Trần Viết Điền – ĐẠI NAM GIẢI QUYẾT SỰ BẤT ỔN Ở CHUỖI ĐẢO CHÀNG SƠN

dao-cotoThời các vua Nguyễn [1801-1945], nhà Thanh không tiến hành một cuộc xâm lược nào đối với Việt Nam [hay Đại Nam]. Tuy nhiên, vấn đề biên giới trên bộ cũng như chủ quyền các vùng biển, có các hải đảo…được triều đình Huế coi trọng và khi gặp sự cố thì vua quan triều Nguyễn thường xử lý cứng rắn, nghiêm túc và hợp lý. Các quan nhà Thanh, trấn nhậm ở những châu, xứ có chung đường biên giới với Đại Nam, dường như “thả lỏng” cho những ngư dân, nông dân, con buôn, …thậm chí cướp biển của nước Thanh, đến ở những vùng hải đảo trong vịnh Bắc Bộ,

thuộc chủ quyền của Đại Nam. Quan địa phương của nước Thanh chỉ tiến hành “săn bắt cướp” khi có lệnh vua nước Thanh mà thôi! Để thấy rõ vua Minh Mạng và triều thần Đại Nam đã những đối sách nhằm chống lại thâm ý của nước láng giềng, thường xuyên có ý lấn đất lấn biển của Đại Nam, chúng tôi trở lại “sự kiện chuỗi đảo Chàng Sơn” thời vua Minh Mạng, thuộc vịnh Bắc bộ, nằm trong Biển Đông do Đại Nam kiểm soát.

Vài nét địa lý chuỗi đảo Chàng Sơn:

Chàng Sơn (nay là Cô Tô) là một quần đảo nằm ở phía đông của đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng An (nay là Quảng Ninh). Quần đảo Chàng Sơn có khoảng hơn 50 đảo, đá lớn nhỏ. Đại Nam nhất thống chí chép: “ Đảo Chàng Sơn : ở trong biển cả, phía đông huyện, từ đảo Vân Đồn ra biển, thuận gió thì 4 trống canh có thể đến; có các đảo Đông Chàng, Tây Chàng, Bồ Cát, Chàng Thông tục gọi là đảo Hùng Chàng, thuyền đi hai ngày mới khắp; bốn mặt đảo đều là vụng biển lớn, thuyền biển qua lại hay đậu ở đấy. Đảo Tây Chàng có hai hòn, phía hữu là núi Tây Chàng, bảo đóng ở đấy, phía tả là đảo Thanh Lam, ở giữa hai đảo có con sông gọi là sông Thông Đồng, hai bên sông địa thế bằng thấp, có hơn nghìn mẫu ruộng…” (sđd, tr. 33).

Ảnh chụp vệ tinh chuỗi đảo Chàng Sơn

Trong chuỗi đảo Chàng Sơn, có một hòn đảo người Việt gọi là hòn Đầu Trâu vì người Việt thường quan sát hòn này theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, trông đảo giống đầu trâu có hai sừng. Còn người Hoa thường gọi là hòn Cẩu Đầu do họ quan sát đảo theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, đảo này trông giống chú chó đang ngồi. Ở hòn đảo này, bọn cướp biển lừng danh “Nguyễn Bảo” (Trần Gia Hải)(Việt), Dương Tựu Phú, Phùng Sinh Đinh Chí, Ngô Tam Cẩu (Hoa), thường chọn làm sào huyệt vào những năm 1832,1833.

Về chủ nhân miên tục của chuỗi đảo Chàng Sơn:

Thời Tiền Lê, thế kỷ 10, Lê Đại Hành hoàng đế của Đại Việt, hoàn toàn làm chủ vịnh Bắc bộ của Biển Đông, trong đó có chuỗi đảo Chàng Sơn. Lê Đại Hành từng bắt giặc biển, giao cho quan quân nhà Tống và vua Tống từng ca ngợi vua nước Nam. Có khi các quan nhà Tống, trấn nhậm châu Ung, châu Khâm dâng sớ lên vua Tống, thông báo Lê Đại Hành từng ra sinh sống ở những đảo xa trong Biển Đông (thế kỷ 10) tức ở chuỗi đảo Chàng Sơn vậy. Thời nhà Lý, vua Lý Thần Tông, tự mình chỉ huy thủy quân đi tuần tra các đảo thuộc chuỗi đảo Chàng Sơn. Thời Trần, do tổ chức kháng chiến chống quân Nguyên nên đảo Vân Đồn và chuỗi đảo Chàng Sơn luôn luôn có thủy quân nhà Trần đóng đồn, dựng bảo để chống đánh quân Nguyên hành quân mặt biển; với những chiến công vang dội của Trần Khánh Dư, Trần Quốc Nghiển là bằng chứng về sự hiện diện của Đại Việt ở vịnh Bắc Bộ ,…Nói tóm lại vịnh Bắc Bộ, có chuỗi đảo Chàng Sơn, Đại Việt quản lý gần ngàn năm, luôn có thủy quân thay phiên nhau trấn giữ…

