĩ của các quốc gia đã chiến đấu dưới trướng của Đồng Minh như Úc, Tân Tây Lan… Ông cho rằng họ bị bắt buộc phải chiến đấu cho các đế quốc Âu Châu. Điều này đã gợi ý cho người Úc, Tân Tây Lan sau này đòi lại quyền độc lập từ vương quốc Anh.

Sau đó ông đương đầu với quân đội Nga trong trận chiến Caucasus. Lực lượng Nga đã chiếm được nhiều thành phố mấu chốt của vùng đất Anatolian. Mustafa Kemal đã phản công kịch liệt. Sau đó cách mạng Nga bùng nổ, quân đội hoàng gia Nga tan rã. Ông lại được phái tới mặt trận ở Sinai và Palestine. Ông là một người hùng trong quân đội Ottoman.

Sau đó ông tham gia đắc lực vào phong trào giải phóng quốc gia trong Trận Chiến Dành Độc Lập cho Thổ Nhĩ Kỳ và trở thành lãnh tụ của phong trào này. Ngày 8 tháng 7 năm 1919 ông rời bỏ Quân Đội Ottoman. Chính quyền Ottoman ra lệnh truy bắt ông và sau đó tuyên án tử hình ông.

Ông thành lập Đại Hội Quốc Gia (Grand National Assembly, GNA) và trở thành phát ngôn viên của tổ chức này.

Ottoman tan rã. Ngày 10 tháng 8 năm 1920, hiệp ước Sèvres, các nước liên quân Đồng Minh chia cắt chiếm cứ lãnh thổ của đế quốc Ottoman.

Ông hối thúc GNA thành lập Quân Đội Quốc Gia. Tổ chức này lưỡng lự vì không có tiền. Ông đă kêu gọi dân chúng cho chính phủ vay tiền để thành lập quân đội kháng chiến. Dân chúng đã hưởng ứng nhiệt liệt. Chính phủ kêu gọi chỉ một ngày mà nhân dân tham gia đóng góp cho vay cả tháng chưa dứt. Phần lớn họ tặng luôn cho GNA tiền bạc của cải mà không nhận biên lai cho vay.

Lực lượng của Quân Đội Quốc Gia phải đương đầu với lực lượng của liên quân Đồng Minh trong ba trận tuyến: Pháp-Thổ, Hy Lạp-Thổ và Armenian-Thổ. Mustafa Kemal được bầu làm Tổng Tham Mưu quân đội GNA. Trước tiên lực lượng GNA đánh bại quân Hy Lạp. Đang ở khí thế chiến thắng, nhưng ông muốn tránh đổ máu cho cả hai bên và muốn giữ tình giao hảo với liên quân Đồng Minh, ông thương thuyết với liên quân đòi lại những phần đất cũ, gốc của Thổ và trả lại những phần đất mà Đế Quốc Ottoman đã xâm lăng. Ông tuyên bố nếu không được trả lại thì ông mới buộc lòng phải đánh.

Ngày 24 tháng 7 năm 1923, hiệp ước Lausanne được ký kết. Kết quả của cuộc chiến dành độc lập là sự tuyên bố ra đời của nước Cộng Hòa Thổ ngày 29 tháng 10 năm 1923.

Mustafa Kemal trở thành vị tổng thống đầu tiên của nước Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ.

Ở một tư thế mình có thể trở thành một sultan, một nhà độc tài, một lãnh tụ quân phiệt, phát xít, cộng sản… nhưng ông đã từ chối để trở thành một vị tổng thống của một nước cộng hòa dân chủ như Tây phương.

Ông dốc lòng cải cách xã hội Thổ Nhĩ Kỳ trong mọi lãnh vực.

Ta hãy đọc những lời nhắn nhủ của ông với dân và quân Thổ mà một phần đã được ghi khắc lại trên những tấm bảng đồng trên tường lăng mộ ông. Ông đã nói:

Republic means the democratic administration of the state. We founded the Republic, reaching its tenth year. It should enforce all the requirements of democracy as the time comes.”]

—Mustafa Kemal

(Cộng Hòa có nghĩa là thục thi chế độ dân chủ của quốc gia. Chúng ta thiết lập nền Công Hòa, đã đạt tới được mười năm. Cần phải thi hành tất cả những đòi hỏi của dân chủ khi thời gian đến).

Điểm căn bản, cốt yếu là ông chủ trương đất nước Thổ Nhĩ Kỳ phải độc lập về mọi mặt.

by complete independence, we mean of course complete economic, financial, juridical, military, cultural independence and freedom in all matters. Being deprived of independence in any of these is equivalent to the nation and country being deprived of all its independence.”

