BS Hồ Đắc Duy – CUỒNG LA ĐẠI NHÂN Hồ đắc Thứ (1909-1952)

CUỒNG LA ĐAI NHÂN (ready)_html_m1b598e85

THỨ NGUYÊN HỒ ĐẮC THỨ

Ông là con út của quan Thượng thư Bộ Học kiêm Tổng tài Quốc Sử Quán Hồ Đắc Trung dưới triều vua Duy Tân-Khải Định, là em kế của Sư Bà Diệu Không.  Ông sinh năm 1909 tại Huế, là con trai út thứ mười.

Cha tôi tên là Hồ Đắc Thứ, hiệu Thứ Nguyên. Lúc nhỏ ông được học chữ Hán với cha và chữ Pháp với các anh chị trong nhà. Đến năm 1919 tức là 3 năm sau biến cố vua Duy Tân khởi nghĩa (1916), cha tôi vào học lớp Nhất trường Quốc Học, người ngồi cùng bàn với cha tôi là cụ Nguyễn Hữu Trung (bố đẻ của bà Ái Diên), ông ấy cũng là người bạn thân thiết với cha tôi thuở thiếu thời.

Trước chuyến công du của vua Khải Định sang Pháp một năm, cha tôi được ông bà nội tôi gởi sang du học tại Pháp cùng với 4 anh là ông Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Liên và Hồ Đắc Ân. Ông tốt nghiệp Baccalaureat tại Pháp và tiếp tục học lên tại trường Đại học danh tiếng ở Paris mà các người anh của ông đang theo học.

Đươc cha và các anh hướng nghiệp để theo học Khoa Tài chính Ngân hàng, một ngành mới, thời thượng đang hấp dẫn sinh viên thời bấy giờ, trong trường ông là người VN duy nhất, vốn là một học sinh xuất sắc xuất thân từ trường trung học Condorcet. Trường Condorcet là một trường nổi tiếng của thủ đô nước Pháp, tọa lạc trên đường Le Havre giữa đại lộ Haussmann và nhà ga Saint Lazare ở Paris.

Sau khi thi trúng tuyển vào Đại học Paris năm 1931, ông được hưởng mọi ưu đãi về học bổng. Đai học này bây giờ người ta còn gọi là ĐH Sorbonne; năm 1886 nó mang tên Nouvelle université de Paris gồm có các phân khoa Khoa Học, Luật, Y Khoa, Dược Khoa, Triết Học… với tổng số sinh viên vào năm 1914 là 17308, tăng trên 44000 sinh viên năm 1925.

Mùa hè năm 1934 sau khi vượt qua được kỳ thi lên năm thứ 3, vào thời gian mà GS Paul Appell làm Viện trưởng, cha tôi lâm vào một trọng bệnh mà ngay cả anh của ông là BS Hồ Đắc Di đang làm việc trong một bệnh viện nổi tiếng ở Paris cùng với các thầy của ông Di cũng không thể nào cứu giúp em mình ra khỏi cơn nguy kịch của căn bệnh Viral Encephalitis hiểm nghèo, với các biến chứng trầm trọng do phù não gây nên các di chứng nặng nề như suy giảm khả năng học tập, mất trí nhớ, mất khả năng kiểm soát vận động cơ, động kinh… Sau 6 tháng điều trị, bệnh dù khỏi hẳn nhưng vẫn còn để lại những di chứng nặng nề, ông được chuyển sang một trung tâm điều dưỡng ở ngoại ô Paris theo dõi và điều trị tiếp.

Môt năm sau (1935) Hội đồng Giám định Y Khoa Pháp thông báo cho anh trai của ông là BS Hồ Đắc Di biết và khuyến cáo nên đưa ông trở về VN để được sống và chăm sóc trong môi trường gia đình thì việc điều trị sức khỏe và tâm lý sẽ tốt hơn, mau hồi phục hơn.

