Tôn Nữ Diệu Thu – Cát Tường Quân dịch – TẠI SAO EINSTEIN NỔI TIẾNG? (Why Is Einstein Famous?)

Tác giả: Andrew Robinson 

TAI-SAO-EINSTEIN-NOI-TIENG_html_m7be0bdf1Albert Einstein [1] đã công bố thành tựu lớn nhất của ông, đó là Thuyết tương đối rộng [2] tại Berlin cách đây một thế kỷ, vào ngày 25 tháng 11 năm 1915. Trong nhiều năm, hầu như không có nhà vật lý nào có thể lĩnh hội được thuyết này. Nhưng kể từ những năm 1960, sau nhiều thập kỷ đầy tranh cãi, hầu hết các nhà vũ trụ học đều coi Thuyết tương đối rộng là lời giải thích tốt nhất hiện có, nếu không nói là bản mô tả đầy đủ về quan sát các cấu trúc của vũ trụ, bao gồm cả hố đen.

Tuy nhiên, ngay cả đến ngày nay, hầu như không có ai ngoài các chuyên gia hiểu được thuyết tương đối – không giống như khi nói về thuyết chọn lọc tự nhiên, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, và lưỡng tính sóng – hạt trong thuyết lượng tử.

Vậy tại sao Einstein lại là nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới và được trích dẫn nhiều nhất (kể cả trích dẫn sai) – vượt xa hơn cả Isaac Newton [3] hay Stephen Hawking [4] – như một tấm gương điển hình về thiên tài?

Danh tiếng của Einstein thực sự khó hiểu. Khi ông đưa ra các bài giảng về thuyết tương đối rộng tại Đại học Oxford vào năm 1931, khán giả trong giới học thuật ngồi chật kín hội trường, để rồi như gục ngã và rối trí trước các bài toán và tiếng Đức của ông, hội trường chỉ còn lại một nhóm nhỏ các chuyên gia. Rồi sau đó, một người lao công đã lau sạch các phương trình toán học ông viết trên bảng đen (may mắn thay còn một tấm bảng đen đã được lưu lại và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Khoa học của Đại học Oxford).

Tuy nhiên, khi Einstein và vợ ông xuất hiện với tư cách là những vị khách quý của Charlie Chaplin [5] vào năm 1931 tại buổi chiếu ra mắt bộ phim “City Lights” (“Ánh đèn thành phố”) của hãng phim Chaplin ở Los Angeles, họ đã phải vất vả đi xuyên qua các đám đông hò reo và níu kéo điên cuồng (mà cảnh sát trước đó đã phải đe dọa sử dụng hơi cay). Toàn bộ rạp chiếu phim nhuốm màu hồng danh dự của họ. Einstein hơi bối rối hỏi ông chủ rạp hát về tất cả những điều đó có nghĩa là gì. Chaplin hài hước nói “Họ cổ vũ tôi vì tất cả họ đều hiểu tôi, và họ cổ vũ cho ông bởi vì không ai hiểu nổi ông”.

Trong những năm 1940, Einstein đã chia sẻ với người viết tiểu sử rằng: “Tôi không thể nào hiểu được tại sao thuyết tương đối với các khái niệm và các luận đề của nó cho đến nay đã tách rời khỏi cuộc sống thực tế vậy mà bấy lâu nay vẫn nhận được sự hớn hở, hoặc quá nồng nhiệt, vang dội trong phạm vi rộng lớn của công chúng… Tôi chưa bao giờ nghe được một câu trả lời thật sự thuyết phục cho câu hỏi này”. Nói chuyện với một phóng viên trên tờ New York Times, ông thành thật nhận xét: “Tại sao không ai hiểu nổi tôi, ấy vậy mà tất cả mọi người đều yêu thích tôi?”

Chắc chắn rằng một phần lý do cho sự nổi tiếng của Einstein là vì thành tựu đầu tiên nổi tiếng nhất của ông vào năm 1905 về Thuyết tương đối hẹp [6] dường như đã xuất hiện một cách hoàn toàn bất ngờ, mà ông không có bất kỳ thành tựu nào trước đó. Cũng giống như Newton [7] (nhưng khác với Charles Darwin), ông đã không thể hiện bất cứ sự xuất chúng nào trong gia đình của mình. Đáng chú ý là ông cũng không xuất sắc trong học hành (không giống như Marie Curie [8]); trên thực tế, ông đã không kiếm được việc tại một trường đại học sau khi tốt nghiệp. Ông không phải là một thành viên của viện khoa học, và chủ yếu là ông làm việc một mình. Năm 1905, ông đã chật vật trong vai trò chỉ là một thư ký cấp bằng sáng chế với một đứa con mới chào đời. Cho dù bất kể chúng ta có nắm bắt được thuyết tương đối hay không thì sự bộc phát hiển nhiên đầy bất ngờ trong tố chất thiên tài của ông đã khiến mọi người không khỏi ngạc nhiên.