Thời Tây Sơn, vua QuangTrung, vua Cảnh Thịnh đã thu phục bọn giặc Tàu Ô, biên chế đội ngũ, ban chức tước cho chúng để phục vụ Đại Việt, chuyên quấy rối miền duyên hải của nước Thanh.Tất nhiên chuỗi đảo Chàng Sơn là trạm trung chuyển của đám giăc Tàu Ô, qui phụ Đại Việt, theo mệnh lệnh sai khiến thường xuyên của vua quan Tây Sơn, khiến các vua Thanh rất bức xúc!

Sang thời các vua Nguyễn, đầu đời Gia Long, do bang giao giữa nước Thanh với Việt Nam nói chung “êm thắm” nên việc quản lý chuỗi đảo Chàng Sơn tương đối lỏng lẻo. Ngư dân, thương buôn, giặc biển gốc Quảng Đông, Hải Nam bắt đầu đến chuỗi đảo Chàng Sơn sinh sống, ngoài đánh bắt thủy sản, người nước Thanh còn dong thuyền buôn bán, một số khai hoang đất hai bên sông Thông Đồng thành ruộng lúa. Tuy nhiên, một số thương buôn nước Thanh khi buôn bán bị thua lỗ hoặc do thua cờ bạc lại trở thành cướp biển. Chưa kể cư dân trên đảo lại quan hệ với cướp biển qua việc bán buôn lương thực, hoặc che giấu tàng trữ những tài sản cướp được của cư dân Việt vùng duyên hải tỉnh Quảng Yên. Tình hình trở nên đáng báo động và hoàng đế Minh Mạng của Đại Nam đã có biện pháp cứng rắn đối với chuỗi đảo Chàng Sơn, bảo vệ chủ quyền của Đại Nam ở vịnh Bắc Bộ.

Đại Nam tìm cách quản lý cư dân Chàng Sơn:

Chuỗi đảo Chàng Sơn rất ít dân định cư, phần lớn dân vãng lai là ngư dân, thương lái…ghé thuyền vào các đảo ở tạm; vì thế chuỗi đảo Chàng Sơn thường được bọn cướp biển Hoa, Việt chọn làm sào huyệt. Năm Minh Mạng thứ 13 [1832], tổng đốc Yên-Hải Nguyễn Công Trứ từng đưa quân đến chuỗi đảo Chàng Sơn dẹp bọn cướp. Khi quân Yên-Hải rút đi thì bọn giặc biển lại tụ họp ở Chàng Sơn và quấy nhiễu vùng duyên hải đông bắc. Thực ra ở phía bắc đảo Đông Chàng lại có núi Tây Hiền, từ núi này đến Bạch Long Vĩ là vụng Ba Làng, nơi đây có cụm dân cư trên dưới 500 nóc nhà, nguyên quán đa phần là ngư dân vùng biển Hải Nam, Quảng Châu. Đám cư dân này biểu hiện “vô chính phủ”, không nộp thuế, không tiến cống và một bộ phận trong họ dễ biến thành cướp biển. Đại Nam thực lục chính biên chép: “Thự Tổng đốc Hải-Yên Nguyễn Công Trứ tâu nói: “Gần về phía bắc núi Đông Chàng ở hải phận Vân Đồn thuộc Quảng Yên, có núi Tây Hin. Từ bên tả núi này đến Bạch Long Vĩ là vụng Ba Làng. Năm trước, đã hỏi những người thủ hạ lão luyện về đường biển, đều nói những nơi ấy nhà ở đông đúc, không khác trung châu, phong tục hơi giống thời cố Lê; duy từ xưa đến nay, không nộp thuế, tiến cống. Giặc biển thường lấy đó làm chỗ đóng. Xét ra quan quân 2 tỉnh trước sau đánh lấy hơn 10 chiếc thuyền giặc. Chúng đã bị thua rồi lại kết đảng kéo đến ngay. Nếu không có chỗ tụ tập, sao nhanh chóng được thế?”(sđd, tr.407).

