Bùi Thế Trường – Một câu kệ quan trọng nhất của Đức Phật trong ngày Phật Đản cần được hiểu

phatdansinh  Theo truyền thuyết khi Ðức Phật được sinh ra, Ngài đi được bảy bước trên bảy đóa hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất (xem hình), Ngài đọc bài kệ:

Thiên thượng thiên hạ.

Duy ngã độc tôn »

câu kệ nầy thường thấy trong những ngày Phật Đản nơi các cửa chùa có treo một biểu ngữ lớn.

Vậy ta hiểu nghĩa ra sao?

Ðây là một lời khai thị rất ư là quan trọng ngay ngày Ðản sinh Của Ðức Phật vì sao chúng sanh trên cỏi ta bà nầy hiểu, Nói theo lý luận kiểu khoa học bây giờ để dễ hiểu là Ðức Phật đưa ra một mệnh đề. Và suốt cuộc đời của Ngài là thuyết giảng để chúng sanh hiểu về ý nghĩa của mệnh đề đó. Mệnh đề đó là ngã. Và ngã, là đầu mối của mọi khổ đau và mọi trầm luân trong cỏi luân hồi mà chúng sinh phải chịu

Vấn đề của mệnh đề: Khái niệm v ngã?

Vấn đề nêu ra là: Nếu ngã của con người và tùy thuộc vào con người thì con người phải có quyền kiễm soát sự vận hành của nó. Nếu gọi, ngã là mình, tự ngã là tự mình, ngã là tôi, là chính ta, nghĩa là ngã là thuộc về mình hoàn toàn v.v.. thì mình bảo nó phải nghe, tôi bảo tôi phải đẹp, tôi không được bịnh tật gì hết, tôi thế nầy, tôi thế kia, thế nọ vv. Nhưng không có kết qủa gì cả. Tôi vẫn là tôi. Nó cũng vẫn là nó. Vẫn cứ thế. Tôi không trở thành đẹp hơn khi trời đã cho xấu, tôi cũng khỏi bị bịnh dù tôi đang mong đươc khỏe mạnh từng ngày, tôi không đươc thế nầy, tôi chẳng thế kia, dù tôi vẫn mong ước. Vậy thì cái tôi (hay ta) không có thật sự, vì m ãi m ãi thân ta vẫn tùy thuộc vào mọi sự khổ đau và làm ta không ưng ý. Hiểu sâu rộng hơn, mọi sở hưũ như thân thể ta, gọi là ngủ uẫn, kể cả mọi vật chất ngoài ta, nhiều hay ít, mà ta có, lại không tùy thuộc vào ta, và ta cũng đứng ảo vọng hảo huyền là ta tin la có quyền lực làm chủ nó hay sai khiến nó, hay hoàn toàn có quyền dùng nó một cách trọn vẹn. Ðó là một ảo giác. Vì là ảo giác nên lắm khi kết qủa không như ý, nên chính ta chịu kết qủa khổ đau, vì do chính ta nhất quyết cho rằng những thứ ấy cứ tưởng thật là của ta. Nhà cửa, danh vọng, địa vị, vợ con, do mồ hôi của ta tạo ra nó môt cách lương thiện. Tât cả là của ta ư? Ừ mà Kh ông. Khi bọn CS vào, chúng cướp hêt, rồi còn bắt ta đi tù, h ành hạ ta và ta lại bị chết trong tủi nhục, Vì những lý do ở trên, Có đó, rồi không còn có đó nữa, nghĩa là mất đó ngay khi có đó. Có không , không có, tất cả được gọi là vô thường. Nên vô thường là khổ. Không còn thì khổ. Mà khổ là do ngã. Ngã là ta. Ngã nầy gọi là chấp ngã. Chấp ngã chính là chấp cái ta, ta có cái nầy, ta có cái nọ, chấp luôn của kẻ khác xí cho là của ta. « Nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý». Nên bọn VC tự do cướp giựt của mọi người dân cũng vì ngã sở.Người ngu hay kém trí thì hồ hởi, phấn khởi, hồ khởi là do cái ngã tạo ra, khi nghe câu trên nhưng c ảo tưởng như mình là chủ thiệt. Thật tế, đó là trò lừa bịp, là bánh vẻ. Chấp kiến là cho rằng quan niệm hay ý kiến nầy thuộc ta. Chấp sở là mọi sở hữu của ta, và nhiều khi không phải là của ta, vì nhiều lý do, ta quyết bảo là của ta. Như VC cướp của dân, mà dân gian thường nói, « cướp ngày là quan ». Ôi mọi khổ đau đều do từ ngã mà ra.

Từ những quan niệm trên giúp ta có thêm một nhận định cần thiết: Mọi sự vật, của cải, mọi pháp, mọi người, không bao giờ là của riêng tôi, thuộc về tôi, vì nếu tôi chấp là của tôi như thế, cho rằng tât cả là của tôi, thì tất cả đó đều là nguồn gốc của mọi sự khổ đau sẽ đến với tôi. Tại sao? Lý luận theo kiểu biện chứng, bởi mọi thứ trên, chúng có cách vận hành của riêng chúng, sự biến dịch của chính chúng không ngừng nghĩ, khác với cách vận hành của ta muốn theo ý ta, cùng với sự biến dịch của ta. Nên tất cả không phải là sở hữu mà ta mà cứ tưởng là sỡ hữu của riêng ta, cái khổ đau do từ cái tưởng đó, đều là do ngã mà ra hết. Ðó gọi là chấp ngã là chấp là của ta. Chấp là của ta đươc gọi là ngã sở.