TAI-SAO-EINSTEIN-NOI-TIENG_html_m288faab8

Một lý do nữa cho sự nổi tiếng của Einstein là ông đã hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác xa với vật lý, đặc biệt là chính trị và tôn giáo, trong đó có Zionism (Chủ nghĩa phục quốc Do Thái) [9]. Ông nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này do sự phản đối công khai với phát xít Đức từ năm 1933, bí mật ủng hộ cho việc chế tạo bom nguyên tử vào năm 1939, và chỉ trích công khai quả bom hydro [10] và chủ nghĩa McCarthy [11] năm 1950 (Cục Điều tra Liên bang (FBI) dưới thời J. Edgar Hoover đã ngay lập tức mở một cuộc điều tra bí mật về Einstein). Năm 1952, ông được mời giữ chức tổng thống của Israel.

TAI-SAO-EINSTEIN-NOI-TIENG_html_2a6fe28Rõ ràng, cuộc đời đầy sóng gió về sau của Einstein và lập trường can đảm của ông đã mê hoặc nhiều người, những ai đang bị kinh ngạc bởi thuyết tương đối rộng. Theo Bertrand Russell: “Einstein không chỉ là một nhà khoa học vĩ đại, ông còn là một người đàn ông tuyệt vời.” Jacob Bronowski cho rằng “Newton là Chúa Cựu Ước [12], còn Einstein là tượng trưng của vị Chúa Tân Ước [13]… đầy tính nhân văn, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm rất lớn.”

Arthur C. Clarke [14] tin rằng chính “sự kết hợp độc đáo của yếu tố thiên tài, nhân văn, con người chuộng hòa bình, và là con người lập dị ở Einstein” đã “khiến ông trở nên gần gũi và thậm chí đáng yêu đối với hàng chục triệu người”. Richard Dawkins [15] tự nhận mình “không xứng đáng để buộc dây cho đôi giày không có tất của Einstein… Tôi sẵn sàng chia sẻ tinh thần vô thần tuyệt diệu của ông ấy.”

Một sự kết hợp giữa tài năng ẩn dật, sự chính trực cá nhân, và tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng là điều hiếm thấy trong giới trí thức. Thêm vào đó là cuộc đời của Einstein có khiếu ăn nói dí dỏm khi giao thiệp với báo chí và công chúng, sự nổi tiếng đến kỳ lạ và lâu dài của ông không còn gì để có vẻ khó hiểu nữa.

Rốt cuộc, có ai không bị quyến rũ bởi bản tóm tắt nổi tiếng về Thuyết tương đối của ông: “Một giờ ngồi với một cô gái xinh đẹp trên ghế đá công viên trôi qua như một phút, nhưng một phút ngồi trên bếp lò nóng thì lại giống như một giờ.” Và còn có câu nói của ông mà tôi yêu thích: “Nếu trừng phạt tôi vì sự coi thường uy quyền, thì Fate (Thần Hộ Mệnh) [16] đã biến bản thân tôi trở thành một thứ uy quyền.”

TAI-SAO-EINSTEIN-NOI-TIENG_html_m1e88e82aNguồn tiếng Anh:

http://www.project-syndicate.org/commentary/many-reasons-for-einstein-fame-by-andrew-robinson-1-2015-11

Andrew Robinson là tác giả của cuốn Einstein: A Hundred Years of Relativity” (“Einstein: Một trăm năm của Thuyết tương đối”) và cuốn Genius: A Very Short Introduction” (“Thiên tài: Giới thiệu ngắn gọn”).

Ghi chú thêm của người dịch:

[1]: Albert Einstein (14/03/1879 – 18/04/1955) là nhà vật lý lý thuyết người Đức, người đã phát triển Thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột kia là cơ học lượng tử).

