Trần Văn Đạt – Nhớ Về Cầu Thủ Phạm Huỳnh Tam Lang

Cầu thủ Phạm Huỳnh Tam Lang_html_34cc3b3bAnh Phạm Huỳnh Tam Lang là người đồng hương với tôi và cả hai cùng lên Sài Gòn học tại trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký năm 1955. Chúng tôi học cùng lớp Đệ Tam B2 (lớp 10) thì anh rời bỏ trường vì đam mê nghề bóng đá. 52 năm sau, tôi gặp lại anh tại nhà góc đường Nguyễn Hoàng & Cộng Hòa và nghe anh tâm sự rất nhiều về bóng đá, nhứt là cuộc chiến thắng vẻ vang giải vô địch Merdeka ở Malaysia năm 1966. Nhân giỗ Anh – ngày 2 tháng 6 – tôi viết ít lời để tưởng nhớ về một người bạn rất đặc biệt, mê chơi banh hơn ham học.

Vào hậu bán thế kỷ 20, đất Gò Công được nổi tiếng nhiều với ca sĩ Phương Dung “Con nhạn trắng Gò Công”Cầu thủ vàng Tam Lang. Anh Phạm Huỳnh Tam Lang là cựu cầu thủ của đội tuyển quốc gia Việt Nam Công Hòa và cựu Huấn luyện viên của Câu lạc bộ bóng đá Cảng Sài Gòn. Anh là một cầu thủ trung vệ xuất sắc của làng bóng đá Việt Nam và Châu Á. Anh nổi tiếng là người trong sạch, luôn đề cao đạo đức của người cầu thủ và phàn nàn về phẩm chất xuống dốc trong giới bóng đá hiện nay! Thời vàng son của Phạm Huỳnh Tam Lang là lúc anh làm Thủ quân của đội tuyển Việt Nam đọat chức vô địch cúp Merdeka năm 1966 và chuyện tình lãng mạn một thời với cô đào “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết trong Đệ nhứt Cộng Hòa Việt Nam.

Cầu thủ Phạm Huỳnh Tam Lang_html_34cc3b3b

Hình 1:Tam Lang với cúp Merdeka, 1966

  1. Tiểu sử

Tam Lang sinh ngày 14-2-1942 tại Gò Công, con của một gia đình trung lưu sống ở Thị xã Gò Công và mồ côi cha lúc còn 3 tuổi. Năm 1955, Tam Lang trúng tuyển vào học trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (nay trường Lê Hồng Phong) ở Sài gòn, vì lúc đó chưa có trường Trung học công lập tại tỉnh nhà. Anh đam mê môn bóng đá từ thuở nhỏ. Khi lên Sài Gòn học, anh được Ông Nguyễn Văn Tư, một người có tên tuổi trong làng bóng đá Sài Gòn, hướng dẫn tập luyện chung với đội banh AJS (Association de la Jeunesse sportive) nổi tiếng bấy giờ. Sáng đi học chiều chơi banh và thi đấu cho đội tuyển trường Trung học Petrus Ký.

Năm 1957, Tam Lang được tuyển vào Đội tuyển học sinh trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, chơi banh cho đội Ngôi Sao Chợ Lớn lúc mới 15 tuổi.

Năm 1960, anh được chính thức tuyển vào đội banh thiếu niên quốc gia, cùng với Võ Bá Hùng, Phạm Văn Lắm, Nguyễn Văn Ngôn, Quan Kim Phụng… và sau đó là đội tuyển Miền Nam (1). Đó cũng là lúc Tam Lang chia tay với các đồng môn cuối niên học lớp Đệ Tam B2 (lớp 10 bây giờ) của trường Petrus Ký. Do quá ham mê nghệ thuật nhồi bóng trên thảm cỏ xanh, anh rời ghế nhà trường sớm hơn các bạn học cùng lớp.