Khi Ðức Phật hỏi Ông Tu Bồ Ðề như sau: Giả sử có người nói rằng Ðức Phật đã từng thuyết giảng về Ta, về Người, về chúng sanh, và  kiếp sống tất cả là không thật có, thì tại sao Phật lại đề cập chúng làm chi? Người hỏi như vậy có hiểu lời ta không? Ông Tu Bồ Ðề đáp:“Như Lai nói bốn tứơng trên, có mà là giả có, nhưng không phải thật có. Nhưng chúng sanh sinh lòng chấp như thật mà ra. Chúng sanh không cho là gỉả có mà là thật có, như chấp có Ta (là chấp Ngã) là thật. Chính cái Ta khi thích thì sanh lòng tham luyến. Bất cứ ai, hay cái nào nghịch lại Ta thì ta lại sân si hiện ra nét mặt. Chính vì cái ta mà chúng sanh tạo ra không biết bao nhiêu tội lỗi.

Vậy cái ta không phải là thật, mà chỉ do các duyên hoà hợp, đã tạo ra không biết bao nhiêu điều đau khổ ở trần thế nầy. Đủ duyên thì thành, hết duyên thì tan rã .Nên nghĩ rằng một khi duyên hết, thì mọi vật cũng hết, cũng tan và chính Ta cũng hết, là điều giúp cho ta được tỉnh thức.

Xét về con người, thấy có ngủ uãn: sắc, thọ, tưởng, hành, và thức uẫn. Như thế, sắc uẩn gồm có nội sắc (thân mình) và ngoại sắc (tha nhân và thế giới vật lý); thọ uẩn gồm có nội thọ (cảm thọ) và ngoại thọ (gồm có các cảm thọ về sắc, thanh, hương, vị, xúc). Thọ uẩn gồm những cảm nhận về hỷ, lạc, xả (ly), ưu, khổ. Tưởng uẩn gồm những kinh nghiệm về sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp, tưởng và ký ức. Thức uẩn thì ghi nhận sự có mặt của các pháp qua tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý. Còn hành uẩn gồm tư duy, nghĩ về điều thiện, ác, v.v..Do đó, trong sự giải thích mọi lý giải của con người về thế giới thực nghiệm cũng phải dựa vào năm yếu tố trên thì nhận thức của ta và niềm tin của ta về một thưc thể sẽ sai lầm, sai lầm đó là do từ cái ngã mà ra. Nên Ðức Phật ra đới giúp ta thấy được sự sai lầm nầy. Nghĩa là ngã là nguồn khổ đau trong vạn nẽo đường trầm luân. Thế nên, muốn diệt được nó thì phải hiểi tận gốc.

Ðức Phật dạy: “Không có sự hiểu biết tường tận về năm uẩn thì không thể đoạn diệt hết tận khổ đau. Do vậy cần phải biết thế nào là ‘Sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si được gọi là liễu tri'”. Làm sao thấy và giải quyết tận gốc.  Ðó là nhờ Thiền. “Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Tu tập Thiền định thì hiểu biết một cách như thật. Hiểu biết thế nào goị là một cách như thật? – Sắc tập khởi là sắc đoạn diệt, thọ tập khởi là thọ đoạn diệt, tưởng  tập khởi là tưởng đoạn diệt, hành tập khởi là hành đoạn diệt, thức tập khởi và thức đoạn diệt”. (Kinh Tương Ưng Bộ III tr. 32 ;tr.16,). Năm uẩn tập khởi có nghĩa là toàn bộ khổ uẩn tập khởi, và Năm uẩn đoạn diệt có nghĩa là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt.

Ðịnh nghĩa về ngã?

Ngã hay tự ngã ấy chỉ là danh từ rỗng, một tên gọi, là gĩa  danh, không thực có, nhưng nó cứ hiện diện nên cho là giã có. Con người lại thường thích hư danh hão huyền, nên sự đau khổ và hạnh phúc đầy huyễn hoặc cũng do bởi chính cái danh từ rỗng đó mà ra. Ngã qủa thật khó nhận,và phải trải qua nhiều nổi đắng cay mới cãm nhận thấy nó. Nó núp kín, ngụy trang, biến hóa, rất khó lay chuyển. Nó như bóng ma trơi, gây ra nhiều vô số mộng tưởng điên đảo chỉ làm khổ con người cũng bởi vì người có nó. Tiểu ngã hay Ðại ngã cũng là khái niệm gĩã danh không hơn không kém,chúng không thực có và tạo đầy mộng tưởng đảo điên và hão huyền. Vì vọng tưởng, vì hão huyền, nhất là vì lòng tham, là vì để sinh tồn, ngã biến thành ngã chấp, nghĩa là chấp cái nào đó là chính của ta. Khi thành ngã chấp rồi, và nếu là kẻ có ngã chấp đó là kẻ có quyền lực, nó càng làm cho kẻ đó nhiều mộng tưởng đảo điên ngút ngàn, và kẻ đó làm khổ biết bao mọi người để được thỏa mãn cái ngã của hắn ta và cũng từ đó chính hắn ta cũng chuốc cái khổ mà hắn ta gây nên,  bởi thật chất của tất cả mọi thứ đều là mộng ảo, hắn sẽ nhận ra cái qủa không sớm thì chầy.

