Lâm Văn Bé – Trung Quốc, một cường quốc cô đơn

China-StacheldrahtTrung Quốc đã trỗi dậy từ thời Đặng Tiểu Bình và đã trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới từ năm 2010. Trung Quốc đang chạy đua để tranh ngôi vị siêu cường của Mỹ và một số chuyên gia cũng tiên đoán Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ trong thập niên sắp tới. Trung Quốc là nhà máy khổng lồ của thế giới và người dân trên thế giới, từ nghèo đến giàu đều tiêu thụ hàng hóa Made in China. Với một dân số khổng lồ và một lãnh thổ bao la, một nền kinh tế phát triển cực kỳ nhanh chóng, liệu Trung Quốc có thể đạt được ước muốn siêu cường trong một hai thập niên sắp tới hay không ? Sau bài viết về một cường quốc Trung Quốc nửa vời, chúng tôi trình bày sau đây sức mạnh quân sự và ngoại giao của Trung Quốc và Hoa Kỳ để từ đó ước định vị thế của hai cường quốc nầy.

Trung Quốc : một cường quốc quân sự thứ ba thế giới

Nhiều cơ quan chuyên về nghiên cứu quân sự quốc tế, đặc biệt Global Fire Power (GFP) đã xếp Trung Quốc đứng hạng 3 trong số 126 quốc gia được khảo sát trên thế giới. Dựa vào 50 chỉ tiêu như quân số, vũ khí sử dụng, chế tạo, nhập cảng (không kể vũ khí nguyên tử và các căn cứ quân sự), ngân sách quốc phòng, tổ chức cơ cấu, hệ thống hậu cần, tài nguyên quốc gia… bảng xếp hạng top 10 lực lượng quân sự thế giới vào năm 2015 như sau : Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Pháp, Đại Hàn, Đức, Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ ( VN đứng hạng 23).

  • Quân số, ngân sách quốc phòng

Hiện nay, Trung Quốc có một đạo quân hùng hậu nhất thế giới và một ngân sách quốc phòng hạng nhì sau Mỹ. Năm 2013, Trung Quốc công bố lần đầu tiên quân số của lực lượng tác chiến là 1450 000 người trong đó có 850 000 lục quân, 235 000 hải quân, 398 000 không quân. Đạo quân trên đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu và Quân Ủy Trung Ương có nhiệm vụ tác chiến bất cứ nơi nào trong lãnh thổ và ngoài lãnh thổ. Ngoài ra còn phải kể thêm khoảng 850 000 quân đặt dưới quyền chỉ huy của các tỉnh và địa phương để duy trì an ninh trật tự, cứu trợ người dân hay đồn trú ở các vùng biên giới. Như vậy, nhân số của quân lực Trung Quốc vào năm 2015 khoảng 2.300 000 người không kể con số tương tự trong lực lượng trừ bị. Ngày 3 tháng 9 năm 2015, nhân cuộc diễn binh trọng thể tại Bắc Kinh, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố sẽ cắt giảm 300 000 quân nhưng không nói là sẽ thực hiện lúc nào và binh chủng nào.

Sau đây là bảng so sánh quân lực của Mỹ và Trung Quốc theo các dữ liệu của Global Fire Power, tổng hợp từ các tài liệu chính thức của Trung Quốc, Mỹ, CIA, World Bank, SIPRI (Stockholm International Peace Research Institute) theo thống kê ngày 15/08/2015. Cũng cần lưu ý là những thống kê về quân sự thường khác nhau ít nhiều tùy theo cách tính, thời điểm tính, do đó những con số thống kê nên được xem như độ lớn, đặc biệt về những thống kê của Trung Quốc, dù gọi là chính thức nhưng có mức độ khả tín tương đối vì nhu cầu tuyên truyền hay chiến lược. Thí dụ như về ngân sách quốc phòng năm 2015, Trung Quốc công bố chính thức là 136 tỉ USD, nhưng theo ước lượng của Bộ Quốc Phòng Mỹ và SIPRI, ngân sách nầy tối thiểu là 216 tỉ USD. Ngân sách quốc phòng của Mỹ là 609 tỉ USD.

Lực lượng quân sự của Trung Quốc và Hoa Kỳ

Lực lượng Hoa Kỳ Trung Quốc
Quân số

  • Hiện dịch
  • Trừ bị
1.4 triệu

1.1 triệu

2.3 triệu

2.3 triệu

Lục quân

– Xe tăng (các loại)

– Xe bọc thép các loại

– Đại bác (các loại)

– Pháo phòng không

– Trực thăng

8 797

25 209

5 923

1 207

4 191

11 340

5 020

13 178

7 672

501

Không quân

– Phi cơ chiến đấu

– Phi cơ vận tải

– Phi cơ huấn luyện

– Trưc thăng

– Trực thăng chiến đấu

1 410

5 004

2 797

2 809

6196

2 239

2 377

1 311

352

908

Hải quân

– Hàng không mẫu hạm

– Tàu tuần dương (cruiser)

– Khu trục hạm (destroyer)

– Khinh hạm (fregate)

– Tàu ngầm nguyên tử

– Tàu hộ tống săn ngầm

– Tàu chống thủy lôi

10

22

62

11

73

55

11

1

0

17

54

70

223

53

Hậu cần

– Nhân lực

– Tàu hàng hải

– Hải cảng

– Phi cảng

– Ngân sách quốc phòng

155 triệu

393

24

13 500

609 tỉ USD

800 triệu

2030

15

507

136 tỉ USD

Đầu đạn nguyên tử 7 315 250
Vệ tinh quốc phòng 121 24

Nguồn :

– Global Fire Power (globalfirepower.com ) cập nhật ngày 14/01/ 2016

– Balance of Superpowers (Visualcapitalist.com) tổng hợp từ SIPRI, Worldbank, CIA World Factbook (15/09/2015)

  • Nhận định về ưu thế và yếu thế của quân đội Trung Quốc

Một cách tổng quát, về phương diện số lượng, Trung Quốc vượt qua Mỹ về quân số, xe tăng, đại bác, đội thương thuyền, nhưng kém hơn Mỹ về các loại xe bọc thép, lực lượng không quân, hải quân, nhất là các võ khí nguyên tử và các loại vệ tinh quân sự. Về hậu cần, khi có chiến tranh, Trung Quốc không thể cầm cự lâu dài vì ít có hải cảng, phi trường và căn cứ quân sự ở gần và xa chiến trường để tiếp liệu trong khi Mỹ có căn cứ quân sự ở khắp nơi, đặc biệt những căn cứ hùng hậu của Mỹ và đồng minh của Mỹ ở sát Trung Quốc. Về hiệu nghiệm của võ khí, mức độ tối tân của chiến cụ và khả năng tác chiến, quân đội Trung Quốc tiềm ẩn nhiều yếu thế.

  1. Tinh thần của quân nhân Trung Quốc

Chánh sách một con của Trung Quốc áp dụng từ nửa thế kỷ qua, nếu có giúp cho Trung Quốc kềm hãm được sự gia tăng dân số, nhưng đã đem lại nhiều hậu quả tai hại về xã hội, đặc biệt đã đưa vào quân đội những thanh niên lười biếng, nhút nhát, thiếu nghị lực vì vốn được cha mẹ ông bà nuông chiều thái quá trong gia đình. Ngoài ra, tuy Trung Quốc hôm nay đã là quốc gia kỹ nghệ, nhưng vết tích của truyền thống Khổng giáo vẫn chưa xóa hết, quan niệm trọng văn khinh võ vẫn còn phổ quát trong xã hội, chưa kể lương lính rất thấp chỉ từ 600 đến 1000 yuan/tháng (100-160USD) do đó rất ít thanh niên tình nguyện chọn binh nghiệp. Một yếu tố khác khiến quân lính Trung Cộng thiếu kinh nghiệm và tinh nhuệ vì quân đội Trung Quốc phải phụ thuộc nhiều vào lính nghĩa vụ, chỉ ở trong quân đội khoảng hai năm rồi xuất ngũ, do đó tại bất kỳ thời điểm nào, ti lệ lính mới, có một hoặc hai năm trong quân đội rất lớn.Theo truyền thống cộng sản, thời gian học tập chính trị chiếm 40% thời gian học quân sự, do đó quân đội Trung Quốc kém kiến thức quân sự hơn so với các quân đội khác với cùng một thời gian đào tạo.