Theo lời khuyên của các giáo sư bác sĩ người Pháp, cụ Hồ Đắc Trung đã gởi một người bõ già tên là cụ Quyền sang Pháp đưa ông về lại VN.

Hai tháng lênh đênh từ thành phố biển Toulouse về lại VN sau hơn 10 năm xa quê hương, xa cha mẹ và gia đinh, cha tôi hơi ngỡ ngàng trước sự thay da đổi thịt của kinh thành Huế. Cha tôi lại đươc sống bên cạnh ông bà nội tôi như thuở còn đi học ở trường Quốc Học Huế. Lúc đó ông nội tôi ngoài 60, cha tôi vào khoảng 24- 25 tuổi. Ông nội tôi là một nhà nho rất uyên bác và cẩn trọng; ông từng làm thầy dạy đức Vua Duy Tân, từng giữ chức vụ Tổng Tài Quốc Sử Quán kiêm cả Thượng Thư Bộ Học và là một trong thành viên của Tứ Trụ Triều Đình Huế thời vua Khải Định.
Năm 1922 theo chỉ dụ của hoàng đế Khải Định: « Thượng thư Hồ Đắc Trung và bộ Học trích các phần quan yếu trong bộ Quốc Triều Chính Biên bằng chữ Hán dịch ra chữ Quốc ngữ, ấn hành để ban cấp cho các trường học dưới nhan đề là Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu ».

Trong suốt gần 20 năm cha tôi được sống bên cạnh cha mẹ mình, ông được cha mình truyền thụ cho những kiến thức về lịch sử, văn học, thơ ca, Nho giáo, Phật giáo, triết học Đông phương, nhất là đạo Hiếu, cái dũng khí cùa kẻ sĩ trong thời tao loạn…kể cả các tuồng chèo, hát bội trong suốt nhiều năm, cho đến khi ông nội tôi qua đời vào năm 1941.

Năm 1937 cha tôi thành hôn với mạ tôi cũng là lúc mà mầm mống đệ nhị thế chiến lần thứ 2 xảy ra. Mạ tôi là con gái đầu của quan Ngũ đẳng Thị vệ Lê Thế Thưởng, con trai út của công chúa Thuận Thực. Ông người làng Phú Lương, là viên quan hầu cận bên vua Duy Tân từ khi Duy Tân lên ngôi cho đến khi ngài bị quân Pháp bắt, ông ngoại tôi bị chính quyền bảo hộ Pháp tại Huế đày lên nhà tù Lao Bảo, mấy năm sau thì ông mất vì không chịu nổi sự giam cầm dã man khắc nghiệt của quân thù.

Mạ tôi sinh năm 1908, có 2 em gái và một em trai. Tuy là con gái một quan võ tướng nhưng rất thùy mị, đoan trang, đẹp người lẫn đẹp nết, là hoa khôi một thời « đã làm cho trái tim của các chàng trai thời ấy rung động », lời của một người bạn gái thân thiết của mạ tôi kể lại; bà bạn đó là thân mẫu của chị Hỷ Khương (phu nhân của cụ Ưng Bình Thúc Gia Thị).

Mạ tôi về làm dâu nhà quan Đại thần Hồ Đắc Trung là một niềm vui bất ngờ cho nhà họ ngoại, bởi vì sau khi ông ngoại tôi hy sinh trong nhà tù Lao Bảo ở Quảng Trị thì mấy chị em của mạ tôi được bác Lê Thế Đàng (Lê Đình Đàng) cưu mang đem về nuôi nấng ngay trong Thành Nội. Ông bác Đàng và ông ngoại tôi đều là con trai của phò mã Lê Ngô và công chúa Thuận Thực; ông bác Đàng là phụ thân của ông Lê Đình Phu, sau này là Tổng Giám thị trường Nguyễn Tri Phương.