Năm 1964, Anh thi đấu xuất thần trong trận thắng Israel 2-0 ngay trên sân đối phương ở lượt về vòng loại Thế Vận Hội – Olympic 1964 (1). Trước năm 1975, Tam Lang nổi tiếng trong các đội banh Cảnh Sát Đô Thành, Việt Nam Thương Tín, AJS Cảng Sài Gòn. Anh sớm lấy vị trí trong đội hình chính thức và dần giữ vai thủ quân của đội tuyển miền Nam Việt Nam.

Trong một trận cầu giao hữu giữa đội banh Đệ Tam trường Trương Vĩnh Ký và đội học sinh Trung học Gò Công tại sân vận động tỉnh nhà, Tam Lang là học sinh Petrus Ký nhưng anh đá cho đội học sinh đất Gò. Tam Lang có lối chạy thần tốc và mạnh mẽ, từ vị trí trung vệ anh đưa banh lướt nhanh qua nhiều cầu thủ và thẳng tiến đến thành goal địch mau lẹ, ít ai theo kịp hoặc khó khăn ngăn cản anh. Lần đó, đội học sinh Đệ Tam Petrus Ký thua đậm! Trong giải Merdeka năm 1966, anh được giới truyền thông Malaysia khen ngợi là “Mũi tên vàng” của đội bóng VN, rất đúng với tài năng hiếm có của anh.

  1. Sự nghiệp bóng đá

Có lẽ hào quang rực rỡ nhứt trong nghề bóng đá của Tam Lang là lúc đội banh tham dự và thắng vẻ vang cúp Merdeka ở Kualur Lumpur, Malaysia. Cùng năm đó, anh và Đỗ Thới Vinh được mời vào đội tuyển Ngôi Sao Châu Á (2) Xin nhắc lại giải vô địch Merdeka là một giải đấu bóng tròn danh tiếng, được thành lập năm 1957 để chào mừng Ngày Quốc Khánh của Malaysia, gồm những đội banh mạnh nhứt của châu Á. Các nước được mời tham gia là một danh dự lớn.

Tam Lang kể “Năm 1960, khi mới 18 tuổi, tôi được gọi vào đội tuyển miền Nam. Sớm chiếm được vị trí trong đội hình chính thức, nhưng chiếc băng đội trưởng thì chẳng bao giờ tôi nghĩ đến. Năm 1966, đùng một cái, trước giờ bay sang Malaysia, HLV Weigang họp đội và đề nghị bầu chọn đội trưởng mới thay cho tiền vệ nổi tiếng Nguyễn Ngọc Thanh. Cũng chẳng biết vì sao ngày ấy anh em lại tín nhiệm và dồn phiếu cho tôi giữ vai thủ quân (2).”

Cũng vào thời điểm này, mối tình của anh và Bạch Tuyết (Hình 2) bắt đầu khởi sắc trong chiều hướng tích cực. Trước đó, anh và vài người bạn như Lắm rỗ (Hải Quan) trong giới bóng đá thường đến hậu trường Rạp Quốc Thanh làm quen với Bạch Tuyết, Ngọc Giàu và vài cô đào khác. Trước 3 ngày đội banh lên đường sang Malaysia dự giải Merdeka, cả đòan bổng nhận được vé mời xem xuất hát của đòan Cải lương Dạ Lý Hương trình diễn tại rạp Quốc Thanh trên đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi). Trước giờ mở màn, Đại diện đoàn hát nói vài lời phi lộ và chúc đội bóng đá lên đường thành công rực rỡ, đem chuông đi đánh xứ người vẻ vang. Ngay sau đó, cô đào Bạch Tuyết xuất hiện từ cánh gà tiến đến gắn huy hiệu và choàng vòng hoa cho thủ quân Tam Lang với lời chúc tốt đẹp. Tam Lang kể: “lúc đó tôi như bị Bạch Tuyết thu hút hết hồn vía rồi”.