  1. Tham nhũng trong quân đội

Tham nhũng là đại họa thâm sâu và thâm niên trong mọi lãnh vực của Trunng Quốc mà Chủ Tịch Tập Cận Bình đã tuyên bố tham nhũng nếu không bị diệt thì đảng và quốc gia sẽ bị diệt. Trong hai năm 2014 và 2015, trong chiến dịch diệt trừ tham nhũng đả hổ đập ruồi , Tập Cận Bình đã bắt giam hay điều tra 42 tướng lãnh cao cấp trong quân đội trong đó có «con hổ» đại tướng Từ Thái Hậu (Xin Caihou), là người có chức vụ cao nhất trong quân đội, Phó Chính Ủy Trung Ương đảng Cộng Sản. Ông Từ có một tài sản khổng lồ, chỉ trong một cái hầm chôn giấu tài sản đã có 1 tấn gồm tiền mặt mỹ kim, euro, đá quý, đồ cổ và phải dùng 10 xe vận tải để chở đi (ông đã chết ngày 15/4/2015 vì ung thư). Các quan chức bị bắt giữ ở tất cả các đơn vị, từ bộ binh, hải quân đến đội pháo binh số hai là lực lượng đặc biệt kiểm soát hệ thống nguyên tử chiến lược của Trung Quốc, nhưng nhiều nhất trong hàmg ngủ cán bộ hậu cần và chính ủy. Thờì kỳ tham nhũng lộng hành nhứt trong quân đội là dưới thời chủ tịch Giang Trạch Dân. Tháng 10/1997, chỉ trong một ngày, Giang Trạch Dân đã phong chức cho 152 người thăng cấp tướng và trong suốt thời gian ông cầm quyền từ 1993 đến năm 2002, ông đã đề bạt phong đại tướng cho 79 người, từ thiếu tướng đến thượng tướng 700 người. Ảnh hưởng của Giang Trạch Dân trong quân đội và chính giới vẫn còn tiếp tục sau khi về hưu, do đó trận chiến chống tham nhũng của Tập Cận Bình không phải dễ. Tài sản của các đảng viên tham nhũng không biết hết được. Theo một số quan chức về hưu, để được thăng cấp tướng phải trả khoảng 10 triệu yuan (1.6 triệu USD), và người tân binh mới nhập ngủ muốn được có chỗ tốt phải chi khoảng 1600 USD. Tham nhũng đã trở thành hệ thống, người chi tiền phải kiếm tiền thu lại, nạn mua quan bán tước và tẩu tán vật liệu ở hậu cần đã làm suy thoái nghiêm trọng sức mạnh của quân đội Trung Quốc.

  1. Về tổ chức

Theo tổ chức cộng sản, mỗi cơ quan quân sự đều có một ủy viên chính trị chia sẻ quyền quyết định với người cầm quân. Với một đạo quân khổng lồ, một lãnh thổ mênh mông và một hệ thống quân nhân càng lúc càng ly tán vì quyền lợi và tham nhũng, tổ chức quân đội như trên là một trở ngại lớn khi có nội biến hay chiến tranh cần sự thống nhất chỉ huy và thời gian cấp bách. Trung Quốc đang bị dằn co với hai học thuyết phân quyền và tập quyền, nhưng thực sự, từ sau chiến tranh biên giới với VN năm 1979 mà Trung Quốc đã bị thảm bại, Trung Quốc chưa có cơ hội để áp dụng học thuyết nào. Trong khi quân đội Trung Quốc chỉ làm công việc tập trận và diễn binh thì quân đội Mỹ, sau khi rút ra khỏi Việt Nam năm 1973, đã tham chiến hay có mặt trong các liên minh bảo vệ hòa bình tại nhiều cuộc xung đột lớn trên thế giới như chiến tranh Vùng Vịnh (1991), Kosovo (1999), Irak (2001-2010), Afghanistan (2001-2014).

Ngoài vấn đề học thuyết và kinh nghiệm chiến trường, cách tổ chức quân binh chủng của TQ thiếu cân bằng về lực lượng còn là trở ngại trong sự phối hợp giữa các đạo quân. Theo d liệu mới nhất (2014) do chính phủ Trung Quốc công bố, bộ binh chiếm đến 72% quân số trong khi hải quân chỉ có 10% và không quân 17%. Về cấp chỉ huy, bộ binh có 24 thượng tướng trong khi hải quân chỉ có ba đô đốc (tương đương với thượng tướng) và không quân chỉ có năm thượng tướng. Hơn một nửa thành viên của Quân ủy Trung ương, cơ quan chỉ huy quân sự tối cao của quân đội Trung Quốc là các tướng bộ binh. Tập Cận Bình đang cải tổ cơ cấu bộ binh, cắt giảm 300 000 quân, phân vùng các quân khu, hiện đại hóa quân đội, nhưng công tác nầy không phải dễ dàng vì bộ binh đã làm chủ quân đội Trung Quốc quá lâu, tước bỏ quyền bính của các lãnh chúa nầy sẽ gây chống đối các phe nhóm, càng làm suy yếu sức mạnh quân đội giũa lúc Trung Quốc đang gặp khó khăn về đối ngoại và kinh tế suy giảm.

4- Về võ khí và trang bị

Trung Quốc vượt qua Mỹ về số lượng xe tăng và súng đại bác. Theo các nguồn liệu khác nhau, Trung Quốc có từ 9 000 đến 12 000 xe tăng, khoảng 12 000 xe chiến đấu bộ binh và xe vận tải bọc thép, nhưng gần phân nửa là các loại xe cũ kỷ, đã lỗi thời như loại xe tăng T-S55 do Liên Sô chế tạo.Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đã sản xuất gần đây những xe tăng hạng nặng hiện đại, như xe tăng 99G trang bị các đại pháo có thể xuyên thép giống như loại xe tăng Abrams của Mỹ (đã tham chiến ở Trung Đông) hay Challenger của Anh. Lực lượng súng đại bác các loại của Trung Cộng cũng vượt hơn Mỹ (Trung Quốc : 13 178, Mỹ : 5923). Tuy Trung Quốc còn non yếu về vũ khí nguyên tử (250 so vớ 7315), nhưng từ cuối năm 2006, TQ đã chế tạo được hoả tiển xuyên lục địa loại Deng Feng 32 có thể bắn đến Âu Châu và lục địa Mỹ không kể các loại hỏa tiển tầm xa LRBL (Long Range Balistic Missiles).