Cha mạ tôi được ông bà nội dành cho một căn phòng rất rộng, bày trí sang trọng với đèn pha lê ba tầng của Ý ốp trần sáng choang, khung cửa sổ bằng đồng với những hoa văn tinh xảo, rèm rua, rèm cửa đều bằng chất liệu lụa cao cấp màu hồng. Tất cả được thiết kế bày trí như một căn phòng của hoàng hậu thu nhỏ trong cung điện Versailles, từ căn phòng dành cho cha mẹ tôi ăn thông với phòng khách và phòng ông bà nội tôi, qua một dãy hành lang trang trang trí lộng lẫy từ các cột, sàn nhà cho đến trần nhà do các tay thợ thủ công điêu luyện thực hiện. Căn biệt thư lộng lẫy dài 82m5 nằm chính giữa khu đất rộng lớn, mặt tiền số 2 đường Lê Lợi phía Bắc, kéo dài từ cầu ga cho đến cuối đường Nguyễn Huệ, phía Nam đến chân cầu Nam Giao, phía tây là bờ đông sông An Cựu và bây giờ là khuôn viên của cư xá Đại Học, nay là khách sạn xanh.

Dọc suốt theo hành lang của tòa biệt thự có 8 cửa sổ và một khung cửa chính và 2 cửa hông cuối hành lang, tất cả các cửa đều bằng gỗ lim với những nét chạm trổ, hoa văn như mai lan cúc trúc, xuân hạ thu đông, ngư tiều canh mục… hành lang rộng 4m, biệt thự xây bằng đá granite màu trắng xám mắt rồng. Nội thất phòng ngủ bằng đá granite màu hồng… Căn biệt thự gồm có 12 phòng chính và một dãy nhà dành riêng cho gia nhân phía sau. Chung quanh biệt thự có lối dành cho xe, có một bến sông dài 10 mét trên sông An Cựu, có vườn hoa phía trước, có hòn non bộ, có bình phong, có khóm trúc vàng, có ao nuôi cá… Phía sau biệt thự có một vườn rau; đây là niềm vui nhất và đam mê nhất của ông nội tôi mỗi ngày. Chuyện kể là ông tôi sau khi tình cờ đọc được bài Dữ Dã Viên ký của hoàng đế Tự Đức, ông nội tôi muốn mình cũng có một vườn rau như vị vua thi sĩ tài hoa và uyên bác như ngài. Ông nội tôi là cháu nội của ngài Ngự y Hồ Đắc Hóa thời vua Gia Long, Minh Mạng; bà nội ông tôi là con gái ngài Diên Khánh vương…

Từ khi cha tôi từ Pháp về, ông tôi cho xây thêm một thư phòng hình bát giác có hành lang thông với biệt thự bên hồ cá làm nơi đọc sách, nghiên cứu và cũng là nơi ông tôi dạy cho cha tôi trong nhiều năm sau đó.

Năm 1939 mạ tôi sinh con gái đầu lòng nhưng tiếc thay là chị tôi vắn số, chết sau mấy ngày chào đời; sự mất mát đó đã gây ra một nỗi đau khôn cùng không riêng cho cha mạ tôi mà ngay cả ông bà nội. Để giải khuây cho mạ tôi, cha tôi quyết định dạy cho mạ tôi học chữ. Là một người có tư chất thông minh nhanh nhạy, chỉ hơn 2 năm sau là mạ tôi đọc được truyện, viết thư, làm toán thành thạo.Ccha tôi rất hào hứng khi thấy mạ tôi tiến bộ vượt bực như vậy trong việc học tập.

Từ những năm 1939-1945, thời gian mà trận Thế chiến thứ 2 đang xảy ra khốc liệt ở châu Âu, Đế quốc Pháp đang nao núng sa lầy lún sâu vào cuộc chiến tranh giữa Đồng minh và phe Trục cho nên tình trạng áp bức hà khắc ở các thuộc địa của Pháp như ở Phi Châu và Đông Dương cũng nhẹ bớt. Chính phủ thuộc địa bắt đầu có chính sách ve vãn dân bản xứ và nới rộng một số quyền chính trị cho họ.