Tổng đốc Yên-Hải Nguyễn Công Trứ nghĩ cách dẹp cướp; trước hết phải quản lý cư dân “thất thường” của đảo bằng cách lập làng, Đại Nam thực lục chính biên chép: “Tổng đốc Hải-Yên Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền lại đến Chàng Sơn tìm bắt được 4 tên giặc chém đi, rồi chiêu dụ dân, tất cả 180 người, lập làng Hướng Hóa, tùy theo chỗ ở, chia làm đông, tây, nam, bắc, 4 giáp, đặt Lý trưởng, Giáp trưởng để cai quản, lệ thuộc vào châu Vân Đồn để ghi vào sổ chịu thuế. Sớ tâu vào được vua khen…” (sđd, tr. 486). Tuy nhiên, số dân định cư chỉ bằng một phần năm dân vãng lai, người nước Thanh, gồm ngư dân, thương buôn và giặc cướp,…đi thuyền cập các bến thuyền ở các đảo của chuỗi đảo Chàng Sơn. Bọn này làm thành hai bang Khai Vĩ, Hà cố, bang viên trên dưới 760 người. Bọn khách này “biến hóa” khôn lường, ngư dân đó mà cướp biển cũng đó, thương buôn đó mà cũng là cướp biển đó…Vua Minh Mạng khen ngợi tổng đốc Nguyễn Công Trứ đã có biện pháp trấn áp bọn chúng nhưng cũng dụ vị đại thần này tìm cách quản lý chúng. ĐNTLCB chép: “Trứ lại theo dụ, bắt đầu mục hai bang Khai Vĩ, Hà cố, sai cứ hiện số người, số thuyền ghi số định thuế (số người : đàn ông, đàn bà trên dưới 760 người, số thuyền: trên 70 chiếc, cứ tháng ba tháng mười, hai kỳ đem nộp, thuế lệ: mỗi chiếc ngang 6 thước trở lên, hằng năm nộp 12 đồng bạc hoa; 5 thước trở xuống 6 đồng, mỗi đồng nặng 7 đồng cân). Lại sức đem gia quyến đều đến, chọn chỗ xếp đặt cho ở. Bọn chúng đều nói: “sống ở mặt nước, nếu lên trên cạn cả, có trở ngại việc làm ăn. Xin chờ chọn mỗi bang 1,2 người đến ở, còn thì cứ tháng 4 cho thuyền về, tháng 9 lại đến…” (sđd, tr.486)

Các thổ quan của Đại Nam rất dè chừng cư dân Chàng Sơn, thường xuyên cử người do thám bọn cướp biển. Khi nắm chắc tình hình họ có thể đưa thổ binh đến Chàng Sơn để vây bắt giặc cướp. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, chép: “Quân Lê Đạo Quảng, thự Tuần phủ Quảng Yên, đóng ở vạn Trà Cổ thuộc Vạn Ninh, do thám biết tên tướng giặc Chung A Phát cùng tên phạm trốn là Nguyễn Bảo bị bộ biền nhà Thanh tuần tiễu tầm nã, phải trốn ở miền biển Bạch Long Vĩ và Trúc Sơn, Quảng thân đốc binh thuyền tiến đến núi Đông Chàng. Hai chiếc thuyền lớn nhỏ của giặc tiến lên đón đánh. Quân ta xung kích, Nguyễn Bảo đi chiếc thuyền nhỏ chạy thoát. Quảng vẫy cờ cho quân đến thẳng đầu thuyền lớn để ngăn chặn, lại bao vây cả hai bên tả hữu. Phạm Đình Thịnh thổ mục Vân Đồn, nhảy sang thuyền giặc, chém tên A Phát trước. Binh dõng thừa kế chém luôn 15 đầu, bắt sống 9 tên, còn các tên giặc khác nhảy xuống biển chết. Tờ trạng tâu bày việc ấy thấu đến tai vua”(sđd, tr.358)

Đại Nam cứng rắn trong việc phân định ranh giới trên biển:

Vì chuỗi đảo Chàng Sơn không xa Bạch Long Vĩ, quá gần hải phận nước Thanh. Cả hai nước đều phải chống giặc biển, quân Việt đánh đuổi thì chúng trốn qua hải phận nước Thanh, quân Thanh tầm nã thì chúng trốn qua hải phận Việt. Nếu cần truy bắt giặc, người Thanh phải xin phép phía Đại Nam khi muốn vào hải phận Việt. Hải quân của nước Thanh vào đầu thế kỷ 19 quá yếu, hầu như chỉ hoạt động ven bờ Quảng Đông và Hải Nam; thậm chí quan địa phương thuộc Khâm châu, muốn bắt giặc biển phải nhờ tư nhân giúp đỡ (?). Không những thế, quan địa phương thông báo cho quan tỉnh Quảng Yên của Đại Nam; rằng thuyền người Thanh có thể vào hải phận Việt Nam trong qúa trình truy bắt giặc. Quan địa phương dâng sớ tâu vua Minh Mạng việc này, nhà vua phản ứng mạnh việc “xâm phạm chủ quyền” của quan quân nhà Thanh. Đại Nam thực lục chính biên chép: “Viên phân châu của Khâm châu nhà Thanh, đưa thư cho tỉnh Quảng Yên nói giặc biển quấy nhiễu, có bọn thuyền buôn nhà Thanh là Trần Kim Phát, tình nguyện tự xuất công xuất của ra biển nã bắt, đã được cấp giấy chấp chiếu cho phép không phân biệt bờ cõi, cứ việc đuổi bắt, mong rằng bên ta xét rõ không nên ngăn trở nhau”(sđd, tr. 370). Sự kiện này có điểm đáng ngờ, tại sao các quan sở tại của nhà Thanh không lo việc tầm nã giặc biển mà nhờ thương buôn? Chưa kể họ đã cấp giấy cho phép bọn thuyền buôn khi đuổi bắt giặc thì “không phân biệt bờ cõi”, họ chỉ báo cho Đại Nam thôi. Nếu cần dong thuyền buôn lậu rồi bảo rằng đi bắt giặc để tránh bị xét hỏi chăng? Việc quan trọng về biên phòng nên thự tuần phủ Lê Đạo Quảng đã dâng sớ tâu về triều. Vua Minh Mạng cương quyết không chấp thuận việc làm xâm phạm chủ quyền Đại Nam, thậm chí khiển trách quan sở tại gặp việc ấy thì phải phản ứng ngay, không cần xin ý kiến triều đình. Sử chép: “ Thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng cho là việc có quan hệ biên phòng, bèn tâu rõ lên, xin chỉ định đoạt.

Vua dụ rằng: “ Hải phận nước ta, dẫu giáp liền với nhà Thanh, nhưng bờ cõi đã có ranh giới rõ ràng sao lại nói là không phân biệt được? Ví phỏng bắt giặc, thì đôi bên đều phái binh thuyền, hải phận mình mà chận bắt, thì giặc còn trốn đi đâu?Há nên tính sẵn đến bước phải vượt bờ cõi của nhau ư? Vậy lập tức sức cho thổ Tri châu ở Vạn Ninh phải chiếu theo bản thư phúc đáp của bộ gửi đến mà viết tinh tả để trả lời. Từ nay về sau có việc gì trọng đại, quan hệ đến quốc thể mới được tâu lên. Còn việc tầm thường như việc này thì cứ tự đi trả lời quyết không có lý nào chiều theo lời xin của họ. Cứ việc một mặt tâu trình đầy đủ, một mặt thi hành cũng chẳng hại gì chứ không nên loanh quanh kêu xin đợi lệnh, chỉ thêm chậm trễ ra thôi!”(sđ d,tr. 370).

Đại Nam có chủ quyền nên nhà Thanh kêu gọi Đại Nam phối hợp:

Do phía Việt Nam không cho phép quân nhà Thanh vào hải phận Đại Nam bắt giặc, vì thế Lô Khôn, tổng đốc Lưỡng Quảng dâng sớ lên vua Đạo Quang để xin vua Thanh ra chỉ dụ và thuyết phục vua Minh Mạng phối hợp bắt giặc. Suốt từ tháng 11 năm Đạo Quang thứ 12, năm Minh Mạng thứ 13 đến tháng 10 năm Đạo Quang thứ 13, năm Minh Mạng thứ 14, vua Đạo Quang chỉ đạo sát sao việc dẹp giặc biển ở vùng biển giáp giới hải phận Việt Nam. Dụ ngày 30 tháng 11 năm Đạo Quang thứ 12 [20/1/1833] có đoạn: “ Sự liệu biện ổn hợp lý, nhưng mặt biển Hoa, Di tuy liên tiếp nhau, nhưng cương vực chia ra, tình hình phải nắm rõ ràng, mới trọn vẹn được. Thuyền giặc trên biển cướp bóc, vốn phải nghiêm mật truy bắt, nhưng sào huyệt giặc tại đất Di, đáng thông tư mật cho nước này ra lệnh quan Di, mang thuyền bè, tập trung binh lực, hẹn ngày hội tiễu;khiến đầu đuôi đều bị khiên chế, hợp sức diệt trừ, tảo thanh mặt biển. Viên Tổng đốc thông sức ngay cho Lý Tăng Giai[Đề đốc] phối hợp với các đạo, phủ, phân vùng ngăn bắt; một mặt truyền hịch dụ viên Quốc vương đồng tâm hiệp lực tiễu trừ yên tĩnh, đối với nội địa vốn đã hữu ích, tại nước ngoài cũng miễn trừ được sự cướp phá. Lô Khôn là người hiểu việc, soạn hịch văn biết dùng từ đắc thể, cần hiểu thị một cách khắc thiết, khiến viên Quốc vương tin phục, hợp lực đánh bắt, nhanh chóng xong việc” (Hồ Bạch Thảo, Tuyên Tông thực lục, quyển 226,tr.28-30).

Trong cuộc phối hợp tiễu trừ cuớp biển giữa Hoa và Việt thì có 3 cánh hải quân, Hoa 2 cánh và Việt 1 cánh. Cánh quân của Hoa, hành quân dọc bờ biển Hoa rồi vào hải phận Việt thì thành công. Cánh quân Hoa thứ 2 ra khơi phía Hải Nam thì thất bại, bị bão tan tác. Cánh quân Việt cũng ra khơi, tránh được bão mà lại đạt thắng lợi lớn, suýt bắt được đầu sỏ Nguyễn Bảo. Cánh quân Việt chỉ là quân “ hương dõng”, chỉ huy chỉ là viên thổ mục “tòng cửu phẩm”. Còn hai cánh quân của Hoa thì là hải quân của Lưỡng Quảng, chỉ huy là quan đề đốc,…Qua sự kiện này cho thấy hải quân của nhà Thanh không mạnh, thường hoạt động ven bờ; hơn nữa hải phận của nước Thanh, xa nhất về phía Nam, chỉ tới vùng duyên hải của đảo Hải Nam.Ở đảo Hải Nam, hải quân nhà Thanh yếu, chỉ tuần tiễu ven biển, bọn giặc thường thoát ra khơi hoặc vào hải phận Đại Nam tác quái. Có khi quân Đại Nam truy bắt giặc, vào sâu hải phận nước Thanh, bắt được giặc, trao trả cho quan quân nhà Thanh. Đại nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ chép: “ Giặc trốn ở Quảng Yên là Nguyễn Bảo, liên kết với đoàn thuyền giặc Thanh, ra vào ở vùng biển Hoa Phong, Vân Đồn. Viên thổ lại mục ở Vạn Ninh là Phan Huy Bích, đem thủ hạ và hương dõng đi tuần thám, gặp giặc, giặc vừa đánh vừa lui, [Bọn Bích] đuổi 1 ngày 1 đêm, đến bãi Vụ Thủy (thuộc hải phận Hải Nam, phủ Quỳnh Châu nhà Thanh), đánh đắm được 1 cái thuyền giặc, chém được tên đầu đảng giặc Thanh là Ngô Á Tam và bắt sống được tên đồng đảng là Phan Á Bát. Còn tên Bảo nhảy lên bờ, chỉ kịp một mình trốn thoát…” (sđd, tr. 459). Sự kiện này được xác tín trong Dụ ngày 1 Bính Thân tháng 3 năm Đạo Quang thứ 13[20/4/1833]: “Dụ các Quân cơ đại thần:

Bọn Lô Khôn dâng tấu triệp về việc giết và bắt sống bọn đầu sỏ cướp, biển trở nên yên tĩnh, cùng biện lý tình hình hiện nay. Xem tờ tâu xong; thấy dân gian người Việt Nam Trần Gia Hải, cùng bọn  phỉ nội địa Dương Tựu Phú, Phùng Sinh Ðinh Chí, Ngô Tam Cẩu, trước đây tại vùng núi Cẩu Ðầu , biển Di kêu gọi tụ tập. Nhân thiếu lương bèn ra khỏi sào huyệt, định đến nội địa cướp phá…

Lại cứ theo thuyền buôn của bọn Tống Kính Lợi truy đuổi giặc đến biển Di, nhận ra được thuyền của tên đầu đảng Trần Gia Hải. Di mục Việt Nam  cũng mang binh thuyền đuổi đánh, bọn giặc phỉ rơi xuống biển chết hơn một nữa; đuổi đến bãi Vụ Thủy, thuyền của Trần Gia Hải đụng phải đá ngầm bị vỡ, giết tên giặc cướp nỗi danh Ngô Tam Cẩu và Ðoàn Lý Hàm, cùng nhiều tên phỉ khác. Trần Gia Hải đem vợ và đồng bọn hơn 10 người chạy trốn vào trong núi. Hai thuyền của Thắng Phát, Hoàng Á Hỷ; sau khi thấy thuyển kia bị vỡ, bèn hướng phía nam chạy thoát. Viên Thổ mục đem tên giặc phỉ Phan Á Bát lấy cung rồi giải giao đến. Tên đầu đảng giặc Mạc Á Cát ngầm trốn về Ðông Hoàn bị bắt, giải đến…”( Hồ Bạch Thảo, Tuyên Tông thực lục, quyển 226,tr.28-30).

Thay lời kết:

Qua sự kiện chuỗi đảo Chàng Sơn, có liên quan vấn đề chủ quyền trên biển giữa hai nước Đại Nam và Trung Hoa, chúng ta có thể thấy triều đình nhà Nguyễn, đứng đầu là vua Minh Mạng, rất quan tâm khẳng định chủ quyền trên biển của Đại Nam. Vua quan triều Nguyễn đã thấy thâm ý của nước Thanh, mượn ngư dân và thương buôn đến ở bất hợp pháp trên chuỗi đảo Chàng Sơn; một bộ phận định cư để khai thác hải sản và canh tác lúa, hoa màu, còn đa phần làm khách thương hồ buôn bán. Cả hai đều không đóng thuế cho Đại Nam và cả hai có hỗ trợ cho nhau khi thất cơ lỡ vận, một bộ phận thương buôn hết vốn thì trở thành cướp biển, tấp vào vùng duyên hải của Quảng Yên, Hải Dương để cướp tài sản của dân Việt. Những lương thực cướp được lại nhờ một số cư trú thường xuyên thu giấu và tiêu thụ, có tiền và có đủ lương thực chúng lại trở thành thương buôn về lại nước Thanh một cách chính danh. Đến những năm 1832, 1833 Tổng đốc Yên-Hải Nguyễn Công Trứ đã giúp vua Minh Mạng trị được nạn này, nên bọn cướp biển lại dạt vào hải phận của nước Thanh nhiều hơn, nhất là khi có một “thủ lĩnh” người Việt tên là Nguyễn Bảo (Trần Gia Hải), khi đó các quan trấn nhậm Lưỡng Quảng mới “bị gậy ông đập lưng ông”, bèn cầu cứu triều đình nhà Thanh. Vua Đạo Quang nhà Thanh ra lệnh tiễu trừ cướp biển cũng như kêu gọi Đại Nam phối hợp để bắt giặc. Cùng tiễu trừ, quân Đại Nam chủ yếu là quân địa phương, còn quân nước Thanh là quân chính qui của Quảng Châu, Quảng Tây nhưng hiệu quả không bằng quân Việt, thậm chí hải quân nhà Thanh bộc lộ sự yếu kém; cùng gặp bão mà quân Việt vẫn tiếp tục hành quân, còn hải quân Thanh bị trôi đến ba thuyền lớn! Chỉ quanh quẩn ven bờ Quảng Đông, Hải Nam, hải quân nhà Thanh còn chưa đủ mạnh, không thể với tới quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như hải quân của Thuận Quảng đẳng xứ (Đàng Trong) vào thế kỷ 17,18 hay hải quân của triều Nguyễn vào thế kỷ 19 vậy.

Huế, ngày 1-4-2016

Trần Viết Điền

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s