Về không quân, Mỹ vượt hẳn Trung Quốc về số lượng phi cơ các loại và khà năng tác chiến với vũ khí hiện đại và quân sĩ tinh nhuệ, kinh nghiệm chiến trường. Tuy Trung Quốc đã bắt đầu sản xuất phi cơ chiến đấu từ 1980, nhưng theo mô hình của Trung Quốc và kỹ thuật kém nên những phi cơ thế hệ thứ 6 như các loại J-10, J-11, J-31 là các loại phi cơ được TQ xem như hiện đại nhứt, nhưng vẫn thua xa các phi cơ chiến đấu siêu âm của Mỹ đại loại như F-22, F-35, H4 Phantom, phi cơ tàng hình B-2 ,vừa bay nhanh và vừa mang theo được nhiều bom. Theo Greg Waldon, chuyên gia về hàng không nhận định trong Flight Global là «trong 20 hay 30 năm, với những gì mà họ đã và đang làm, TQ mới có thể sở hữu động cơ máy bay quân sự đáng tin cậy » Nói khác đi, không quân TQ chậm hơn không quân Mỹ từ 20 đến 30 năm.

Hải quân Trung Quốc và hải quân Mỹ

Sách Trắng Quốc Phòng của Trung Quốc (Livre Blanc sur la défense de la Chine) đã nhiều lần nhắc đến tầm quan trọng của hải quân đối với Trung Quốc. Từ năm 1998, cứ hai năm, TQ công bố Sách Trắng về chính sách Quốc Phòng . Năm 2006, TQ hướng về phát triển nguyên tử lực hóa vũ khí, và từ năm 2008, lần đầu tiên TQ công bố về ngân sách quốc phòng. Trong Sách Trắng lần thứ 9 năm 2015, Tập Cận Bình đã nêu rõ trọng điểm là :«chuẩn bị chiến tranh cục bộ thông tin hóa, nhấn mạnh đấu tranh quân sự trên biển, kiểm soát hữu hiệu khủng hoảng lớn, ứng phó thỏa đáng với phản ứng dây chuyền, kiên quyết bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn chủ quyền quốc gia ». Một cách cụ thể, trong 4 lãnh vực  hải quân, không quân, không gian ảo (cyberspace) và nguyên tử lực. trọng điểm là hải quân. Với một bờ biển dài 18 000 km và ở bên cạnh các quốc gia vòng đai gồm Mỹ và các quốc gia đồng minh với Mỹ, Trung Quốc cần có một lực lượng hải quân hùng hậu, do đó từ năm 1990, theo kế họach của đô đốc Liu Huaking, Trung Quốc đã phát triển hải quân để có thể chiến đấu đến phạm vi của 2 chuỗi đảo

– chuỗi đảo thứ nhứt đi từ quần đảo Aléoutiennes, Kouriles (Nga), Riukyu (Nhựt), qua Đài Loan, Phi Luật Tân đến đảo Bornéo là khu vực thuộc lãnh hải phía Bắc và phía Nam của Trung Quốc.

– chuỗi đảo thứ hai xa hơn từ quần đảo Bonins, Mariannes qua Guam (Mỹ) đến quần đảo Carolines.

Theo Trung Quốc, hải quân TQ đã có lực lượng chiến đấu đến chuỗi đảo thứ nhứt và năm 2040 sẽ đến chuôi đảo thứ hai, có thể đến cả chuỗi đảo thứ ba gồm Guam và Diego Garcia trên Ấn Độ Dương là hai đại căn cứ của Mỹ.

Nhận định về kế hoạch nầy, nhiều chuyên gia quân sự đại học và Ngũ Giác Đài cho là không thực tế vì quan niệm chuổi đảo theo đường thẳng trên hải phận, thậm chi khoác lác, tiềm ẩn quan niệm cao ngạo bá chủ cố hữu của Trung Quốc theo đó các đảo trong các vòng đai là lãnh thổ nối dài của đại lục Trung Quốc (La menace chinoise, p. 94).

Tuy Trung Quốc quan tâm đến hải quân, và đã có nhiều tàu ngầm nguyên tử (ngang hàng với Mỹ), nhưng cho đến nay, Trung Quốc chỉ có một hàng không mẫu hạm (HKMH), vốn là một tàu cũ của Liên Sô loại Variag được TQ mua lại của Ukraine từ năm 1998 và ì ạch tu sửa cho đến năm 2012 mới đem ra sử dụng. Chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh nầy, theo các chuyên viên hải quân Mỹ và cả Bộ Quốc Phòng Trung Quốc đều nhìn nhận là khả năng chiến đấu rất tương đối, «được sử dụng vào mục đích nghiên cứu và huấn luyện . HKMH nầy nhỏ chỉ 50 000 tân, có thể mang 26 phi cơ J-15 và 24 trực thăng, chỉ có thể cất cánh khi thời tiết lý tưởng, sóng yên biển lặng …» (Wikipedia). Trung Quốc đang xúc tiến đóng một HKMH thứ hai, nhưng «theo báo Xinhua thì quy mô chế tạo tàu sân bay thứ hai nầy cũng chỉ 50 000 tấn, tức phân nửa của tàu Mỹ, thậm chí thua cả Ấn Độ» (Tàu sân bay thứ hai vẫn lạc hậu, vnexpress, ngày 04/01/2016).

So với Mỹ, năm 2014, US Navy có 10 HKMH cở 100 000 tấn, loại NiMitz trang bị nguyên tử, dài 330m, có thể chở 90 phi cơ đủ loại và có khả năng phóng 4 phi cơ chiến đấu chỉ trong 1 phút 40 giây. Mỗi HKMH chứa từ 5000 đến 6000 quân, là một căn cứ quân sự lưu động trên biển, có thể di chuyển đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Năm 2016, Mỹ sẽ đem ra sử dụng chiếc siêu HKMH (USS Gerald Ford) và sau đó 2 chiếc khác. Ngoài khả năng trang bị người và vũ khí hùng hậu, mỗi HKMH còn hoạt động chung với một lực lượng chiến đấu tùy tùng (carrier vessel battle group) gồm tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu tiếp tế, tàu ngầm nguyên tử và một phi đội tấn công. (Witipedia)

Với một lực lượng hải quân hùng hậu hơn 250 tàu nổi và tàu ngầm hiện đại, US Navy khống chế các hải phận trên thế giới :

  • Hạm đội số 2 và số 3 bảo vệ hai mặt Thái Bình Dương và Đại Tây Dương của lục địa Mỹ Châu

  • Hạm đội số 5 đóng ở Barhein kiểm soát vùng Persique và bảo vệ Trung Đông

  • Hạm đội số 6 đóng ở Gaeta (Ý) kiểm soát Địa Trung Hải

  • Hạm đội số 7 đóng ở Okinawa kiểm soát vùng phía Tây của Thái Bình Dương và duyên hải Trung Quốc.

Để bảo vệ Hoa Kỳ và khống chế thế giới, Ngũ Giác Đài chia thế giới thành 6 khu vực, mỗi khu vực được điều khiển bởi một bộ tham mưu khu vực. Trung Quốc nằm trong khu vực PACOM (US Pacific Command).

Điểm cần lưu ý là tổ chức chỉ huy quân lực Mỹ rất chặt chẽ. Lục quân (Land Forces) gồm 3 thành phần là US Army, National Guard và US Marine Corps (Thủy Quân Lục Chiến) được điều khiển bởi Joint Force Commander thường là chỉ huy trưởng của Army. Hải Quân (US Navy) là lực lượng duy nhứt được điều động bởi Tổng Thống không qua Quốc Hội. Tổ chức quyền lực như trên cân bằng và hiệu nghiệm trong thời chiến lẫn thời bình. Nhận định như vậy, quân đội Trung Quốc là loại quân giài phóng, đúng như tên gọi của Trung Quốc.