Thế nên, ngã chỉ là một aỏ tưởng trong tâm thức của con người, và ngã cũng là cội nguồn của mọi thứ tham, sân si, biến con người thành kẻ ích kỹ,  bọn côn đồ lưu manh tràn ngập nhất là trong xã hội hiện tại mà trong đó đạo đức và mọi gía trị nhân bản đều nát bét. Còn ngã là còn tham ái. Tham ái còn, là còn nhiều khổ đau, còn nhiều trầm luân, và còn ngụp lặn trong sinh tử luân hồi. Còn tham ái là còn có cái thân nầy phải vát thêm những gánh nặng trên lưng. Diệt ngã là diệt tham ái. Diệt tham ái là bỏ gánh nặng xuống là tìm con đường giải thoát. Vô ngã là niềm hạnh phúc an lạc và niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người.

Ngã là ta. Ngã là thứ ảo tưởng, thì chính ta cũng ảo tưởng. Ngã là cội nguồn của tham, sân si, thì chính Ta cũng là cội nguồn của tham sân si. Còn tham ái là còn có ngã. Có tham ái là vì còn có ta. Diệt tham ái là diêt ngã, diệt ngã là diệt cái ta. Khi diệt được ngã hay diệt cái ta là thấy con đường đến giải thoát.

Thế nên, có người dịch ra câu kệ trên là:

                        « Thiên thượng thiên hạ. Duy ngã độc tôn »

                        (Trên trời và dưới trời.Chỉ có Ta trên hết).

Dịch như thế là hiểu sai hoàn toàn tâm nguyện của Đức Phật.Dịch như thế thì chẳng có 49 năm thuyết pháp của Đức Phật trong đó Đức Phật chỉ dạy cho chúng sinh làm sao để tự giải thoát cho chính mình khỏi cảnh trầm luân của thế giới ta bà nầy. Nếu có hiểu đôi chút về Bát nhã Tâm Kinh, hay hiểu qua về Duy thức học, thì dịch như sau thấy có lý lẽ hơn, có trình độ hơn :

« Thiên thượng thiên hạ. Duy ngã độc tôn »

   (Trên trời và dưới trời.Chỉ có cái « ngã » duy nhất mà làm cho chúng sanh trầm luân khổ ải). Đó là nói lên cái tiền đề mà Đưc Phật đã thể hiện và chỉ dạy cho chúng sinh trong khoảng thời gian dài 49 năm là làm sao giải quyết nó.

Bài kệ hai câu trên có thể là do truyền thuyết là Ngài nói ra chứa đựng một bí ẩn lớn lao của tâm nguyện của Ngài là cứu đời, và vì căn cơ của chúng sanh chưa dạt, nên đã làm một số người hiểu lầm. Bởi Đạo Phật là đạo vô ngã, tại sao vị giaó chủ lại đề cao cái “ta” của mình quá đáng như thế .Ðạo Phật là đạo phá chấp, thì làm sao đề cao cái ngã như là tiền đề trong ngày Ðảng sinh của Ðức Phật? Trong 49 năm thuyết Pháp, Ðức Phật đã để 22 năm nói di, nói lại về Ðại Bát Nhã Tâm kinh, gồm trên 600 quyển, trong đó, Ðức Phật dạy phá bỏ mọi châp, để đạt được cái thực tại an lac.

Nếu câu trên được dich ta từng chữ như ở trên, làm lắm người không hiểu, họ cho là  ý nghĩa đi ngược lại ý của Ðức Phật và toàn thể kinh điển Phật gíao. Trong nhiều tác gĩa viết về Phật gíao kể cà các Thầy và các cư sĩ tại gia, và hầu hết các chùa chiền đều viết và dịch câu kệ trên trong những biểu ngữ lớn treo trước cổng vào,  chỉ có một ít tác gĩa viết sách và cũng dịch ra y như câu trên, nhưng phải gỉai thích cà năm sáu hàng thêm cho rõ nghĩa và làm sao đừng phản lại kinh điển Phật giaó. Họ giải thích và đề nghị là ngã ở đây thuộc về chơn ngã. Nhưng Ngã, tiểu ngã, đại ngã, chơn ngã hay cả siêu ngã, tất cà chỉ là danh từ rỗng tuếch, chỉ là tên gọi, chỉ là aỏ tưởng không thật. Lại có người giải thích câu dịch trên và cho rằng lên thiên đàng hay xuống địa ngục, lên hay xuống tất cả đều do ngã duy nhất mà ra. Thiên đàng hay địa ngục, cũng chỉ là huyễn mộng, không thực, chỉ là tên gọi, chỉ là giả danh. Học và Hiểu đạo Phật là phải quét sạch mọi ý niệm của ý niệm trên khỏi đầu óc của mình. Bởi vì, khi nói hay giảng kinh hay kệ vê Phật giáo, mà còn đầy ngã trong đầu, thì người đó không nên và cũng không được giảng kinh hay kệ của nhà Phật. Do đó, kinh hay kệ được giảng thì không tránh khỏi sự nhiễm ô từ sự tham sân si. Nói đúng hơn là khi còn ngã.