Năm 1966, đội banh Việt Nam Cộng Hòa vào chung kết với đội Miến Điện, oanh liệt thắng 1-0 đọat cúp vô địch Merdeka và mang vinh dự về đất nước. Tất cả Miền Nam lúc đó bừng sống trong bầu không khí sôi động vui mừng. Mọi người khi gặp nhau đều bàn chuyện cúp Merkeda, cầu thủ Tam Lang, Vinh, Thanh … Khi trở về nước, đoàn bóng đá được đón tiếp trọng thể từ sân bay Tân Sơn Nhứt đến phố Sài Gòn. Anh kể trong niềm hân hoan: “Chúng tôi mỗi người đứng trên một xe jeep mui trần diễn hành từ sân bay Tân Sơn Nhứt qua các phố đến Tòa Đô Chánh, với sự hoan nghênh chào đón của hàng ngàn người. Các cầu thủ còn được các mạnh thường quân và Tổng Cuộc Túc cầu tặng mỗi người một tấm lắc vàng ròng để kỷ niệm và ghi nhận thành tích lớn.” Từ đó, tên tuổi của Tam Lang đạt đến đỉnh cao không những trong nước mà còn ở Châu Á.

Với chiến thắng vẻ vang đó, tình yêu của anh và Bạch Tuyết như được chất xúc tác nuôi dưỡng, bùng phát ngày càng lớn hơn. Cuộc hẹn hò của họ kéo dài hơn. Anh bắt đầu đưa rước Bạch Tuyết mỗi đêm và thỉnh thoảng cũng có những cơn ghen si tình không kiềm chế được. Cuối cùng hai người tổ chức một đám cưới đơn giản ở Thủ Đức để ra mắt hai họ và bạn bè vào đầu năm 1967. Nhưng sau đó, do nghề nghiệp và cuộc sống quá khác biệt, nhứt là hai người không có con dù muốn lắm, nên phải chia tay nhau năm 1970. Tam Lang tâm sự anh quá mệt mỏi với công việc đưa đón hàng đêm đến một hai giờ sáng mới về tới nhà, vì Bạch Tuyết sau mỗi buổi hát xong, phải ở lại thay đổi quần áo, điểm trang và gặp gỡ trò chuyện với khán giả ngưỡng mộ đang chờ đón ở hậu trường.

Ít năm sau, Bạch Tuyết có chồng khác và có một cháu trai với Charles Đức, Tiến sĩ Kinh tế, quốc tịch Pháp (mất 2010); còn Tam Lang lúc làm việc ở Ngân hàng Việt Nam Thương Tín gặp cô Nguyễn Thị Minh Hồng rồi cưới làm vợ và có một cháu gái tên Anh Thư hiện làm việc trong ngành dược ở Úc Châu. Hai gia đình vẫn còn thân thiết và liên lạc nhau khi có cơ hội. Bạch Tuyết thú nhận trong một cuộc phỏng vấn: “Trong đời tôi, có hai người đàn ông mà tôi phải học. Đó là ba tôi, người luôn hiểu và hết lòng ủng hộ con cái. Và Tam Lang, người không sính coi hát nhưng yêu con người thật của tôi chứ không phải vì tôi là nghệ sĩ.”(4)

Tam Lang không những thành công là một cầu thủ bóng đá xuất sắc, còn là một Huấn luyện viên giỏi, tay nghề cao, rất nổi tiếng trong nước. Anh còn được giới truyền thông kính nể, thường gọi là “Tượng đài” Phạm Hùynh Tam Lang.

Sau 1975, anh quyết định ở lại quê hương vì nghĩ rằng nghề bóng đá của anh khó phát triển ở hải ngọai; vã lại, anh còn phải chăm sóc bà mẹ già yếu. Năm 2002, anh đi du lịch nước Mỹ trong 6 tuần lễ để thăm viếng bà con, bạn bè và đến nhiều thành phố như Atlantic city, Philidelphia, Virginia, Texas, San Francisco, San Jose, Santa Ana… Anh cũng đã đi thăm con gái ở bang Brisbane, Úc Châu trong hơn 3 tháng.