Chánh sách xoay trục của Hoa Kỳ ở vùng Thái Bình Dương

Sau hơn 10 năm can thiệp trên chiến trường Trung Đông (Irak, Afghanistan), Hoa kỳ bắt đầu chính sách xoay trục(Pivot to Asia) trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Tháng giêng 2012, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ công bố tài liệu Defense Strategic Guidance liên quan đến vùng Thái Bình Dương trong đó có đoạn : « Nếu quân đội Hoa Kỳ tiếp tục sứ mạng góp phần vào việc bảo vệ an ninh thế giới, chúng tôi sẽ ưu tiên hướng về vùng Châu Á-Thái Bình Dương» (La menace chinoise, p. 103) . Cùng trong sách lược ấy, trong phiên họp với Thượng Viện ngày 12/04/2011, Đô đốc Willard, Tổng Tư Lệnh PACOM, đã phúc trình : «Bởi lẽ Trung Quốc hành động càng lúc càng hung hăng, chúng tôi nhận được những yêu cầu của các quốc gia trong vùng Thái Bình Dương, không những từ những đồng minh cố hữu mà cả những quốc gia đối tác gẩn đây là cần có sự hiện diện khẳng định của Hoa Kỳ để cân bằng thế lực của Trung Quốc». Trong hội nghị Shangri-La sau đó, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates đã công khai phát biểu là «Hoa Kỳ sẽ thực hiện những cam kết để bảo vệ các đồng minh » (La menace chinoise, p. 117-118). Rõ ràng Trung Quốc và Mỹ tuy làm ăn chung, nhưng là hai đối thủ và chiến tranh lạnh đang diễn ra tại vùng Á Châu-Thái Bình Dương.

Để phòng bị và đối đầu với chính sách bá quyền của Trung Quốc qua những tuyên bố nhập nhằng khi thì hòa dịu (soft power), khi thì thách thức, có những hành động hiếu chiến ngang ngược đối với các quốc gia trong vùng Biển Đông, Hoa Kỳ đã củng cố Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương (PACOM).

PACOM gồm 4 lực lượng : Bộ tư lệnh Lục quân Thái Bình Dương (US Army Pacific), Bộ tư lệnh Lực lượng Thủy quân lục chiến Thái Bình Dương (US Marine Forces, Pacific), Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (US Pacific Fleet) và Bộ tư lệnh Không quân Thái Bình Dương (US Pacific Force). Bộ Tổng Tư Lệnh đặt ở Hawai và nhiều căn cứ trong vùng. Phạm vi đảm trách của Bộ Tổng tư lệnh này bao gồm một diện tích khoảng nửa địa cầu gồm 36 quốc gia, kéo dài từ vùng biển phía tây nước Mỹ đến biên giới phía tây của Ấn Độ, và từ Nam Cực đến Bắc Cực. Lực lượng và vũ khí trang bị của PACOM gồm khoảng 380.000 quân nhân và dân sự. Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương có khoảng 200 tàu chiến, 6 hàng không mẫu hạm, 1.100 phi cơ và 140.000 quân nhân và dân sự. Bộ tư lệnh Lực lượng Thủy quân lục chiến gồm 86.000 quân và 640 phi cơ, Bộ tư lệnh Không quân Thái Bình Dương có khoảng 46.000 quân và 420 phi cơ, Bộ tư lệnh Lục quân Thái Bình Dương có khoảng 106.000 quân 300 phi cơ và 5 thủy cơ phân phối tại các căn căn cứ từ Nhật đế Đại Hàn, từ Alaska đến Hawai. ( Source : USPACOM)

PACOM trách nhiệm bảo vệ các quốc gia đồng minh trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương theo các hiệp ước song phương bảo vệ lưỡng tương (Mutual defense treaty) giữa Mỹ và các quốc gia như sau :

  • Mỹ – Phi Luật Tân (hiệp ước1952)
  • Mỹ – Úc /Tân Tây Lan ( hiệp ước Anzus 1952)
  • Mỹ – Đại Hàn ( hiệp ước 1954)
  • Mỹ – Nhật (hiệp ước 1960)

Không cần phải có chính sách xoay trục, nếu Trung Quốc tấn công một trong các quốc gia nầy là tấn công Mỹ, do đó Trung Quốc chỉ có thể biểu dương khí thế để uy hiếp những đàn em Việt-Miên-Lào mà Trung Quốc coi như những chư hầu và lãnh đạo các quốc gia nầy cũng mặc nhiên chấp nhận số phận chư hầu để được tham nhũng và độc tài với dân.

Căn cứ quân sự của Trung Quốc và của Mỹ ở hải ngoại

Ngày 17 tháng 1 năm 2005, tờ Washington Times, trong bài viết tựa là « China builds up Strategic Sea Lanes» tiết lộ một dự án của Trung Quốc gọi là Vành đai «Chuổi ngọc trai» (String of pearls=Collier des perles) nhằm thiết lập một hệ thống những căn cứ hải quân tại một số quốc gia trong vùng Án Độ Dương đến Châu Phi để bảo vệ con đường hải vận dầu hỏa từ nguồn tiếp liệu về Trung Quốc.

Vành đai « Chuỗi ngọc trai » nầy bắt đầu từ khu căn cứ tàu ngầm Tam Á, tại đảo Hải Nam và vài hòn đảo nhỏ của VN bị Trung Quốc xâm chiếm và TQ đang bồi đấp trái phép như Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn. Tiếp đến là một chuỗi hải cảng do Trung Quốc tài trợ xây dựng hay hiện đại hóa như : Sihanoukville (Cam Bốt), Sittwe (Miến Điện), Chittagong (Bangladesh), Hambantota (Sri Lanka) và Gwadar (Pakistan). (La Chine nouvelle, p. 96).

Thêm vào đó còn có trạm do thám trên đảo Cocos và Port-Sudan. Trung Quốc cũng đang nhắm đến những cơ sở tại Marao trên đảo Maldives, Seychelles và Lamu ở Kenya. Để đề phòng tàu bè Trung Quốc bị cấm đi qua eo biển Ormuz và Malacca , Trung Quốc chủ tâm thương thuyết với Thái Lan để đào kinh Kra làm thủy lộ mặc dù có có sự phản kháng quyết liệt của Mã Lai và Hoa Kỳ. Sau những hoảng hốt lúc ban đầu, các chuyên viên quân sự Mỹ biết rằng các «ngọc trai» trong vùng Ấn độ Dương thực sự chỉ là những hải cảng mà tàu Trung Quốc có thể cập bến để tiếp tế nhiên liệu, hay sửa chửa trên hải trình chớ không phải là các căn cứ quân sự, không có quân đội và doanh trại của Trung Quốc, và các «viên ngọc» như Seychelles, Maldives, Marao cũng chỉ là những ước vọng mà một số nhà nghiên cứu quân sự đã quan trọng hóa (La menace chinoise, p. 98).

Tuy nhiên, ngoài mục tiêu thương mại và giao thông, Trung Quốc cũng ước muốn các địa điểm nầy có thể trở nên những hậu cần cho Trung Quốc khi có chiến tranh giữa Trung Quốc với một quốc gia khác, nhưng các chuyên viên quân sự nhận định sự liên minh quân sự nầy khó xảy ra vì không quốc gia nào muốn có liên lụy chiến tranh với Mỹ và Ấn độ. Vào năm 2015, các tân chính phủ Miến Điện, Sri Lanka, Bangla Desh thân thiện với Ấn Độ hơn. Bangla Desh đã hủy bỏ dự án Somadia, Sri Lanka cũng tuyên bố hủy dự án «thành phố cảng Colombo», tân tổng thống Sri Lanka còn tuyên bố nhân ngày nhậm chức  «Sri Lanka có thể trở thành thuộc địa của TQ và chúng ta có thể thành nô lệ nếu hợp tác với TQ» Ở phía Tây của Ấn Độ Dương, Seychelles đã đồng ý để Ấn Độ đặt một dàn radar, duy chỉ có Pakistan, đồng minh lâu đời đã mua vũ khí của Trung Quốc và mới đây mua 8 tàu ngầm diesel có thể cho Trung Quốc sử dụng Gwadar như căn cứ quân sự. (Where is the string of pearls in 2015/ Benjamin David Baker in The Diplomat Oct, 05,2015)

Mãi cho đến tháng 10/2015, chủ tịch Tập Cận Bình mới thỏa thuận được với chính phủ Djibouti cho phép thiết lập tại đây một căn cứ quân sự để tiếp nhận 800 quân sĩ và nếu thực hiện xong, căn cứ Djibouti mới thực sự là căn cứ quân sự đầu tiên của Trung Quốc ở hải ngoại.