Năm 1940 là năm ông nội tròn tuổi 80, các con, cháu nội ngoại tổ chức buổi lễ Thượng Thọ chúc mừng ngày sinh nhật của ông tôi. Tất cả các bác, các cô, con cháu, bà con nội ngoại và cả anh chị em của bà nội tôi đều tựu đông đủ, khách mời có các vị quan lại đồng triều, đồng môn với ông tôi. Ông bà nội tôi rất vui trong buổi lễ hôm đó; ông tôi ứng khẩu đọc một bài thơ thất ngôn bát cú mà mạ tôi đã chép lại như sau :

Ông nội đã tự vịnh

gia đình mình

Chồng vợ nay đã đặng tám mươi,

Mười con: bốn gái sáu con trai,

Trai đầu khoa bảng quan nhì phẩm,

Gái thứ Cung Phi Đệ Nhất Giai

Ba gái gả nơi sang quý cả,

Năm trai đều đậu đại khoa rồi.

Một nhà hiếu đạo đều đầy đủ,

Trung phần đây biết đố nhà ai ?

Cha tôi cũng ứng khẩu họa lại nguyên 8 vận

của bài tự vịnh của ông

(một kiểu họa thơ rất khó)

Kinh đô ai cũng biết mười mươi

Nhà cụ Đại thần có sáu trai

Ông Khải, trưởng nam: hàm nhị phẩm

Bà Phi, gái thứ: nhất ân giai

Con cái nhiều người thành đạt cả

Tử tôn lắm kẻ vững danh rồi

Nếp nhà thanh bạch xem ra đủ

Nghĩa khí trung thần chẳng kém ai

Ông tôi khen cha tôi giỏi, ứng đối thơ văn chững chạc.

Qua năm sau thì ông nội tôi qua đời, rồi tiếp đến là bà tôi cũng mất khi anh tôi mới 3 tháng tuổi vào năm 1942.

Ông bà nội tôi qua đời là nỗi đau lớn không riêng cho cha mạ tôi mà cho các bác, các cô, các anh em ruột thịt với ông tôi, các bà con trong họ tộc.

Tin tức chiến tranh càng ngày càng dồn dập đến các thành phố lớn ở nước ta như Saigon, Hà Nội, Huế. Các phong trào, các đảng phái yêu nước chống thực dân Pháp càng ngày càng thắng thế. Cha mạ tôi rời khỏi ngôi biệt thự chuyển về ở Nam Phổ. Tháng 3 năm đó mạ tôi sanh ra tôi ở khoa sản bệnh viện Trung Ương Huế. Khi tôi đầy một tuổi thì chuyển lên ở một biệt thự của bác tôi là quan Thượng thư bộ Hộ Hồ Đắc Khải trên đồi Dương Xuân, cách thành phố Huế 5km. Khu đất rộng hơn 22 mẫu này là của chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát tặng cho gia đình Hầu tước Hồ Đắc Nghi dưới thời vua Lê-Hiển Tông, niên hiệu Cảnh-Hưng thứ 18 là tổ 5 đời của thượng thư Hồ Đắc Khải.

Đồi Dương Xuân nằm phía đông của đồi Thiên An khoảng cách theo đường chim bay 2km5. Ngôi biệt thự được xây cất trên đỉnh ngọn đồi, mặt quay về hướng bắc, phía tây là đồi và nhà thờ Thiên An, biệt thự có 25 phòng quây quanh hình lòng chảo, đường kính 100m. Phòng khách rất rộng có thể biến thành sân khấu khi đại lễ. Từ mặt tiền của biệt thự nhìn xuống dưới chân đồi có hai hồ nước xanh trong vắt; bên tả là hồ chữ nhật dài 70m, bên phải hồ bán nguyệt đường kính 70m., Hai cái hồ đó ngày nay vẫn còn. Biệt thự của bác tôi thiết kế như một trang trại nằm ẩn trong khu rừng thông, bên phải phía sau có môt ngôi chùa nhỏ do một dì vãi chăm sóc hương khói. Nhiều thú hoang dã được nuôi trong khu rừng thông rộng lớn như:

CUỒNG LA ĐAI NHÂN (ready)_html_3b02db2

Khu Lăng Mộ cụ Hồ Đắc Trung trên đồi Dương Xuân- Huế

huơu, nai, heo rừng, khỉ, vượn, sóc, thỏ; gia súc như trâu bò ngựa gà vịt ngỗng…nuôi trong một khu đất riêng.

Sau năm 1945 các bác, các cô tôi, các anh chị em họ phân tán đi khắp nơi, phần lớn theo cụ Hồ ra bắc. Ở lại Huế có cha mạ tôi, sư bà Diệu Không, bà Hồ Thị Chỉ vợ vua Khải Định và bà Hồ Thị Phương. Ở Saigon thì có bác Hồ Đắc Ân, giáo sư trường Đại Học Dược Khoa SG.

Năm 1948-1949 có một biến cố làm thay đổi cuộc sống của gia đình tôi. Lúc đó vào khoảng 10 giờ sáng, một chiếc máy bay “Bà Già” (loại máy bay quan sát) bị du kích bắn rơi ngay sau lưng nhà chúng tôi đang ở. Viên phi công người Pháp bò ra khỏi máy bay, bắn trả kịch liệt với những người đang vây bắt; cuối cùng thì viên phi công bị bắn chết. Khoảng 2 giờ sau, một đại đội lính Lê Dương từ đồn Nam Giao kéo lên vây bắt, bắn chết một số dân làng vùng Cư Chánh. Tối ngày hôm sau lúc 2 giờ sáng, có một toán người mặc y phục màu đen bịt mặt, khoảng 100 người mang theo súng, búa tạ, dao rựa và sào dài xông vào nhà tôi, bắt cha mạ và 2 em tôi và 6 người làm công nhốt riêng trong một căn phòng nhỏ. Người chỉ huy báo cho cha mạ tôi biết là quân Lê Dương ở dưới Nam Giao sẽ chiếm ngôi biệt thự của chúng tôi đang ở để làm căn cứ quân sự, vì vậy cấp trên ra lệnh cho chúng tôi phải phá hủy căn nhà của ông bà càng nhanh càng tốt, ông bà nên hy sinh vì quyền lợi của tổ quốc và chỉ hơn 3 giờ sau thì căn biệt thự to lớn hoành tráng chỉ còn là môt đống gạch vụn.

Cha mạ tôi thuê 2 chiếc đò lớn di tản chúng tôi xuôi dòng sông Hương về Bao Vinh đi qua ngã ba Sình, Thanh Hà, Vân Cù về làng Phù Lương là làng của mạ tôi để tản cư. Các cậu và các cô dì của mạ tôi dành cho gia đình tôi một căn nhà tranh 2 gian 3 chái rộng rãi quay mặt ra bờ sông. Những tháng ngày ở quê ngoại là thời gian đầy kỷ niệm khó quên nhất trong thời ấu thơ của tôi, lúc đó tôi mới lên 5-6 tuổi. Cậu Xuất, cậu anh em họ của mạ tôi chiều nào cũng cõng 2 anh em tôi đi chơi khắp cái làng nhỏ bé này. Độ nửa năm sau giặc yên, cậu mợ Lê Đình Phu khuyên mạ tôi đem gia đình chúng tôi về An Cựu, trong một căn nhà của cậu mợ tôi, căn nhà có 6 phòng sát nách trường tiểu học An Cựu, còn gia đình cậu mợ dọn lên trên phố.