Năm 1981, sự nghiệp của Tam Lang bắt đầu chuyển hướng. Anh được chọn đi tu nghiệp huấn luyện viên bóng đá quốc tế (HLV) ở CHDC Đức. Khi hoàn tất khóa huấn luyện hơn hai năm, anh được cấp bằng hạng ưu. Sau khi trở về nước, anh giữ chức HLV Trưởng Cảng Sài Gòn và đã giúp đội banh này nổi tiếng, có một thời oanh liệt trong nước, giành bốn chức vô địch (1986, 1993-1994, 1997, 2001-2002) cùng hai danh hiệu vô địch Cúp quốc gia (1992, 2000) và nhiều cúp khác ở Sài Gòn và cấp tỉnh (3). Anh cũng được đề cử làm phụ tá HLV người nước ngòai và giữ nhiều chức HLV cùng đội tuyển trong các giải SEA GamesTiger Cup. Chẳng hạn, năm 1997 Tam Lang chính thức giữ vai trò HLV phó đội tuyển quốc gia dưới thời Colin Murphy (HCĐ SEA Games 1997), Alfred Riedl (HCB Tiger Cup 1998, HCB SEA Games 1999, Tiger Cup 2000) rồi Dido (SEA Games 2001).

3. Giai đọan nghỉ hưu

Năm 2003, với tuổi đời 61 anh từ giã chức vụ HLV Cảng Sài Gòn, về làm cố vấn cho đội thanh niên Thành Phố của ông bầu Quách Thành Lai ở Trung tâm thể thao Thành Long (Đa Phước, Bình Chánh) trong chương trình đào tạo năng khiếu bóng đá Thành Phố. Ngoài ra, anh còn đóng góp chất xám trong các cuộc huấn luyện, cố vấn và giảng dạy các đội bóng trong nước, Tam Lang bảo “Dù ở đâu cứ nghe tiếng la hét trên sân cỏ là vui rồi!” Anh tâm sự muốn đào tạo một thế hệ cầu thủ trẻ giỏi để mong một ngày nào đó mang về đất nước thêm nhiều huy chương vàng. Nhưng lực bất tòng tâm!

Vào lứa tuổi thất thập cổ lai hi, phong độ ngày nào của Tam Lang đã suy giảm với tướng đi gập ghềnh do bệnh khớp xương thời kỳ khá nặng và trí nhớ cũng kém dần; nhưng tánh tình anh không thay đổi, vẫn điềm đạm, lời nói tuy không còn sang sảng ngày nào, nhưng nhỏ nhẹ khiêm nhường. Gương mặt anh luôn biểu hiện nét hiền hòa, hiếu khách, thỉnh thỏang tự trách mình lúc trẻ ham vui, thường không thể từ chối lời mời rượu của bạn bè nên bệnh Gout không trị dứt. Với ngày qua, bệnh trở nên nhiều hơn, các khớp xương bàn tay, cổ tay bị sưng to, làm cánh tay mặt ít nhiều đổi dạng và anh cảm thấy không thỏai mái trong người (Hình 4, 8-2011). Anh sống yên lặng trong một chung cư ở góc đường Trần Phú (Nguyễn Hòang cũ) và Nguyễn Văn Cừ (đường Cộng Hòa cũ) và qua đời do đột quỵ tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn ngày 2-6-2014, hưởng thọ 72 tuổi.

Anh Phạm Huỳnh Tam Lang đã gắn bó cả đời với sự nghiệp bóng đá sân cỏ trong 15 năm dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và tiếp tục hơn 3 thập niên sau đó. Ở đâu anh cũng được mọi người kể cả giới chuyên môn và người hâm mộ kính trọng. Anh đã tạo dấu ấn đặc thù trong nền bóng đá Việt Nam qua nửa thế kỷ nhân sinh.

Tài Liệu Tham Khảo:

  1. Danh nhân Gò Công

(http://www.quehuonggocong.com/knowledge/view/995/Pham-Huynh-Tam-Lang.ttg).

  1. Sĩ Huyên. 2006. Phạm Huỳnh Tam Lang – ký ức một thời vang bóng. Việt Báo (Theo Tuổi Trẻ), Thứ ba, 10 Tháng mười 2006.

  2. Wikipedia.org.

  3. Xaluan.com. 2010. Nghệ sĩ Bạch Tuyết – từng ba lần tự tử (31-8-2010).

(http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=207419).

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link và phải có sự đồng ý của tác giả khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s