—Mustafa Kemal

(… bằng độc lập toàn diện, dĩ nhiên, chúng ta có ý nói rằng một sự độc lập về kinh tế, tài chánh, pháp luật, quân sự, văn hóa. Thiếu độc lập ở bất cứ một lãnh vực nào cũng tương đương như quốc gia và xứ sở thiếu mọi sự độc lập).

Điểm chính yếu mà tôi thích là tinh thần dân tộc của Mustafa Kemal. Đất Thổ của người Thổ.

Ông nhắc nhở nhân dân Thổ phải phát triển cái sắc thái Thổ. Ông cho tìm cái sắc thái của vùng đất nước Thổ vốn đã có từ Thời Cổ Thạch, vốn là cái nôi của văn minh nhân loại ở vùng Lưỡng Hà, Cận Đông, rồi được phủ lên những lớp áo của bao nền văn minh khác như Hy Lạp, La Mã, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Á-châu. Ông muốn dân Thổ sống và hãnh diện có cái căn cước tuyệt vời đó. Là một nước theo đạo Hồi nhưng ông không nhận đạo Hồi là bản sắc riêng của Thổ.

Ông chủ trương tách rời Hồi giáo ra khỏi hệ thống chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa… Ông đã tuyên bố:

The religion of Islam will be elevated if it will cease to be a political instrument, as had been the case in the past.”

—Mustafa Kemal

(Hồi giáo sẽ được nâng cao nếu nó ngưng là một dụng cụ chính trị, như đã từng là trong quá khứ).

Một lần khác ông đã thẳng thừng nói với các giáo sĩ Hồi, các sheiks, với các đạo sĩ giáo phái “quay cuồng” (dervishes) và các đệ tử.

In the face of knowledge, science, and of the whole extent of radiant civilization, I cannot accept the presence in Turkey’s civilized community of people primitive enough to seek material and spiritual benefits in the guidance of sheiks. The Turkish republic cannot be a country of sheiks, dervishes, and disciples. The best, the truest order is the order of civilization. To be a man it is enough to carry out the requirements of civilization. The leaders of dervish orders will understand the truth of my words, and will themselves close down their lodges [tekke] and admit that their disciplines have grown up”.

—Mustafa Kemal.

(Đối mặt với kiến thức, khoa học và tổng thể của nền văn minh tỏa rạng, tôi không thể chấp nhận trong cộng đồng văn minh của Thổ Nhĩ Kỳ có sự hiện diện của những người sơ khai đến độ phải tìm kiếm những lợi lộc vật chất và tinh thần dưới sự hướng dẫn của các sheiks. Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ không thể là một xứ của các sheiks, các đạo sĩ quay cuồng và các đệ tử. Trật tự, tốt nhất và thật nhất là trật tự của sự văn minh. Để làm người, chỉ cần thi hành những đòi hỏi của văn minh. Các lãnh tụ của giáo phái dervishes sẽ hiểu sự thật trong lời nói của tôi và sẽ tự đóng cửa những tu xá và chấp nhận rằng giáo phái của họ đã trưởng thành).

Một lần khác ông nói khi bãi bỏ luật Hồi giáo:

We must liberate our concepts of justice, our laws and our legal institutions from the bonds which, even though they are incompatible with the needs of our century, still hold a tight grip on us”.

—Mustafa Kemal

(Chúng ta phải giải phóng những quan niệm về pháp lý của chúng ta, về luật lệ của chúng ta và các pháp viện của chúng ta ra khỏi những ràng buộc còn trói chặt lên chúng ta— vì chúng đã không còn phù hợp với những nhu cầu của thế kỷ chúng ta—).

Không cần phải nói gì thêm, hiển nhiên việc tách Hồi giáo ra khỏi chính trị không phải là một chuyện dễ làm ở một quốc gia Hồi. Ông quả là một người đã nhìn xa thấy rộng, một người yêu quê hương dân tộc mình, một người quả cảm không kể tới tính mạng mình. Ông đã từng bị mưu sát hụt bởi những nhóm Hồi quá khích.

Ông đã giải phóng phụ nữ Hồi:

The social change can come by (1) educating capable mothers who are knowledgeable about life; (2) giving freedom to women; (3) a man can change his morals, thoughts, and feelings by leading a common life with a woman; as there is an inborn tendency towards the attraction of mutual affection.