Cha tôi từ ngày trở về VN chỉ sau hơn 1 năm thì bình phục hẳn, ông nội khuyên cha tôi trở lạị Pháp tiếp tục việc học tập nhưng cha tôi xin ông nội ở lại quê hương vì lúc đó tình trạng kinh tế gia đình cũng đã sút giảm, cha tôi xin ông « là học ở đâu cũng được, nhưng xin cha cho phép con học môn mà con ưa thích, ông hỏi lại là con ưa môn gì? Cha tôi trả lời: Lịch sử và văn hóa VN. Ông nội tôi trầm ngâm một lúc rất lâu rồi vỗ vai con trai út của mình, ông nói chỉ có một chữ: Được.

Ông nội tôi đã được triều đình chọn lựa và đề cử làm thầy dạy cho đức vua Duy Tân cùng với cụ Mai Khắc Đôn từ khi vua lên ngôi 1907.

Vừa là cha vừa là thầy, ông tôi rất nghiêm khi dạy dỗ con mình, kể cả học trình, ông tôi phải dày công biên sọan kỹ lưỡng, chi tiết với sự trợ giúp góp ý của các bạn đồng triều, đồng môn với đề tài là “Lịch sử và văn hóa VN”. Ông tôi nói với các bạn bè của người rằng «Tôi dạy con không phải để làm vua mà dạy cho cháu trở thành một con người chính trực, một người yêu nước, một người uyên bác về lịch sử và văn hóa VN như ý cháu mong muốn». Ông tôi đã mời các nhân vật uyên bác thấu hiểu sâu sắc của mỗi môn về nhà để dạy dỗ kèm cặp cha tôi cho đến khi ông tôi qua đời. Cha tôi hấp thụ được cái khí tiết, uyên bác, giáo dục, gia phong từ cha mình từ trong lối sống đời thường cũng như trong nếp suy nghĩ.

Ngoài những vấn đề lịch sử và văn hóa VN, cha tôi còn nghiên cứu thêm về lịch sử, triết học, văn chương của phương tây đặc biệt là của nước Pháp, nhất là các trào lưu triết học hiện đại bùng phát của thế kỷ 18, 19, 20 như Voltaire, Montesquieu, J.J.Rousseau… có lẽ những trào lưu này ảnh hưởng lên cha tôi vì cha tôi đã sống rất nhiều năm tại Pháp trong suốt thời kỳ niên thiếu.

Cha tôi được các thân hữu cùng thời gọi là Thứ Nguyên tiên sinh, ông cũng được xem là một nhân vật am hiểu Đông Tây Kim Cổ, có người gọi ông là Cuồng La Đông Hải.

Bạn bè, khách khứa của cha tôi là điều hoàn toàn bí ẩn mà tôi không biết thể biết được, ngoài vài ba mẩu chuyện mà sư bà Diệu Không là chị của cha tôi và nhiều nhất là mạ tôi kể lại, ngoài cụ Nguyễn Hữu Trung là người tình cờ tôi gặp được khi cụ ở tuổi 80.

Từ sau năm 1936, cha tôi thường hay giao du chuyện trò đàm đạo với các linh mục người Pháp, Y Pha Nho. Họ là những thầy Dòng ở trường Pellerin đối diện với biệt thự của cha tôi ở, một vài người bạn thân thường đến nhà trao đổi hay tranh luận những vấn đề văn học, lịch sử hay ngâm thơ, chơi nhạc vì cha tôi là một tay chơi dương cầm và violon có hạng, cũng là thành viên của nhóm hòa nhạc quý tộc thời bấy giờ. Cha tôi cũng thường đi thăm viếng những danh lam thắng cảnh trong vùng, nhất là các chùa chiền trong vùng Thừa Thiên Huế. Cha tôi cũng kết thân với các vị cao tăng ở chùa Trúc Lâm, Thiên Thai, Viên Thông, Trà Am, Linh Mụ, Vạn Phước, Từ Đàm, Bảo Quốc, Thánh Duyên… có khi ở lại chơi vài ba ngày. Trong thời gian ở biệt thự trên đồi Dương Xuân, thỉnh thoảng cha tôi ở lại trên nhà thờ Thiên An… Thỉnh thoảng cha tôi về làng An Truyền, hay lên Bạch Mã vì ở đó có biệt thự của bác tôi.