Einstein đã công bố hơn 300 bài báo khoa học và hơn 150 bài viết về những chủ đề khác nhau, ông nhận được nhiều bằng tiến sĩ danh dự trong khoa học, y học và triết học từ nhiều cơ sở giáo dục đại học ở châu Âu và Bắc Mỹ. Ông được tạp chí Times gọi là “Con người của thế kỷ”. Những thành tựu tri thức lớn lao của ông đã khiến tên gọi “Einstein” trở nên đồng nghĩa với từ “Thiên tài”.

[2]: Thuyết tương đối rộng hay Thuyết tương đối tổng quát (GR) (Tiếng Anh: General relativity hay The general theory of relativity) là lý thuyết hình học của lực hấp dẫn do nhà vật lý Albert Einstein công bố vào năm 1916 và hiện tại được coi là lý thuyết miêu tả hấp dẫn thành công của vật lý hiện đại.

[3]: Isaac Newton là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học, nhà toán học, nhà thần học và nhà giả kim người Anh, được nhiều người cho rằng là nhà khoa học vĩ đại và có tầm ảnh hưởng lớn nhất. Theo lịch Julius, ông sinh ngày 25/12/1642 và mất ngày 20/03/1727; theo lịch Gregory, ông sinh ngày04/01/1643 và mất ngày31/03/1727.

[4]: Stephen William Hawking sinh ngày 08/01/1942 tại Oxford, Anh quốc. Ông là một nhà vật lý lý thuyết, vũ trụ học, tác giả viết sách khoa học thường thức, hiện là Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm Vũ trụ học lý thuyết thuộc Đại học Cambridge. Trong số những công trình khoa học quan trọng của ông, nổi bật nhất là sự hợp tác với Roger Penrose về lý thuyết kỳ thị hấp dẫn trong khuôn khổ Thuyết tương đối tổng quát, và tiên đoán lý thuyết hố đen phát ra bức xạ (tức bức xạ Hawking). Hawking là người đầu tiên khởi đầu một nền vũ trụ học dựa trên sự thống nhất giữa Thuyết tương đối tổng quát và cơ học lượng tử. Ông là người ủng hộ mạnh mẽ cách diễn giải đa vũ trụ về cơ học lượng tử.

[5]: Charles Spencer Chaplin (16/04/1889 – 25/12/1977), thường được biết đến với tên Charlie Chaplin (hay Vua hề Sác-lô) là một diễn viên, đạo diễn phim hài người Anh trở nên nổi tiếng trong kỷ nguyên phim câm.

[6]: Thuyết tương đối hẹp hay Thuyết tương đối đặc biệt (Tiếng Anh: Special relativity hay The special theory of relativity) là thuyết vật lý được chấp nhận về mối quan hệ giữa không gian và thời gian. Nó được dựa trên hai định đề: (1) các định luật vật lý là bất biến (giống hệt nhau) trong tất cả các hệ thống quán tính (không tăng tốc hệ quy chiếu); và (2) tốc độ của ánh sáng trong chân không là như nhau cho tất cả các người quan sát, không phụ thuộc vào chuyển động của nguồn ánh sáng.

Thuyết này do Albert Einstein đề xuất vào năm 1905 trong báo cáo “Về điện động học của các vật di chuyển”.

[7]: Isaac Newton sinh ra tại Anh vào ngày 25/12/1642 (04/01/1643 theo lịch mới). Ông chưa một lần nhìn thấy mặt cha, do cha ông mất trước khi ông sinh ra không lâu. Sống không hạnh phúc với cha dượng từ nhỏ, Newton bắt đầu những năm học phổ thông trầm uất, xa nhà và bị gián đoạn bởi các biến cố gia đình. May mắn là do không có khả năng điều hành tài chính trong vai anh cả sau khi cha dượng mất, ông tiếp tục được cho học đại học sau phổ thông vào năm 1661, sử dụng học bổng của trường với điều kiện phải phục dịch các học sinh đóng học phí.