Vậy thì phải giải quyết ra sao ?

Giải quyết vấn đề của Ngã:qua Duyên khởi và Tánh Không.

Muốn hiểu ngã là gì thì cần phải hiểu Duyên khởi? Vì Duyên khởi là giáo lý mà từ đó Ðức Thế Tôn giác ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác dưới cội Bồ-đề sau 49 ngày; Duyên khởi là căn bản của Ðạo Phật. Duyên khởi cho rằng, vũ trụ nầy có được đều là do hằng hà sa số duyên hợp đủ khắp mọi chièu  mà hợp thành. Ngay chính con người cũng do duyên hợp mà tạo thành. Tuyệt nhiên không phải do thần linh hay một tối cao nào cả mà tạo thành hay làm nên vũ trụ hay con người. Vô ngã là thời Pháp thứ hai cũng được  Ðức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển cho năm huynh đệ của Tôn giả Kiều-trần-như sau khi nghe Tứ đế mà chưa đoạn trừ hết lậu hoặc. Còn Tứ đế là giáo lý mà Thế Tôn thuyết giảng lần đầu (Sơ chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển) cho năm huynh đệ Tôn giả Kiều-trần-như; 

Ðức Phật có dạy trong Kinh A Hàm: Người nào thấy được lý Duyên khởi (nhân duyên) thì người ây thấy được Pháp. Thấy được Pháp là thấy và hiểu được Ðạo, thấy được Ðạo là thấy được Phật. Theo lý Nhân duyên hay còn gọi là duyên khởi thì muôn vật trên thế gian của cả vũ trụ nầy không có vật nào tự nó mà thành, mà do nhiêù nhân duyên kết tụ lại. Nói rõ hơn, chúng có được không phải do ngẫu nhiên mà có, cũng không do một vị nào làm ra nó, lại cũng không do môt nhân duyên duy nhất mà thành, mà phải do nhiểu nhân duyên trùng trùng điệp điệp đủ khắp các chiều hợp lại đủ thì chúng thành hình, khi thành hình rồi mà nhân duyên bỗng lại thiếu mất đi thì vật ấy không còn được dùng, phải ly tán, hay bị hũy diệt.

Chứng minh về lý duyên khởi, cụ thể khi tôi đi Mỹ, đến tiểu bang Arizona, tôi được chở đến một nơi hơi xa, cũng tại Arizona, chính là Petrified National Park, mà thuở xưa cách đây trên 300 triêu năm, một khu rừng nguyên thủy tai Arizona –USA nầy, sau một cơn điạ chấn mạnh, cả khu rừng bị chôn vùi dười biển cả không biết bao nhiêu trăm triệu năm.. Rồi cũng do những cơn địa chấn khác, làm cho cả khu rừng bị chôn vuì lại đươc trồi lên mặt đất, tất cả các cây cổ thụ, từ vỏ đến các cành đều biến thành “đá”, có`những cây có đường kính gần 2 m, và có chiều dài khoảng 25-30 m, cùng những thân cây tự cát khai ngang thân đã thành những lóng nhỏ và đang nằm rãi rát trên mặt đất cát nóng bỏng tại Arizona hiện tại. Cây gổ được hóa đá là kết qủa cuả trùng trùng duyên hợp tạo thành nó, hẵn nhiên không phải do ai hay một vị chúa tể nào làm nên. Ðiều nầy làm cho tôi vững tin vào thuyết duyên hợp cuả Ðức Phật một cách tuyệt đối.

Bây giờ ai cũng có và cũng biết chiếc xe đạp. Không có một bộ phận nào của chiếc xe đạp mà lại đươc gọi là chủ thể, vì không có chủ thể, nên không có tự tánh độc lập,vì  không có tự tánh độc lập nên chúng phải lệ thuộc vào nhau để được tồn tại, để thành hình, thành chiếc xe đạp. Nếu các bộ phận của xe có đầy đủ, và nếu hợp các bộ phận đó được hợp lại, nghĩa là ta có chiếc xe là do các bộ phận độc lập đầy đủ duyên kết hợp lại, khít khao và chính xác. Cái xe đạp đó có được, trong đạo Phật được gọi là tạm có hay gĩả có. Giả có hay tạm có vì chính nó không có chủ thể. Vì không có chủ thể, nên khi đủ duyên (đủ các bộ phận) thì còn được dùng nó, khi thiếu duyên (thiếu hay hư một vài bộ phận) thì không còn có thể dùng. Sự hiện diện của nó có hay không là do duyên hợp hay duyên tan mà thành hay hoại. Nói rộng ra, muôn vật, muôn loài, hay muôn pháp và kể cả chúng ta, ở trên thế gian nầy cũng đều do duyên hợp mà ra, cũng đều không có chủ thể, nên gương gá nhau, gọi là có nhưng mà không thật có, nên tạm gọi là tạm có hay giả có.