Sau nhiều lần di chuyển, tản cư, cháy nhà, lụt lội, các tác phẩm nghiên cứu, thơ văn của cha tôi thất lạc và mất dần kể từ năm 1945 về sau.

Sau các hậu quả khốc liệt của cuộc thế chiến lần thứ 2 đã làm thay đổi, xáo trộn xã hội VN, các gia đình bác Hồ Đắc Điểm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Liên ra Hà Nội. Bác Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Ân vào Saigon. Ở Huế còn lại gia đình Cha mẹ tôi, và các chị của cha tôi như sư bà Diệu Không ni trưởng chùa Hồng Ân, sư bà Diệu Huệ đang tu tại chùa Sư nữ Diệu Đức, bà Hồ Thị Chỉ vợ vua Khải Định ở trong cung An Định và bà Hồ Thị Phương. Lúc đó cũng là thời điểm mà kinh tế của cha mạ tôi khánh kiệt, mạ tôi đang từ một bà mệnh phụ phu nhân cũng xắn tay áo lên buôn bán ở chợ An Cựu, nuôi heo cá gà vịt, cuốc đất lên luống trồng khoai lang, rau muống, xà lách… Còn cha tôi thì suốt ngày đọc sách, viết lách… và đi dạo dọc theo các luống rau mà mạ tôi làm, Mạ tôi tuyệt đối không cho cha tôi đụng vào cái dao cái rựa cái cuốc và các dụng cụ làm vườn, mạ tôi luôn luôn kính trọng cha tôi và phục vụ cha tôi như thời vàng son, thậm chí còn hơn nữa.

Năm 1950, cha mạ tôi gởi anh tôi vào SG sống với bác Hồ Đắc Khải ở đường Lagrandiere trước mặt dinh Gia Long.

Ở nhà còn lại cha mạ tôi, tôi và một người giúp việc làm vườn.

Tôi còn nhớ như in là vào một ngày cuối đông năm 1952, buổi sáng trời nắng đẹp, mạ tôi dọn lên bàn ăn 3 phần ăn sáng gồm có bánh mì và trứng gà ốp la, cà phê cho cha tôi, sữa cho tôi, nước lọc cho mạ tôi; ăn xong buổi sáng, mạ tôi nói với cha tôi là bà đi chợ, hỏi cha con tôi là trưa nay muốn ăn gì? cha tôi cười.

Cha tôi cầm tay tôi tiễn mạ tôi ra cửa ngõ, rồi quay vào nhà, ông nằm trên divan đọc sách, còn tôi chạy chơi lăng xăng dọc theo hành lang. Bỗng tôi thấy cha tôi giật nẩy người rồi rơi xuống đất, tôi khóc và la to lên kêu gào…Mấy người hàng xóm chạy vào đem cha tôi lên divan và có người chạy ra ngoài chợ tìm mạ tôi. Chừng 10 phút mạ tôi vừa chạy về vừa khóc, cha tôi nằm im không còn cơn động kinh nữa. Mạ tôi vừa lay cha tôi vừa khóc. Cha tôi mở lớn mắt, cầm tay mạ tôi để lên ngực ông, cha tôi thở ngước lên rồi vĩnh viễn âm dương ngàn trùng cách trở.

Giây phút đó và tiếng gào thét của mạ tôi, là những âm vang tôi không bao giờ quên được trong suốt cuộc đời mình, lúc đó tôi vừa lên 8 tuổi.

( Tác phẩm của ông là kinh Báo Ân diễn dịch bằng thơ, 02 tập truyện thơ khúc ngâm về Huyền Trân Công Chúa, Hòn Vọng Phu Ngâm Khúc và những tài liệu bằng chữ Pháp hay chữ Hán …)

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link và phải có sự đồng ý của tác giả khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s