Trong khi Trung Quốc đang thiết lập căn cứ quân sự đầu tiên ở hải ngoại , Mỹ đang có 800 căn cứ quân sự trên khắp 5 châu. David Vine, giáo sư về lịch sử quân đội, Đại học American University, trong một bài viết trên báo The Nation (tháng 9/2015) có tựa là «The United States probably has more foreign military bases than any other people, nation or empire in history» cho biết là hiện nay, Hoa Kỳ có khoảng 800 căn cứ quân sự ở ngoài Hoa Kỳ. Mặc dù Thế chiến thứ hai đã chấm dứt 70 năm rồi và chiến tranh Triều Tiên cũng đã chấm dứt 62 năm qua, nhưng Mỹ vẫn còn 174 căn cứ quân sự ở Đức, 113 ở Nhựt, 83 ở Đại Hàn và hàng trăm căn cứ mới thành lập tại 80 quốc gia trên thế giới. Các căn cứ nầy có độ lớn đủ cở, như căn cứ Ramstein Air Base ở Đức, Kadena Air Base ở Okinawa (Nhựt) được xem như những căn cứ thuộc loại «Tiểu Hiệp Chủng Quốc» (Little US), hay nhỏ hơn chút ít như căn cứ ở đảo Diego Garcia trên Ấn Độ Dương và biết bao căn cứ từ khổng lồ đến doanh trại ở Phi Châu, Âu Châu. Những căn cứ lớn trang bị tất cả hậu cần từ trường học, nhà thương kể cả sân golf và dĩ nhiên quân sĩ, và vũ khí cần thiết. Nói chung, quân đội Mỹ có mặt ít nhiều (từ vài chục đến vài chục ngàn) tại 160 quốc gia trên thế giới. So với các quốc gia khác có căn cứ quân sự ở ngoài nước như Anh chỉ có 7, Pháp có 5, Nga có 8, Nhựt, Đại Hàn, Ấn Độ, Do Thái, mỗi nước có ít nhứt một căn cứ thì Trung Quốc chỉ có một căn cứ nhỏ sẽ thành lập năm nay ở Djibouti, nơi mà Pháp và Mỹ đã có căn cứ ở đây từ lâu, thì quả tình Trung Quốc sẽ vô cùng khó khăn trong tiếp vận khi có chiến tranh lớn.

So với 30 căn cứ ở ngoài nước của các quốc gia, Mỹ đã chiếm 95% các căn cứ quân sự ở hải ngoại. Đó là một sức mạnh về hậu cần và lực lượng đồng minh vô song không quốc gia nào đạt được. Dĩ nhiên, để duy trì và phát triển các căn cứ như trên, nhứt là từ khi chính phủ Obama bắt đầu chính sách xoay trục, Mỹ phải chấp nhận một chi phí khổng lồ để duy trì một đạo quân 150 000 người ở hải ngoại mà chi phí một quân nhân ở ngoài nước nhiều hơn một quân nhân ở trong nước từ 10 000 đến 40 000 USD. Năm 2014, chi phí cho các căn cứ ở ngoài nước Mỹ là 85 tỉ (tóm lược bài viết trên).

Một vành đai, một con đường

Trung quốc cường quốc cô đơn_html_m3b49d54a

Cũng nằm trong kế hoạch thực và ảo với mục đích tuyên truyền, năm 2013, Trung Quốc lại tung ra kế hoạch Nhất đới, nhất lộ, dịch ra tiếng Việt là «Một vành đai, Một con đường», tiếng Anh là One belt, One road (OBOR, 1B1R) hay còn gọi là Con đường tơ lụa trên biển (MSR = Maritime Silk Road ) và Con đường tơ lụa mới (NSR =New Silk Road ). Con đường tơ lụa trên biển là vành đai «chuổi ngọc trai» nói trên và Con đường tơ lụa mới là một tuyến đường trên bộ gồm các đường bộ, đường sắt có chiều dài tổng cộng 11.000 km, nối liền Trung Quốc với các trung tâm lớn thế giới. Bắc Kinh cam kết sẽ đầu tư hơn 40 tỷ USD dể xây dựng các tuyến đường sắt, đường ống dầu mỏ và khí đốt, các hải cảng và hạ tầng.

Con đường tơ lụa mới là biểu tượng của đại tham vọng Trung Quốc, muốn làm bá chủ hoàn cầu. Trung Quốc muốn tái lập con đường thương mại huyền thoại khi xưa nối liền Trung Quốc với Âu Châu. Trung Quốc muốn thế giới hợp tác với Trung Quốc để phát triển thế giới, nhưng thực sự bắt đầu với miền nội địa Trung Quốc đang còn ở trong tình trạng chậm tiến và bạo loạn. Trong dự án nầy, Kazathstan đóng vai trò quan trọng hàng đầu vì ở vị trí chiến lược giữa Âu-Á, có nhiều mỏ dầu khí, uranium, và là nơi mà Trung Quốc có thể tranh giành ảnh hưởng với Nga, chưa kể dùng nơi đây làm căn cứ để đàn áp dân Tân Cương có khuynh hướng ly khai ra khỏi Trung Quốc. Biết như vậy, Kazathstan đã hạn chế người Trung Quốc di cư đến Kazathstan và vốn đầu tư ởTQ, tìm thêm sự hỗ trợ của Liên Minh Âu Châu và Mỹ để giảm bớt áp lực của Trung Quốc. Kế hoạch «Một vòng đai, một con đường» đã gặp trở ngại ngay lúc bắt đầu. Ngoài ra, phải hiểu rằng thế giới hôm nay không phải chỉ có những sa mạc, những thảo nguyên như thời con đường tơ lụa, con người hôm nay không phải chỉ là những quân sĩ cởi ngựa và những thương nhân chở hàng hóa bằng lạc đà, và các quốc gia hôm nay cũng không phải chỉ là những vương triều cai trị bởi các bạo chúa. Các nhà nghiên cứu cho biết dự án phải cần 50 năm để hoàn thành, và phải cần hàng ngàn tỉ USD để thực hiện. Ai bỏ vốn đầu tư và cách nào phân phối lợi nhuận. Ngay khi Tập Cận Bình tung ra kế hoạch hồi tháng 10 năm 2013, thế giới, đặc biệt Nga và Ấn Độ đã tỏ ra ngờ vực sự khả thi và tham vọng tiềm ẩn của Trung Quốc.

«Theo số liệu của American Enterprise Institute (AEI), khoảng 1/4 số dự án đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc từ năm 2005 đến 2014 tổng cộng 246 tỉ USD đã bị trì hoãn hoặc thất bại. Một nửa trong số các dự án nầy thuộc lãnh vực giao thông, vận tải và năng lượng tương t như các loại dự án trong Một vành đai, một con đường. Giấc mơ Con đường tơ lụa mới sẽ là nỗi thất vọng lớn của Trung Quốc. Cũng có thể là một lường gạt lớn nhất của thế kỷ» (Michael Schuman. China’s New Silk Road Dream in Bloomberg Businessweek Nov.25/2015)

Trung Quốc hay sử dụng sách trắng, sách xanh để tung ra các đại kế hoạch cốt để tuyên truyền, lừa gạt người dân và thế giới. «Một vành đai, một con đường» chỉ là sự lập lại chánh sách ma giáo ấy.