—Mustafa Kemal

(Sự thay đổi trong xã hội có thể đạt được bằng (1) giáo dục các bà mẹ đã hiểu biết về đời sống; (2) trao tự do cho phái nữ; (3) một người đàn ông có thể thay đổi cái luân lý, tư tưởng và cảm nhận của hắn bằng một đời sống chung với một người đàn bà; vì một  khuynh hướng bẩm sinh là sự thu hút của tình yêu thương hỗ tương).

Một trong những người con gái nuôi của ông sau này đã trở thành một nữ phi công đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về quyền bầu cử cho phái nữ, ông nói:

There is no logical explanation for the political disenfranchisement of women. Any hesitation and negative mentality on this subject is nothing more than a fading social phenomenon of the past. …Women must have the right to vote and to be elected; because democracy dictates that, because there are interests that women must defend, and because there are social duties that women must perform.”

—Mustafa Kemal

(Không có một sự giải thích hữu lý nào cho sự tước quyền chính trị, quyền công dân, quyền bầu cử của phái nữ. Bất cứ sự do dự nào và bất cứ một tinh thần tiêu cực nào về vấn đề này thì cũng chỉ là một hiện tượng xã hội lu mờ của quá khứ… Phụ nữ phải có quyền được bầu cử và được đắc cử; bởi vì dân chủ đã qui định như thế, bởi vì có những quyền lợi mà phái nữ phải bảo vệ và bởi vì có những nhiệm vụ xã hội mà phái nữ phải thi hành”).

Mustafa Kemal đã cho phái nữ quyền đi bầu còn sớm hơn nhiều quốc gia Âu Mỹ. Một trong những người con gái nuôi của ông sau này đã đắc cử vào vai trò của một thống đốc ở một vùng.

Với cả hai phái ông nói:

To the women: Win for us the battle of education and you will do yet more for your country than we have been able to do. It is to you that I appeal.
To the men: If henceforward the women do not share in the social life of the nation, we shall never attain to our full development. We shall remain irremediably backward, incapable of treating on equal terms with the civilizations of the West. ]

—Mustafa Kemal

(“Đối với phái nữ: Tôi kêu gọi: thắng cho chúng ta trận chiến giáo dục và như thế là quí vị đã làm nhiều hơn  cho xứ sở mình, hơn là chúng tôi đã làm..

Đối với phái nam: Nếu từ đây, phụ nữ mà không chia xẻ trong đời sống xã hội của quốc gia, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được sự phát triển hoàn toàn. Chúng ta sẽ vẫn còn lạc hậu không có thuốc chữa và không thể sánh ngang hàng với các nền văn minh Tây Phương”.

Về văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, ông dốc lòng theo Tây phương trút bỏ lớp vỏ kìm kẹp của Hồi giáo. Ông bỏ hệ thống giáo dục Hồi giáo bắt trẻ em ngồi gật gù, ê a học kinh Coran bằng chữ Ả Rập trong nhiều năm trời ròng rã. Ông cho chuyển qua mẫu tự La Mã, ngay cả dịch kinh Coran sang mẫu tự La mã. Ông đã nhờ một chuyên gia Hoa Kỳ cải tổ hệ thống giáo dục. Ông ngồi trong ban dịch thuật các danh từ khoa học, kỹ thuật, bỏ bớt những danh từ Ả Rập, Ba Tư. Ông đích thân đi tới những vùng xa xôi, hẻo lánh, tay luôn luôn cầm cái bảng đen và viên phấn, hối thúc dân quê Thổ đi học và học chữ “quốc ngữ Thổ ABC”. Ông thường lui tới các đại học coi sóc việc giáo dục, đào tạo giới trẻ. Về nghệ thuật, trước đây nghệ thuật Hồi giáo như ta thấy ở các giáo đường Hồi giáo, chỉ được thực hiện bằng hoa lá cành, bằng thư pháp Ả Rẫp, thứ chữ được coi là của thượng đế, kinh Coran là chữ và tiếng nói của đấng chí tôn, ông đã Tây phương hóa, kể cả ngành điện ảnh mà ngày nay ngành điện ảnh Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã chiếm được nhiều giải thưởng Á Âu…

Và còn nhiều nữa…

Mustafa Kemal đã biến một quốc gia Hồi giáo, một quốc gia từ một đế quốc phá sản, bị trị, bị xâu xé bởi Đồng Minh giờ trở thành một quốc gia Hồi giáo tân tiến ngày nay.