Vi mọi vật không có tự tính độc lập và luôn luôn liên hệ hổ tương ràng buộc với nhau do bởi nhân duyên, nên chúng không có tự tánh, không thực thể, nhưng vì chúng có tướng nên gọi là gỉả tướng nhưng lại được hiện hữu là có mặt lại được gọi là gỉả có. Vì giả tướng hay giả có nên mắt ta vẫn thấy chúng, tay ta cũng sờ mó chúng được. Dù thấy hay sờ được chúng, nhưng chúng có là do duyên giả hợp mà thành. Vì tất cả mọi hiện tượng và mọi sự vật trong vũ trụ nầy đều hư giả như chiêm bao, như trò ảo thuật, như bọt nước, như bóng hình, như giọt sương mai, như tia điện chớp.Tất cả mọi vật đều gỉả hợp, giả tạm, kể cả chình ta cũng là giả hợp, giả tạm. Tuy nhiên, ta quên ta là giả, rồi ta nhất quyết cho rằng mọi vật ta thấy là thật, các pháp là thật, ta chấp chúng và qủa quyết là thật, kể cả chính ta hẳn là thật nốt. Chính chỗ suy nghĩ được gọi là thật nầy là mấu chốt của mọi sự khổ đau triền miên xãy ra ở dưới trần thế nây. Và cũng chính chỗ nầy, ngược lại, nếu ta nghĩ đúng rằng chúng là giả, tất cả là giả có, và chính ta cũng là gỉa tạm, là chính ta cãm nhận niềm an lạc từ từ đến với ta. Mê-lầm cũng từ chỗ đó, giác ngộ hay không cũng từ chỗ nầy, cách nhau bằng sợi chỉ, bắng cọng tóc. Khoảng cách qúa gần gũi như vây, trong kinh Phật gọi “tức”: là chẳng phải, mà tạm gọi là”. Ðây là một chử rất quan trọng. Khi nghĩ đến “có” « tức » là nghĩ chẳng phải có, mà tạm gọi là gĩa có, mà tạm gọi là không.

Bồ tát Long Thọ qua Trung luận cho rằng:” Các pháp đều do duyên khởi, nên nói là Không (sùnyatà), là Gĩa danh (upàdàya-prajnapti) và cũng là Trung đạo (madhyamà pratipat). Vì rằng ngôn ngử nói lên sư thể.Nhưng mọi sự thể đều vô tự tính, và đều được biết qua tên gọi. Tên gọi là biểu tượng cho sự thể chớ không phải là bản chất của sự thể. Vì thế tên gọi đó là gĩa danh, là danh có trên ngôn từ, nhưng không có trên thực tế. Vậy Duyên khởi, đồng nghĩa vói Không, vời Gĩã danh và với Trung đạo.

Bồ Tát Long Thọ cũng bát bỏ mọi cực đoan chấp có cho rằng mọi sự vật là đều có tự tánh và chúng hoàn toàn biệt lập với các vật khác. Vì nếu chúng có tự tánh và hoàn toàn biệt lập thì chúng không thể hợp lại khi đủ duyên Nhưng mọi sự thể xuất hiện là đều do duyên sinh, sự xuất hiện đó đều do không có tự tánh dị biệt nên chúng hợp thành. Nên mọi duyên sinh khi thành hình rồi cũng mang những đặc tính của những sự hợp thành là không có tự tánh riêng. Do Duyên sinh hợp thành đó, sự hợp thành đó được gọi là Không hay Tánh không.

Vì thế, Tánh không là tánh thể của Duyên khởi. Và Duyên gởi là Tướng của Tánh không. Nên Duyên khởi cũng được gọi là không.Tánh không là nền tảng của duyên khởi. Duyên khởi có tự tính của nó là không.

Tánh không bao trùm tất cả tất cả vạn vật, tất cả các pháp, muốn đạt được cái Tánh không ấy, Ngài Lục Tổ Huệ Năng khuyên chúng sanh  « Vô sở trụ sinh nhi kỳ Tâm ». Nghĩa là lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc. Tất cả là vô sở trụ.

Hiểu được như thế rồi, Không hay Tánh không là phương pháp hữu hiệu nhất để đối trị với mọi vọng tưởng về ngã chấp. Tại sao? Vì ngã  là cội nguồn của mọi tham sân si. Còn ngã là tự chuốc lấy khổ đau cho mình và làm khổ đau cho những người khác.