Mục tiêu ban đầu của Newton tại Đại học Cambridge là tấm bằng luật sư với chương trình nặng về triết học của Aristotle, nhưng ông nhanh chóng bị cuốn hút bởi toán học, thiên văn học và cả quang học. Tuy nhiên, đa phần kiến thức toán học cao cấp nhất thời bấy giờ, Newton tiếp cận được là nhờ đọc thêm sách. Tài năng toán học của ông nhanh chóng được hiệu trưởng của Cambridge nhận ra. Ông được nhận làm giảng viên của trường năm 1607, bắt đầu nghiên cứu và giảng về quang học. Newton được bầu vào Hội Khoa học Hoàng gia Anh năm 1672 và bắt đầu vấp phải các phản bác từ Huygens và Hooke về lý thuyết hạt ánh sáng của ông. Lý thuyết về màu sắc ánh sáng của ông cũng bị một tác giả phản bác và cuộc tranh cãi đã dẫn đến suy sụp tinh thần cho Newton vào năm 1678. Năm 1679 Newton và Hooke tham gia vào một cuộc tranh luận mới về quỹ đạo của thiên thể trong trọng trường. Năm 1684, Halley thuyết phục được Newton xuất bản các tính toán sau cuộc tranh luận này trong quyển Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các nguyên lý của triết lý về tự nhiên). Quyển sách đã mang lại cho Newton tiếng tăm vượt ra ngoài nước Anh, đến châu Âu.

Năm 1693, sau nhiều năm làm thí nghiệm hoá học thất bại và sức khoẻ suy sụp nghiêm trọng, Newton từ bỏ khoa học, rời Cambridge để về nhận chức trong chính quyền tại Luân Đôn. Newton tích cực tham gia hoạt động chính trị và trở nên giàu có nhờ bổng lộc nhà nước. Năm 1703 Newton được bầu làm chủ tịch Hội Khoa học Hoàng gia Anh và giữ chức vụ đó trong suốt phần còn lại của cuộc đời ông. Ông được Nữ hoàng phong bá tước năm 1705. Ông mất ngày 31/03/1727 tại Luân Đôn.

[8]: Marie Skłodowska-Curie (07/11/1867 – 04/07/1934) là con út trong số 5 người con của hai giáo viên nổi tiếng Bronisława và Władysław Skłodowski. Marie biết đọc lúc chỉ có 4 tuổi, lúc nào cũng đứng đầu lớp và có rất nhiều thành tích xuất sắc và học giỏi nhiều môn. Nhưng Marie chẳng thấy vui vì, thời đó, người Ba Lan bị cấm đọc, viết tiếng Ba Lan và phải tuân thủ theo các luật lệ của Nga. Hơn nữa, bố của Marie bị đuổi việc, gia đình phải chuyển đến một khu tập thể. Chị cả của Marie qua đời vì bệnh thương hàn. Sau đó, mẹ của Marie cũng qua đời vì bệnh phổi, năm Marie 11 tuổi. Marie cố gắng học thật tốt, nhiều lúc, Marie còn quên cả ăn, cả ngủ. Ít lâu sau, Marie đỗ thủ khoa, nhưng do không có tiền, Marie phải đi làm gia sư để có tiền đi học. Khi làm gia sư cô đã từng có người yêu, nhưng do hoàn cảnh nên tình yêu đã không đến với cô. Cô đã bỏ lại tất cả để chị gái thứ ba được vào Đại học Y ở Paris.

Marie tiếp tục đi kiếm tiền và cuối cùng cũng đến Paris như mong ước của mình. Ở đó, cô học rất nhiều môn ở trường Sorbonne, và cô cũng mượn rất nhiều sách từ thư viện để học thâu đêm. Do học nhiều, Marie bị suy nhược thần kinh một năm. Thời đó, phụ nữ luôn bị coi thường cho nên Marie cố gắng học nhiều. Và thành công đã đến với cô: Marie đỗ đầu trường Sorbonne và trở thành cử nhân. Marie đã gặp gỡ Pierre Curie, một nhà khoa học thiên tài. Tuy nhiên, Pierre cũng có quan điểm là phụ nữ không thể trở thành nhà khoa học. Nhưng sau một thời gian, Pierre đã nhận ra, ai cũng có thể trở thành nhà khoa học. Sau đó, Marie chấp thuận lời cầu hôn của Pierre và đổi tên mình thành Marie Curie.

Marie Curie là một nhà vật lý và hóa học, nổi tiếng về việc nghiên cứu tiên phong về tính phóng xạ. Bà cũng là người đầu tiên vinh dự nhận được hai Giải Nobel trong hai lĩnh vực khác nhau, vật lý và hóa học. Marie Curie là giảng viên đại học nữ đầu tiên tại Đại học Paris (Sorbonne). Vào năm 1995 thi thể của bà được mai táng tại điện Panthéon ở Paris vì những đóng góp to lớn cho nhân loại.