Quan hệ ngoại giao Trung Quốc với thế giới

  1. Trung Quốc tả xung hữu đột ở Biển Đông và Hoa Đông

Biển Đông là tên gọi vùng biển ở phía Đông VN chạy dài từ eo biển Đài Loan ở phía Bắc đến Singapore ở phí Nam bao bọc bởi 9 quốc gia gồm 4 quốc gia cận duyên là Trunq Quốc, VN, Thái Lan, Cambốt và 6 quốc gia quần đảo (pays insulaires) là Đài Loan, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei. Đối với Trung Quốc, biển nầy ở phía Nam nên Trung Quốc gọi là Nam Hải hay biển Hoa Nam (South China Sea= Mer de Chine méridionale). Cần phân biệt với biển Hoa Đông (East China Sea = Mer de Chine orientale) là phần biển ở phía Bắc Đài Loan thông qua Hoàng Hải (Yellow Sea), eo biển Triều Tiên và biển Nhật Bản. Biển Đông cung cấp nhiều hải sản và tiềm năng khổng lồ về dầu khí, nhất là nằm trên trục giao thông hàng hải huyết mạch nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai thế giới (sau eo Ormuz). Biển Đông có nhiều đảo là đối tượng tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng :

  • Trung Quốc và Nam Dương liên quan đến vùng biển quần đảo Natuma.

  • Trung Quốc và Phi Luật Tân về việc khai thác mỏ khí đốt tại hai đảo Malampaya và Camago, về bãi cạn Scaborough. Phi Luật Tân đã đưa vụ tranh chấp ra Tòa án Quốc Tế La Haye với sự ủng hộ của Mỹ, nhiều quốc gia Tây Phương và trong vùng.

  • Trung Quốc và Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa (hiện TQ đã kiểm soát toàn bộ quần đảo) và Trường Sa.Trong năm qua, Trung Quốc đã chở đến 8 triệu m3 đất và nạo vét san hô từ đáy biển để xây đấp đá chữ Thập thành một đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, đã xây một sân bay có phi đạo dài 3 km có thể tiếp nhận phi cơ chiến đấu, kiểm soát một không phận từ Guam đến Ấn Độ Dương. Trung Quốc cũng đang xây dựng một căn cứ trực thăng trên đảo Quang Hòa (Duncan) thuộc quần đảo Trường Sa

  • Trung Quốc và Nhật Bổn về đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Diaoyu Tai), Điều Ngư.

Từ nhiều năm nay, Trung Quốc đã ngang ngược viện dẫn « chủ quyền lịch sử cổ đại» để vẽ ra Đường 9 đoạn (Đường Lưởi bò) và giải thích Công ước quốc tế về Đường Biển theo quan điểm riêng để xâm chiếm các đảo, xâm lấn lãnh hải trong việc đánh cá, khai thác dầu khí và bắt bớ, tịch thu tàu đánh cá của các quốc gia trong vùng với lý do các tàu nầy xâm phạm hải phận Trung Quốc. Gần đây nhất, báo New York Times số ngày 16 tháng 2 năm 2016 có một bài viềt của Michael Forsythe về hành động xâm chiếm và xây đấp các đảo một cách bất hợp pháp của TQ trong quần đảo Trường Sa. Qua không ảnh vệ tinh của hãng ImageSat International cho thấy 2 khẩu đội với 8 giàn phóng hỏa tiển phòng không và một hệ thống radar đã được thiết lập trên đảo Phú Lâm (Woody Island) ngay trong thời gian hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN họp tại California hồi tháng 2/2016. Đó là một hành động khiêu khích cao độ với Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á.

Mặc dù không có quyền lợi trực tiếp ở Biển Đông và Hoa Đông, Mỹ cũng không thể chấp nhận các hành động tả xung hữu đột của Trung Quốc, gây trở ngại cho việc tự do lưu thông hàng hải trong vùng và thế giới. Các tàu chiến, các phi cơ của Mỹ phải qua lại vừa để thăm dò, vừa để cảnh cáo các vi phạm của Trung Quốc. Các nhà bình luận, báo chí trên thế giới đều đồng loạt chỉ trích chánh sách xâm lấn của Trung Quốc.Tại hội nghị thượng đỉnh Diễn Đàn hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) trong năm 2015, Trung Quốc đã bị kết án trực tiếp hay gián tiếp. Ngoài ra, các quốc gia trong vùng đều ký những thỏa ước song phương hay đa phương để bảo vê an ninh lưỡng tương trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công. Ngay cho Việt Nam, một quốc gia cộng sản đồng minh của Trung Quốc cũng ký thỏa hiệp đối tác với Phi Luật Tân, và tương tự như vậy, Nhật, Đại Hàn, Úc, Singapore, thậm chí Nga cũng ký thỏa ước hỗ trợ Phi Luật Tân. Trong năm 2015, và đầu năm 2016, nhiều cuộc tập trận chung giữa các nước Mỹ-Úc-Nhật- Philippines- Ấn Độ nhằm chuẩn bị đối phó với những hành động gây hấn của Trung Quốc. Susan Rice, cố vấn an ninh quốc gia của Mỹ đã tuyên bố với báo Washington Post ngày 14/05/2015 : «Trung Quốc bị cô lập ở khu vực và trên trường quốc tế vì các hành vi hiếu chiến ở Biển Đông». Trừ Miến Điện, Campuchia, các quốc gia trong khối ASEAN đều lạnh nhạt hay thù ghét Trung Quốc. (Miến Điện, Campuchia bỏ phiếu chống quyết định phản đối TQ trong hội nghị 2015)

  1. Trung Quốc cũng bị cô lập với các quốc gia có cùng chung biên giới

Trung quốc cường quốc cô đơn_html_m4df728b7

Nguồn : Chine – Images (Internet)

Trung Quốc có 20 341 km (theo Lasserre) 22 147 km (theo Colin) ranh giới với 14 quốc gia, dài nhất thế giới. Các ranh giới nầy đã được ấn định trong thời gian từ 1858 đến 1945 bởi các đế chế Tây Phương và Nhật Bổn, thời kỳ mà Trung Quốc gọi là «thời kỳ ô nhục». Trừ hai thỏa ước giữa Trung Quốc và Liên Sô ký năm 1689 và 1727, tất cả các thỏa ước hay qui định biên giới với các quốc gia khác đều bị Trung Quốc đòi xét lại dựa vào nhiều yếu tố như địa lý, lịch sử, nhân văn.

Những cuộc tranh chấp lãnh thổ nầy đả tạo ra những cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng dai dẳng từ nửa thế kỷ nay và cũng sẽ không bao giờ chấm dứt với mộng bá quyền Đại Hán của Trung Quốc.