« Không » phủ định cái gì để đối trị mọi vọng tưởng ? Phủ định biện chứng là hình thức « phủ định của tứ cú », là diệt tất cả mọi hý luận. Ðó là: Hữu, Vô, Diệc hữu diệc vô (cũng có cũng không). Phi hữu, phi vô (không có, không không). Bốn luận cứ trên bắt buộc đưa mọi lý luận trở về kết luận, không được nói dài, nói dai, vòng vo và rỗng tuếch. Viết đến đây nhớ bọn cán cố răng hô, mà buồn thay cho vận  nước. Biện chứng phủ định cũng phủ định luôn về 8 cái không: « Không sinh, không thường, không giống, không đến, không diệt, không đoạn, không khác, không đi » Nội dung của phủ định nầy là phủ định mọi sác thái riêng biệt của hiện hữu, bằng cách phủ định liên tiếp, phủ định luôn cả cái đã phủ định. Phủ định biện chứng rồi cũng phủ định cả trung đạo. Vì Trung là ở giữa. Mà giữa là có hai bên. Mà có hai bên là còn có đối đãi.. Phủ định cho đến khi nào nhất thiết buông xã hết. Là thấy cái không thủ đắc, đó là thực tại của Tánh không. (Thích Tâm Thiện). Nghĩa là không hàm ý một khẳng định nào đằng sau. ). Ðức Thế tôn biết rõ pháp này là pháp sâu xa mầu nhiệm, chẳng phải là pháp mà kẻ độn căn có thể hiểu được vì thế mà Ngài không muốn dạy (Trung luận XXIV.12).” Cũng vì lý do ấy Bồ tát Long Thọ lên tiếng cảnh cáo: “Vì căn tánh ám độn, không có khả năng chánh quán không hay không tánh, nên tự hại, chẳng khác nào không giỏi về chú thuật bắt rắn nên không thể bắt những rắn độc một cách thiện nghệ (Trung luận XXIV.11).

Trở về kinh Bát Nhã để suy nghĩ kỹ nhưng gì Ðức phật chỉ dạy: Tên gọi không phải là thực thể. Là giả danh.Tât cả là không. Là Tánh không. Về tướng? « Phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng ». Như Lai nói các tướng tốt dầy đủ không phải là thật tướng đầy đủ, mà chỉ là mượn tiếng để gọi là tướng tốt đầy đủ. Nói một cách khác, không phải thân thể, mà gọi là thân thể, không phải là tướng tốt, mà chỉ gọi là tướng tốt, vi sao? Vì những thứ nói trên không phải là thật tướng, vì thật tánh của nó vốn là không, do duyên hợp mà thành khi đủ duyên hay bị hoại khi hết duyên, nên nó chỉ là gỉả tạm có, cũng như giả tạm gọi là thân thể, gọi là tướng tốt mà thôi. Nói một cách khác, Phật dạy: nếu thấy sắc thân của ta cho là thấy được Phật, nếu nghe tiếng nói Pháp của ta cho là nghe được tiếng Phật, thì người đó đã đi lạc về đường tà, không bao giờ thấy được Phật. Tât cả chỉ là giả danh, gỉa có, giả tướng. Nghĩa là tất cả là không.

Câu sau nầy hơi khó một chút. Phật nói: Ông Tu Bồ Ðề: »Giảng pháp mà không có pháp nào được giảng, đó mới gọi là giảng pháp ». Nghĩa là Phật lại nghĩ rắng không muốn chúng sanh lại nghĩ có một Pháp nào đó mà Ông Phật đang giảng, vì nghĩ như vậy là còn chấp vào Pháp. Vì sao? Vì người giảng là do duyên hợp, còn các pháp cũng lại là do duyên hợp, vì duyên hợp nên cả hai mới thành, nên cả hai pháp đều là tên gọi, cả hai không có thực tánh, đều là giả danh, cả hai đều là không. Nghĩa là pháp là tên gọi, là giả danh, là do duyên hợp, là không. Nghĩa là giảng pháp mà pháp đó là không, thì đâu có gì để gọi giảng.

Ðến câu sau đây, mà hiểu được là hiểu được Không hay Tánh không. Phật nói:”Từ khi mới thành Ðạo, đến lúc nhập niết bàn, Trong khoảng thới gian ấy, Ta không giảng chữ nào.”  Vì tất cả là do duyên hợp mà thành. Chữ cũng do duyên hợp. nên gọi là giả danh, hay giả tiếng để gọi. Vì thế là không. Là Không thì đâu có gì để nói, có gì để thuyết chi đâu. Ðó là Phá chấp triệt để. Có nghĩa là phá ngã, phá cái ta đây. Ðể trở về Lý không. Là về Tánh không.

Ðến các câu sau đây cũng ở trong kinh Bát Nhã. “Chúng sanh đó chẳng phải là chúng sanh, mà cũng không phải là chúng sanh. Tại sao vây? Tu Bồ Ðề đáp: Những chúng sanh đó, Như Lai nói, họ không phải là chúng sanh, mà chỉ mượn tiếng để gọi là chúng sanh. Vì sao? Chúng sanh là loài được sanh ra, là do duyên hợp mà thành. Chúng sanh đó Không phải là chúng sanh là vì họ dù có sẵn Phật tánh, còn mê, chưa ngộ, nên gọi chẳng phải là chúng sanh mà cũng không phải là chúng sanh. Khi hết mê, khi được giác ngộ, thì hết còn gọi là không chúng sanh. Ðến đây ta thấy nhờ phá chấp, phá ngã để trở về không. Nếu có cái không, và phá luôn cả cái không còn lại để thấy cái giác, thì mới hết gọi là chúng sanh ».