[9]: Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zionism) là một hình thức của chủ nghĩa dân tộc của người Do Thái và văn hóa Do Thái ủng hộ một nhà nước quốc gia Do Thái trong lãnh thổ được xác định là vùng đất Israel. Chủ nghĩa này ủng hộ người Do Thái phát huy bản sắc Do Thái của họ và chống lại sự đồng hóa người Do Thái vào các xã hội khác và đã ủng hộ việc trở lại của người Do Thái Israel như là cách cho người Do Thái được giải thoát khỏi sự phân biệt đối xử chống người Do Thái, trục xuất và bức hại đã xảy ra trong các xã hội khác.

[10]: Các loại vũ khí cao cấp lấy năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). Trong loại vũ khí này, bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén đầu mang tritium, deuterium, hoặc liti, từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí, còn gọi là bom hydro, bom H hay bom nhiệt hạch. Nó có thể giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng ngàn lần so với bom nguyên tử.

 [11]: Thuật ngữ Chủ nghĩa McCarthy ra đời năm 1950 liên quan đến chủ trương của McCarthy (một chính trị gia người Mỹ, Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa bang Wisconsin) đã sớm được áp dụng cho những hoạt động chống Cộng. Ngày nay, thuật ngữ này được dùng theo nghĩa rộng hơn liên quan đến những lời buộc tội mị dân, thiếu suy nghĩ và vô căn cứ, cũng như công kích công khai nhằm vào tính cách hoặc lòng yêu nước của các đối thủ chính trị.

[12]: Thuật ngữ “Cựu Ước”, dịch từ tiếng Latinh Vetus Testamentum, có nguyên ngữ Hi văn Hê Palaia Diathêkê (Η Παλαιά Διαθήκη) nghĩa là “Giao ước (hoặc lời chứng) cũ”. Kitô hữu gọi là Cựu Ước vì họ tin rằng nay đã có một giao ước mới được thiết lập giữa Thiên Chúa và loài người, sau khi Giêsu người Nazareth đến thế gian. 

[13]: Tân Ước, còn gọi là Tân Ước Hi văn hoặc Kinh Thánh Hi văn, là phần cuối của Kinh Thánh Kitô giáo, được viết bằng tiếng Hy Lạp bởi nhiều tác giả vô danh trong khoảng từ sau năm 45 sau công nguyên tới trước năm 140 sau công nguyên (sau Cựu Ước). Từ này được dịch từ tiếng Latinh Novum Testamentum, nguyên ngữ Hi văn Kainē Diathēkē (Καινή Διαθήκη), nghĩa là “Giao ước mới”. Thuật ngữ “Tân Ước” lúc đầu được Kitô hữu dùng để miêu tả mối tương giao giữa họ và Thiên Chúa, về sau được dùng để chỉ một tuyển tập gồm 27 sách.

 [14]: Arthur C. Clarke (16/12/1917 – 19/03/2008) là nhà văn khoa học viễn tưởng, nhà văn khoa học, nhà thám hiểm đại dương, người dẫn chương trình truyền hình và nhà phát minh người Anh.

 [15]: Clinton Richard Dawkins (sinh ngày 26/03/1941) là một nhà phong tục học và sinh học tiến hóa người Anh. Ông là nghiên cứu sinh danh dự của trường New College, Oxford, và là giáo sư ngành Nhận thức chung về khoa học tại Đại học Oxford từ năm 1995 sẽ đến năm 2008. Dawkins là người vô thần và là người theo chủ nghĩa nhân văn, là phó chủ tịch của Hiệp hội Nhân văn Anh.

 [16]: The Fates: Ba vị Thần Mệnh – theo thần thoại Hy Lạp La Mã

Nguồn tham khảo:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Albert_Einstein

https://vi.wikipedia.org/wiki/Isaac_Newton

https://vi.wikipedia.org/wiki/Stephen_Hawking

https://vi.wikipedia.org/wiki/Charlie_Chaplin

https://vi.wikipedia.org/wiki/Thuyết_tương_đối_hẹp

https://vi.wikipedia.org/wiki/Marie_Curie

https://vi.wikipedia.org/wiki/Chủ_nghĩa_phục_quốc_Do_Thái

https://vi.wikipedia.org/wiki/Vũ_khí_hạt_nhân

https://vi.wikipedia.org/wiki/Joseph_McCarthy

https://vi.wikipedia.org/wiki/Cựu_Ước

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tân_Ước

https://vi.wikipedia.org/wiki/Arthur_C._Clarke

https://vi.wikipedia.org/wiki/Richard_Dawkins

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link và phải có sự đồng ý của tác giả khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s