Chiều dài và thỏa ước biên giới giữa Trung Quốc và lân bang

Quốc gia Chiều dài

biên giới (km)

Năm ký

thỏa ước

Năm đóng cọc

phân ranh giới

Nga

-đoạn phía đông

-đoạn phía tây

3 033 1991, 2004

1994

1999, 2008

1999

Mongolie 4 673 1962 1964, 1984
Kazakhstan 1 533 1996, 1998 1997, 2003
Kirghizstan 858 1999, 2002 1999, 2004
Tadjikistan 414 1999, 2002 2010
Afghanistan 80 1963 1965
Pakistan 523 1963 1965
Inde 2 204 1993, 1995, 1996
Népal 1 236 1961 1963
Bhoutan 560 1998
Myanmar (Birmanie) 2 186 1960, 1994 1963
Lào 425 1991, 1994 1993, 1997
Việt Nam 1 282 1999 2008 *
Bắc Hàn (Triều Tiên) 1 334 1962 1964

Nguồn : L’éveil du dragon, p.223

*Năm 2008, VN và TQ đã đóng 1971 cột móc, VN mất 720 km2 so với trước đó, không kể trong vịnh Bắc bộ, VN mất 3200 lãnh hải vuông (11 000 km2). Nói chung, trừ trường hợp Ấn độ chưa ký thỏa ước, tất cả các quốc gia đều bị mất đất sau khi ký thỏa ước với Trung Quốc và số diện tích bị mất so với số diện tích Trung Quốc đòi thay đổi từ 4% (Tadjikistan) đến 50% (VN, Lào), 52% (Nga), 60% (Pakistan). ( La Chine et ses frontières, p. 73)

Trong các quốc gia kể trên, chỉ trừ Pakistan là lân bang duy nhất không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc vì là 2 nước đồng minh đã ký thỏa ước biên giới năm 1963, theo đó Trung Quốc nhượng 1.942 km2 đất cho Pakistan, bù lại Pakistan công nhận nhiều khu vực ở Bắc Kashimir và Ladakh của Ấn Độ thuộc về Trung Quốc. Các quốc gia khác đều có xung đột hay chiến tranh biên giới với Trung Quốc.

  • Nga

Biên giới chung giữa Nga và Trung Quốc kéo dài hơn 3 000 km. Năm 1969, Trung Quốc và Nga tranh chấp vùng đảo Zhenbao (Nga gọi là Damansky) trên sông Usuri và một số đảo khác trên sông sông Amur và Argun. Cùng năm ấy, Trung Quốc có chiến tranh với Tadjikistan vì tranh chấp núi Pamir (giáp Tân Cương), cả hai cuộc tranh chấp nầy khiến tình hữu nghị giữa Trung Quốc và Liên Sô rạn nứt. Đến năm 2005, tranh chấp biên giới Nga-Trung tạm ổn định sau khi Nga lần lượt ký các thỏa thuận nhượng lại các khu vực trên cho Trung Quốc.

  • Mông Cổ


Với một diện tích bao la (1.5 triệu km2) phần lớn là sa mạc và thảo nguyên mà chỉ có 3 triệu dân, nhưng có rất nhiều mỏ khoáng sản, đặc biệt là uranium (1.3 triệu tấn sản lượng), Mông Cổ đã lần lượt lê thuôc Trung Quốc rồi Nga cho đến năm 1992 mới thoát khỏi chế độ cộng sản . Nằm giữa hai đế quốc, Mông Cổ cố giữ sự thăng bằng nhưng thực tế, Trung Quốc áp đảo Mông Cổ về kinh tế lẫn chính trị. Viễn ảnh trở thành một tỉnh của Trung Quốc như Nội Mông làm dân Mông Cổ lo sợ.

  • Triều Tiên (Bắc Hàn)

Là đồng minh cộng sản của Trung Quốc, Triều Tiên chia sẻ với “đàn anh” 1.334 km đường biên giới, chủ yếu bằng 2 con sông Yalu (Áp Lục) và Tumen (Đồ Môn) theo hiệp ước ký năm 1962. Tranh chấp cũng từ 2 con sông này, bao gồm giới tuyến giữa sông, các hòn đảo trên sông và đặc biệt là ngọn núi Paektu cao nhất trong vùng. Paektu được cả người Triều Tiên lẫn Đại Hàn xem là núi thiêng của dân tộc. Tất cả những tranh chấp chưa bao giờ được chính thức đàm phán vì Triều Tiên, tuy là đàn em cùng đảng nhưng có những hành động gây rối phiền phức cho uy tín của Trung Quốc.

  • Các nước Trung Á

Trung Quốc đạt được thắng lợi dễ dàng trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước Trung Á vốn thuộc Liên Sô cũ. Ngoài quyền lợi kinh tế và đất đai, các quốc gia ở Trung Á còn là các địa điểm chiến lược trong kế họach đi về phía Tây theo sách lược Con đường tơ lụa mới và là những căn cứ quân sự để đàn áp các phong trào ly khai của người Ouïgurs ở Tân Cương.

  • Kyrghyzstan

Trung Quốc đòi chủ quyền phần lớn Kyrgyzstan với lý lẽ những vùng đất này bị nhượng lại cho Nga vào thế kỷ 19 theo những thỏa ước thiếu công bằng. Theo thỏa ước ký năm 1999, Kyrgyzstan nhận 40% diện tích tranh chấp, còn Trung Quốc lấy 9 km2 thuộc vùng núi Uzengi-Kush nằm ở phía Nam khu vực Issyk Kul.

  • Kazakhstan

Tranh chấp giữa Trung Quốc và Kazakhstan bắt đầu từ thời Liên Sô, liên quan đến khu vực rộng 680 km2 gần đèo Baimurz và 280 km2 gần sông Sary-Charndy.Thỏa ước ký năm 1998 đem lại cho Trung Quốc 20% diện tích này, bù lại Trung Quốc giúp Kazathstan xây dựng hạ tầng cơ sở, đầu tư vào việc khai thác những mỏ dầu lớn nhất của Kazakhstan và đưa dân Trung Quốc sang làm ăn. Để tránh áp lực quá độ của Trung Quốc, Kazathstan gần đây liên kết với Liên Minh Âu châu và hạn chế di dân Trung Quốc.

  • Tadjikistan

Sau một cuộc xung đột, thỏa ước năm 1999 đem lại cho Trung Quốc một khu vực rộng 1.000 km2 ở núi Pamir. Diện tích này khoảng 4% so với yêu sách của Trung Quốc dựa vào «các bằng chứng lịch sử cổ đại».

  • Afghanistan

Bất chấp hiệp ước song phương năm 1963, Trung Quốc vẫn xâm lấn Afghanistan và đang chiếm tỉnh Bahdakhshan. Bởi lẽ người Taliban ủng hộ người Ouigurs ly khai ở Tân Cương nên Trung Quốc tăng cường đầu tư vào giao thông, thương mại và kinh tế Afghanistan để giúp chính quyền Kabul đối phó với Taliban.

  • Ấn Độ

Điểm nóng tranh chấp lãnh thổ giữa 2 nước là vùng Aksai ChinArunachal Pradesh. Với Aksai Chin, Trung Quốc xem đây là một phần của thị trấn Hòa Đoàn thuộc khu tự trị Tân Cương, còn Ấn Độ xem là vùng đất của quận Ladakh thuộc tiểu bang Jammu và Kashmir. Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép 38.000 km2 tại đây. Aksai Chin ít có tài nguyên và dân cư nhưng lại có vị trí chiến lược bởi nối Tây Tạng với Tân Cương. Với Arunachal Pradesh, Trung Quốc chiếm giữ 90.000 km2 viện dẩn thuộc vùng nam Tây Tạng. Trung Quốc và Ấn Độ đã có một cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu năm 1962 và cho đến nay cả 2 phía đều tiếp tục quân sự hóa vùng tranh chấp.