Vì là không, vì bản thể các duyên hợp là không, nên các pháp khởi từ đó mà thành hình. Nên Bồ Tát Long Thọ nói:

«Vì có Tánh không,

Nên mọi pháp đều thành.

Nếu không có Tánh không,

Các pháp đều không thành »,

Vã lại, « ngã hay duy ngã vốn cũng là không. Ngã hay tự ngã hay duy ngã ấy chỉ là danh từ rỗng, một tên gọi, là gĩa  danh, không thực có, nhưng nó cứ hiện diện nên cho là giã có » Vì thể tánh của các pháp là không, nên các pháp mới được thành tựu. Ngược lại, nếu các pháp chẳng phải là không, thì vạn pháp chẳng thành hình. Bởi vì tự tính của các pháp vốn là không, nên mọi hiện hữu của các pháp được thể hiện từ nơi tự tính không ấy. Thế nên, nhờ phá chấp, nhờ phá ngã, để đạt được cái không và phá luôn cái không của cái không nếu có, để có cái giác hiển bày.

Nên câu kệ trên nên hiều như thế nầy :

                    :“ Thiên thượng thiên hạ. Duy ngã độc tôn »

Vì sao? Duy ngã là tên gọi, mà bản chất của nó vốn là không hay Tánh không. Tánh không là bản tánh của duyên khởi, nên Duyên khởi cũng đươc gọi là không. Duyên khởi là không vì tự tính của nó vốn là không. Một mặt, Tánh không là đối trị với ngã chấp. Vì ngã là cội nguồn của mọi tham sân si. Có ngã là tự mình làm đau khổ cho chính mình, và cũng làm đau khổ cho những người khác. Bản chất của Không là phủ định. Phủ định cho đến khi mọi thứ đều buông xã hết, không còn bất cứ một khẳng định sau cùng, và cũng không còn bất cứ một cái không nào của cái không còn dính theo. Đó là đặc tính và ý nghĩa thiết thực của nó. Để mà khi tâm thức của mình không cón mọi ý niệm của ý niệm về sự bám víu, thì không sẽ đưa con người đứng trước một thực tại an lạc vô biên tròn đầy. Đây làý nghĩa của lời dịch về ý sau 49 năm Đức Phật thuyết giảng rất nhiều kinh kệ, mong sao chúng sinh hiểu để thoát khỏi vòng sinh tử, và cho cả các tỳ kheo tu theo lời chỉ dạy của Ngài đều cũng đươc thành Phật. 

Bởi vì nhờ không, mà vũ trụ mới thành, mà các pháp mới có, và pháp được có thì mới thể hiện từ nơi tự tính không ấy. Lịch sữ triết học Phật giáo có ghi một câu nói cần nhớ: « Nhất thiết pháp không ». Phải chăng đó là lời nói đầu tiên của Ðức Phật trong ngày đảng sinh của Ngài. Hay chính đó là câu nhắc nhở chúng sanh làm sao hiểu và đạt được cái không cho chính mình

Phải phá luôn cái không sau cùng, phá luôn mọi ý niêm của ý niêm, để thấy được cái giác có nghĩa là mình sẽ thấy được thực tại an lạc trước mặt.

Vì thực tại chỉ có qua giả danh, do đó Ngài Long Thọ (Nàgàrjuna) thường nói các pháp như mộng, như huyễn. Trung luận viết: “Nếu không giống y Tục đế, thì không thể đạt được Chân đế. Nếu không đạt được Chân đế, thì khôngthể hiểu được Phật Pháp”. Giá trị của ngôn ngữ là ở chỗ thất bại của nó trong diễn đạt Tuyệt đối. Trung quán luận phải loại bỏ mọi hình thức của ngôn ngữ, dể đi về cái tuyệt đối.

Một đoạn trong Tiểu phẩm Bát nhã, Phẩm II: “Thích đề hoàn nhân”, cho ta thấy ý nghĩa giả danh, ý nghĩa nói các pháp như mộng như huyễn này.
“.Thiên tử hỏi: “Thưa ngài Tu Bồ đề, phải chăng ngài nói Phật pháp cũng như huyễn như mộng; Niết bàn cũng như huyễn như mộng?” Tu Bồ đáp: “Này các thiên tử, giả tỉ có pháp nào cao hơn Niết bàn tôi cũng nói là như huyễn như mộng. Này các vị thiên tử, huyễn mộng và Niết bàn không hai không khác « .Như vậy ta  hiểu những gì ? Tất cả chỉ là huyễn mông. Nên đừng bám vào mọi ý niệm của huyễn mộng.  Ý niệm về Niét bàn cũng chỉ là huyễn mộng.  Hãy quyét sạch hết mọi ý niệm đừng để lại mọi dấu vết gì. Cái  « không » có vẽ mong manh nầy, cái không không biên giới nầy, cái không vừa mong manh vừa không biên giới đó như hơi độc của quả bom nhiệt, nó đi đến đâu là nó sẽ tiêu hũy mọi ý đồ của ngã, đốt cháy mọi huyễn mộng, để tâm thức trở thành bản thể vô nguyên. Một khi tâm thức trở thành vô nguyên rồi, mọi ý niệm vê có hay không không còn nữa, ý niệm về bám víu về một sự thể, về một ý niệm của một thế giới ý niệm của ý niệm về mọi ý niệm cũng không còn, vì còn một mãi mai về ý niệm là còn đưa con người vào con đường đau khổ và tuyệt vọng, và như thế, KHÔNG lại đưa con người trở về đứng trước một thực tại đầy an lạc vô biên..