Tôi lướt nhanh đi qua phòng triển lãm kế bên, trưng bầy những kỷ vật cá nhân của Mustafa Kemal. Nhưng khi bước vào thư viện của ông. Tôi đứng chôn chân, nhìn sách vở mà mê mẩn cả người. Mustafa Kemal là một người hiếu học, ham đọc sách, ngay cả ngoài mặt trận, lúc rảnh rỗi ông cũng không rời quyển sách trong tay. Nhìn sách vở thấy ông đọc và học đủ thứ. Ông cũng viết, viết báo riêng của mình.

Bà xã tôi sửng sốt kéo tay tôi: “anh… anh… anh lại đây”, dẫn tôi tới một trong những tủ kính nhỏ, mỗi tủ trưng bầy một quyển sách “gối đầu giường” của Mustafa Kemal. “Quyển sách… quyển Sách… Quyển sách”. Tôi nhìn vào tủ kính. Quyển sách đang mở ngỏ ra y như Mustafa Kemal còn đang đọc. Trang giấy in những hình, dấu, chữ viết cổ mà James Churchward gọi là Symbols of Mu. Đây chính là những dấu, biểu tượng, chữ nòng nọc của một nền văn minh cổ đại mà tôi đã nghiên cứu ròng rã qua nhiều năm tháng dài. Người tôi nổi gai ốc. Tôi cũng đã từng mở quyển sách ra, chính trang này, để trước mắt hàng giờ, hàng ngày, hàng đêm một mình dưới ánh đèn.

thonhiky-3

Trang sách đang mở ra trưng bầy trong lồng kính tại Thư Viện Mustafa Kemal ở lăng của ông, tại Ankara, Turkey (không được phép chụp ảnh) chính là trang này trong sách của tôi (trang sách của tôi trong ấn phẩm tái bản sau này, khổ in khác với ấn phẩm năm 1935 của ông).

Hình con hươu đứng thẳng trên hai chân mà James Churward cho là hình ngữ cổ đại của Đất Mẹ Mu của Đông Nam Á có nghĩa là con hươu Keh và cũng là con người đầu tiên trên mặt đất. Sau một thời gian dài nghiên cứu tôi khám phá ra Keh là con Hươu Kẻ, Hươu Kì tức Con Cọc (như trong trò chơi Bầu Cua Cá Cọc) chính là Con Hươu Đực Lộc Tục Kì Dương Vương. Ta có Keh = Kẻ = Kì = Kèo = Hy Lạp ngữ Kera-, sừng = Pháp ngữ Cerf, con hươu sừng. Theo k = h (hết = kết) ta có Keh = kẻ = kì = kèo = hèo = hươu ( Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Đây là một trong những quyển sách gối đầu giường của tôi. Quyển sách nói về Lục Địa Đất Mẹ Mu Đã Mất ở Đông Nam Á: The Lost Continent of Mu của James Churchward. Theo tác giả này, Lục Địa Đất Mẹ Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ, có một nghĩa là Mẹ) là cái nôi của nền văn minh loài người về sau bị chìm xuống biển. Đây chính là lục địa dính liền với Đông Nam Á đã mất mà gần đây một bác sĩ nhi khoa tên là Steven Oppenheimer gọi là Sundaland, Địa Đàng Phương Đông, The Eden in the East. Lục Địa Đất Mẹ Mu và Địa Đàng Phương Đông là một. Và tôi đã nối kết nền văn minh trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn với cái nôi văn minh Đông Nam Á này.

Ngước lên nhìn bức chân dung của Mustafa Kemal. Đôi mắt hạnh nhân xanh biếc của Mustafa Kemal đang nhìn tôi.

Đôi mắt xanh nhìn tôi như biểu đồng tình một điều gì.

Tôi ngẩn ngơ đứng giữa rừng sách không muốn đi đâu nữa. Bây giờ thì tôi biết và hiểu tại sao ông là một lãnh tụ khác thường, đã được dân Thổ Nhĩ Kỳ tôn vinh là Ataturk. Ông đã đọc. Ông đã học. Ông đã thấy. Và ông đã đem thực hành những điều học hỏi được cho nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ. Ôi may mắn thay cho dân tộc Thổ có được một lãnh tụ không vô học.

Nhìn đồng hồ chỉ còn đủ thì giờ để vào tiệm ăn kế bên trong lăng để uống một ly cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, Turkish coffee.