Tây Tạng cũng là một vấn đề giữa Ấn-Trung bởi lẽ khi Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng để phản đối cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1959, Ấn độ đã cho phép đức Đạt Lai lập tu viện ở Dharamsala trên đất Ấn mà tu viện nầy là biểu tượng của sức đề kháng của dân Tây Tạng

trước sự xâm lăng của Trung Quốc. Tuy Ấn Độ trao đổi thương mại với Trung Quốc, nhưng những hiềm khích xưa vẫn tiềm ẩn chưa kể những « chuổi ngọc trai » của Trung Quốc trên Ấn Độ Dương khiến Ấn Độ lo ngại phải tăng cường lực lượng quân sự và các liên minh (Mỹ, Úc, Nhật) để bảo vệ vị thế của Án Độ trong vùng Ấn Độ Dương .

Alexey Fenenko, chuyên viên về an ninh quốc tế thuộc Institute of International Security Studies of the Russian Academy of Sciences trong một cuộc phỏng vấn đã tuyên bố : « Trung Quốc không hề có một láng giềng tốt nào theo đúng nghĩa của nó, bởi với nước nào Trung Quốc cũng có xung đột lãnh thổ. Vòng từ trái qua phải chúng ta có thể thấy Trung Quốc tranh chấp lần lượt với Ấn Độ, Kyrgyzstan, Kazakhstan, Nga, Nhật, Đài Loan, Philippines và Việt Nam. Rõ ràng khi TQ có vấn đề với tất cả các quốc gia láng giềng, thì Bắc Kinh cần phải xem xét lại chính sách của mình»

Kết luận

Năm 2015, Trung Quốc là cường quốc kinh tế hạng nhì và cường quốc quân sự hạng ba thế giới, Cũng năm nầy, Trung Quốc đứng hạng 83 về tham nhũng trong số 168 quốc gia (Transparency International 2015) và có tên trong danh sách 10 quốc gia có tự do chính trị tồi tệ nhất trong số 195 quốc gia và lãnh thổ (Freedom House 2015). Thật không vẻ vang gì.

Tại Á Châu, Trung Quốc có 3 quốc gia đồng minh là 3 quốc gia bị thế giới điểm mặt về chánh sách tàn bạo và độc tài : Miến Điện, Pakistan và Bắc Hàn. Tại Phi Châu, Trung Quốc cũng có một số quốc gia bạo ngược và cực kỳ tham nhũng được Trung Quốc mua chuộc để Trung Quốc tự do khai thác tài nguyên chở về Trung Quốc và bù lại bỏ phiếu ủng hộ Trung Quốc trong các hội nghị quốc tế. Đó là hiện tượng ngưu tầm ngưu, mã tầm mã mà chúng tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác.

Tuy Trung Quốc có tòa đại sứ hay lãnh sự tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng nhiệm vụ chính yếu là làm gián điệp kinh tế, cấp visa cho du khách đến Trung Quốc và bảo vệ kiều dân bởi lẽ dân Trung Quốc hiện nay di cư kinh tế và xuất khẩu lao động khắp nơi trên thế giới. Chỗ nào có đất là có dân Tàu, phố Tàu . Trung Quốc đang triệt để áp dụng chánh sách tàm thực.

Với một sực mạnh kinh tế và quân sự như vậy, mặc dù Trung Quốc là thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, của G-20 và có mặt trong các diễn đàn quốc tế, nhưng Trung Quốc không đóng góp một cách tích cực và thông minh trong các vấn đề trọng đại về nhân sinh và chính trị trên thế giới. Những hoạt động của Trung Quốc trong các diễn đàn nầy biểu lộ bản chất cố hữu của Trung Quốc, nếu không thụ động, vô trách nhiệm thì cao ngạo, lật lọng và ích kỷ, chỉ biết đến quyền lợi của nước mình mà không cần biết đến thế giới. Trung Quốc thực sự là một cường quốc cô đơn và uy tín của Trung Quốc trên thế giới rất thấp so với Mỹ

Nghiên cứu của Pew Research Center đo lường uy tín của hai cường quốc Mỹ, Trung Quốc xác định nhận định nầy. Trả lời câu hỏi : Do you have a favorable or unfavorable view of the China and the US, sau đây là tỉ lệ trả lời Favorable (Tốt) của các quốc gia trong khối G20 (thiếu Arabie Séoudite và Liên Minh Ấu Châu) và khối Á Châu /Thái Bình Dương.

Ý kiến các quốc gia về hình ảnh của Trung Quốc và Mỹ (% Tốt)

Quồc gia trong G20

TQ

Mỹ

Quốc gia Á Châu/

Thái Bình Dương

TQ

Mỹ

Trung Quốc 96 44 Trung Quốc 96 44
Nga 79 15 Pakistan 82 22
Indonesia 63 62 Indonesia 63 62
Đại Hàn 61 84 Đại Hàn 61 84
Australia 57 63 Australia 57 63
Brazil 55 73 Mã Lai 78 54
Argentina 53 43 Bangla Desh 77 76
South Africa 52 74 Thái Lan 72 73
Pháp 50 73 Phi Luật Tân 54 92
Mexico 47 66 Việt Nam 19 78
Anh 45 65
Ấn Độ 41 70 Ấn Độ 41 70
Ý 40 83
Canada 39 68
Mỹ 38 83
Đức 34 50
Thổ Nhỉ Kỳ 18 29
Nhật 9 68 Nhật 9 68

Source : Opinion of China, the United States/ Pew Research Center- Global Attitudes & Trends, August 2015.

Qua nghiên cứu trên, trong khối G20 chỉ có Nga đánh giá «Tốt» Trung Quốc, 6 quốc gia Indonesia, Đại Hàn, Australia, Brazil, Argentina, South Africa, tuy đánh giá Trung Quốc tốt vừa trên trung bình (63-52%), nhưng đồng thời lại đánh giá Mỹ cao hơn (74-62%). Đối với 12 quốc gia vùng Á Châu-Thái Bình Dương kể cả Trung Quốc, chỉ trừ Pakistan là ngã hoàn toàn theo TQ, Phi Luật Tân ngã hoàn toàn theo Mỹ, các quốc gia khác lưng chừng giữa TQ-Mỹ, Nhật thù nghịch hẳn với Mỹ (tốt 9%). Điều đặc biệt VN là đàn em cộng sản của TQ lại tỏ ra nghiêng về Mỹ nhiều hơn (78%) so với TQ (19%).

Nói tóm lại, xét về kinh tế, Trung Quốc là một cường quốc nửa vời, và xét về quan hệ quốc tế, Trung Quốc là một quốc gia cô đơn. Những khó khăn kinh tế màTrung Quốc đang đối diện và những hành động hung hăng của Trung Quốc đang làm cho Trung Quốc mất đồng minh. Một vành đai sẽ là vành khăn tang và một con đường sẽ là tử lộ.

Lâm Văn Bé – 02/2016

Thư mục chính yếu

  • Pew Research Center .Global Attitudes & Trends. August 2015.

  • Jean-Louis Samaan. La menace chinoise. – Paris : Éditions Vendémiaire, 2012.

  • Sébastien Colin . La Chine et ses frontières. – Paris : Armand Colin, 2011.

  • Peter Navarro. Death by China : confronting the dragon- a global call to action. – Upper Saddie River, NJ. : Printice Hall, 2011

  • Jean-François Susbielle. Chine-USA, la guerre programmée.- Paris : Éditions First, 2006.

  • Frédéric Lasserre. L’éveil du dragon.- Ste-Foy (Québec) : Presses de l’Université du Québec, 2006.

  • Cyrille J.D Javary. La Chine nouvelle. – Paris : Larousse, 2006.

  • US Pacific Command

  • Các báo, trang mạng điện tử liên quan đến đề tài.

    Xin vui lòng ghi lại nguồn Link và phải có sự đồng ý của tác giả khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s