Có còn gì nữa không, ngoài cái không? Nghĩa là không có cái gì ngoài cái không, và cần phải phá luôn cái không của cái không về cái không nếu có sau cùng, để thấy một niền an lạc thực tại vô biên tràn đầy.

Kết luận:

Để chứng minh rõ thêm những điểu đươc nêu trên, tôi dùng tài liệu học đường trong phạm trù ngôn ngữ học, và chiết tự, giúp ta liễu ngộ cái ý thâm sâu của đạo Phật mà Đúc Phật phải bỏ 49 năm trời, đi dây đó khắp nơi, thuyết giảng hầu giúp cho chúng sanh làm sao thoát khỏi khổ đau, để đươc an lạc.

Là Phât tử, hay bất cứ một ai, hiểu Ðạo Phât, là phải ngộ được Không hay còn gọi Tánh không. Bởi lẽ, Phật được chiết tự thành 2 vế, một vế bên trái là bộ Nhân , có nghĩa là Người, còn bộ bên Phải là chữ Phất , có nghĩa là không. Ghép hai bộ lại thành là người hiểu hay ngộ được Tánh không.

Như thế phần kết luận là:

Nhờ có không mà có mọi pháp,  nếu không có không thì cũng không có mọi pháp, thì không có sanh diệt, và cũng không có đăc, cũng không diệt được phiền não khổ tận.

Cụ thể: Hiểu được « không », thì hiểu đươc cái nghĩa thăm thúy cuả bài kệ viết bằng chữ Hán như sau :

            Di hữu không nghĩa cố

            Nhất thiết pháp đắc thành

Nhưọc vô không nghĩa cố

Nhất thiết tắc bất thành.

Dich

           Vì có Tánh không, Nên mọi pháp đều thành.

           Nếu không có Tánh không, Các pháp đều không thành 

Hay bằng tiếng Việt :

Nếu tất cả bất không,

Thì không có sanh diệt.

Như thế là không có,

Hay :

Nếu mà chẳng có không

Chưa đắc không thể đắc;

Cũng không đoạn phiền não

Cũng chẳng diệt khổ tận.

Vì có Không nên mọi pháp mới thành. Vì mọi pháp có thành nhắc ta nhớ đến thuyết duyên hợp hay duyên khởi là thuyết căn bản của Phật giáo. Mọi vật trên thế gian nầy chúng được ràng buộc lẫn nhau khi đủ duyên, khi hết duyên thì chúng chia lià.

Thế nên, trong ng ày Đản sanh, Đức Phật đi 7 bứơc, trên 7 đóa hoa sen , một tay đưa lên Trời và nói 2 câu kệ. « Thiên thượng thiên hạ. Duy ngã độc tôn ». Ý nghĩa của 2 câu kệ nầy rất thâm sâu. Chính Đức Phật phải bỏ ra 22 năm xen kẻ trong 49 năm thuyết Pháp của Ngài, để dạy chúng sanh, dạy đi, dạy lại, về phá ngã chấp, qua Bát nhã Tâm Kinh, để chúng sanh hiểu và ngộ về ngã là ngã không thật, là cội nguồn đau khổ và trầm luân, và khi hiểu rỏ rồi, thì mới hiểu thêm về” không.” hay “Tánh không.” Cái ý nghĩa thâm diệu là ở chổ nầy. Nên ngày Đản sinh, nhiều chùa, treo biểu ngữ ghi là “trên Trời và dưới Trời, chỉ có Ta là duy nhất”, là hoàn toàn sai, là dịch từng chữ, là nói vè nghĩa đen, còn nghĩa bóng thì dốt đặc .. .. Nên tôi có thể nói rằng phải chăng Đức Phật muốn khuyên chúng sinh phải đạt đươc Tánh không, vì còn ngã là còn khổ đau và vì nếu không tiêu huỹ diệt mọi ý đồ của ngã, tiêu hũy mọi huyễn mộng do ngã gây nên, và khi tất cả đều là không…. Và nhất là kể cả khi không còn ý nghĩ về bám víu về bất cứ điều gì, vì còn bám víu là còn khổ đau, còn trầm luân khổ ải.. Thưc hiện đươc như thế, là giúp cho con người trở về cái bản thể vô nguyên, khi đó chính là lúc con người trưc nhận trước một thực tại an lạc vô biên tròn đầy cho chính mình.

                                         Bùi Thế Trường

                                Sydney, lập đông năm 2010 và 2016

(Tôi viết lại bài nầy với tâm tràn đầy xúc động đến khóc)

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link và phải có sự đồng ý của tác giả khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

One thought on “Bùi Thế Trường – Một câu kệ quan trọng nhất của Đức Phật trong ngày Phật Đản cần được hiểu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s