Nhâm nhi cà phê ngồi nhìn tuổi trẻ Thổ Nhĩ Kỳ vui đùa, những thiếu nữ Hồi, có người đầu còn quấn chiếc khăn, nhưng mặc quần blue jean, váy ngắn, những giai nhân, những mệnh phụ trên người đầy những nhãn thời trang mới nhất, đắt tiền nhất nở những nụ cười tươi như những đóa hoa nở rộ đóng góp hạnh phúc cho người, cho đời không còn phải dấu kín, những người đàn ông Hồi một vợ trông bớt macho hơn, những cụ già đôn hậu chống gậy bước từng bước chậm rãi lên những bậc thềm của lăng…

Tôi đã tìm thấy một mẫu minh quân cho Việt Nam. Mustafa Kemal là một thần tượng mà tôi hằng mơ ước muốn có được cho Việt Nam.

Ước gì Việt Nam có được một Mustafa Kemal. Ước gì Việt Nam có được một minh quân như Mustafa Kemal.

.Việt Nam phải là của Việt Nam như Đất Thổ của người Thổ. Việt Nam phải dành lại trọn vẹn lãnh thổ như Mustafa Kemal đã đòi lại trọn vẹn lãnh thổ.

.Việt Nam phải tìm lại cái bản sắc, cái căn cước riêng của đại tộc Việt. Cái cốt lõi Việt mà một đời tôi đã đào tìm. Cái cốt lõi văn hóa Việt, cái căn cước Việt là nền văn hóa trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn di duệ của văn minh Đất Mẹ Mu của James Churchward, của Địa Đàng Đông Phương của Steven Oppenheimer, cái nôi của văn minh nhân loại. Việt Nam phải tách rời ra khỏi văn hóa Trung Hoa và ý thức hệ Cộng Sản như Mustafa Kemal đã tách rời Hồi giáo ra.

.Việt Nam phải độc lập về mọi mặt: Việt Nam không thể là một tỉnh của Trung Hoa, một sắc tộc thiểu số của Trung Hoa, Việt Nam phải độc lập về kinh tế, tài chánh, pháp luật, quân sự, văn hóa… như Mustafa Kemal đã thực hiện cho Thổ Nhĩ Kỳ.

. Việt Nam phải cải cách xã hội toàn diện.

Trong đó phải chú trọng về giáo dục để đào tạo một lớp người trẻ tiến bộ cập nhật với văn minh hiện đại nhưng phải có trái tim người, phải có một trái tim nhân bản. Người Việt tương lai phải có cái Hồn Việt, cái tâm thức Việt, cái triết Việt Chim-Rắn Tiên Rồng, phải sống hài hòa nòng nọc, âm dương giữa con người với con người và giữa con người với vũ trụ, thiên nhiên; phải tự do, bình đẳng như Âu Mỹ, sống phải có kỷ cương như luật pháp Hoa Kỳ, phải làm việc hăng say, yêu, kính trọng nghề như dân Nhật, phải có đầu óc sáng tạo, dấn thân, đòi quyền sống, quyền làm người…

Nhìn đôi mắt hạnh nhân mầu xanh của bức chân dung Mustafa Kemal treo trên tường, tôi mơ ước. Ước gì… Ước gì… có một tuổi trẻ Việt tài ba nào đó trong tương lai đến đây nhìn vào đôi mắt hạnh nhân mầu xanh của Mustafa Kemal kia rồi sau đó khi trở thành một lãnh tụ Việt Nam mà lèo lái đất nước Việt…

Tiếc rằng mình bất tài và ngọn lửa đời mình như ngọn đèn đã vơi cạn rồi…

Xin hồn thiêng sống núi Việt, anh linh Việt, thần thánh Việt, những oan hồn uổng tử Việt, những cô hồn các đảng Việt từ ngàn xưa cho tới nay của cả hai miền Nam Bắc, những ma quỉ Việt… hãy phù trợ để có được một Mustafa Kemal cho Việt Nam.

Ước gì… Ước gì… Ước gì…

Đứng dậy ra xe, ly cà phê Thổ Nhĩ Kỳ làm tôi cảm thấy hưng phấn, sảng khoái trong người…

One thought on “Nguyễn Xuân Quang – THẦN TƯỢNG MẮT XANH THỔ NHĨ KỲ MUSTAFA KEMAL

  1. Hồi còn nhỏ tôi cũng coi Mustafa Kemal là một lãnh tụ lý tưởng, cũng tìm đọc về ông nhưng không có cái may mắn được đọc nhiều và tới thăm đất nước ông như BS Nguyễn xuân Quang . Phạm hy Sơn

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s