Tôn Nữ Diệu Thu-Cát Tường Quân dịch – ĐỌC SÁCH CÓ THỂ LÀM BẠN HẠNH PHÚC HƠN? (Can Reading Make You Happier?)

Tác giả: CERIDWEN DOVEY

docsachVài năm về trước, tôi đã có một khoảng thời gian riêng biệt cho việc trị liệu các rối loạn tâm lý bằng thói quen đọc sách tại trụ sở chính của trường School of Life (Trường học về cuộc sống) ở Luân Đôn, tại đó có các khóa học sáng tạo giúp con người đối trị trước những xúc cảm tồn tại hàng ngày. Tôi phải thừa nhận rằng lúc đầu tôi không thực sự thích ý tưởng đón nhận cách đọc “theo toa”. Tôi thường thích bắt chước cái kiểu nồng nhiệt của Virginia Woolf để cầu may sẽ có những khám phá bất ngờ trong việc đọc của cá nhân mình [1]. Thích thú không chỉ từ chính những cuốn sách mà còn ngay trong bản chất đầy ý nghĩa mà ngẫu nhiên thế nào đó tôi được bắt gặp chúng (ngay trên chuyến xe buýt sau khi tan khách, trong ký túc xá của vị khách Tây ba lô ở Damascus, hoặc ngay cả trong những góc kệ sách tối tăm của thư viện ở trường đại học, trong khi tôi chỉ xem qua thay vì nghiên cứu).

Từ lâu tôi đã thận trọng với chủ nghĩa thuyết phục riêng biệt của một số độc giả cho rằng: Bạn phải đọc cái này, rồi họ giúi vào tay bạn một cuốn sách cùng với đôi mắt ánh lên tia sáng hạnh phúc, mà không hề thừa nhận thực tế rằng sách mang ý nghĩa khác nhau đối với mỗi người chúng ta – hoặc thậm chí nó cũng mang ý nghĩa khác nhau với cùng một con người – ở những thời điểm khác nhau trong cuộc sống. Chẳng hạn như khi tôi ở vào tuổi hai mươi, tôi đã yêu vô cùng những câu chuyện của John Updike về loài cây phong, nhưng tôi lại ghét chính những câu chuyện đó khi tôi ba mươi tuổi, và tôi thậm chí không chắc chắn chính xác lý do tại sao.

Nhưng khoảng thời gian đó đã là một tặng phẩm với tôi, và tôi thấy bất ngờ khi bước đầu được trải nghiệm bảng câu hỏi về thói quen đọc sách của tôi đối với liệu pháp điều trị các rối loạn tâm lý do Ella Berthoud gửi đến. Chưa ai hỏi tôi về những câu hỏi đó trước đây, mặc dù đọc tiểu thuyết luôn là điều cần thiết cho cuộc sống của tôi. Tôi thích dự những bữa tiệc sách mà quên cả nghỉ ngơi – Tôi nói với Berthoud rằng tôi sẽ gói ghém nhiều sách hơn là quần áo. Tôi tâm sự một bí mật nhỏ thô thiển của mình rằng tôi thích được nhận sách từ thư viện hơn là mua hoặc sở hữu chúng (vì tôi là một nhà văn, chứ tôi không mang nghiệp bán sách). Để trả lời cho câu hỏi “Điều gì bạn bận tâm vào lúc này ?”, tôi thật ngạc nhiên bởi những gì tôi muốn thú nhận: Tôi viết rằng tôi lo lắng mình không có đủ nguồn lực tinh thần vững vàng để đối trị với chính mình trong tương lai khi đứng trước nỗi đau không thể tránh khỏi là mất đi người thân yêu. Tôi không theo tôn giáo nào, và tôi cũng không hề muốn cá biệt, nhưng tôi lại thích đọc về các phản xạ của con người khi họ trở về tỉnh thức, có đức tin vào bản chất phi thường của khả năng con người trong “nguồn năng lực siêu nhiên” hệt như là một chiến thuật để sống còn với xúc cảm. Đơn giản chỉ cần trả lời được những vấn đề đặt ra làm tôi cảm thấy tốt hơn và nhẹ nhàng hơn.

Khi ta đọc những câu chuyện và cố gắng dự đoán cảm xúc của nhân vật thì điều đó cũng đồng nghĩa như ta đang vẽ lên những màng não của mình vậy. Hình ảnh minh họa của Sarah Mazzetti

Khi ta đọc những câu chuyện và cố gắng dự đoán cảm xúc của nhân vật thì điều đó cũng đồng nghĩa như ta đang vẽ lên những màng não của mình vậy. Hình ảnh minh họa của Sarah Mazzetti

Chúng tôi đã khá hài lòng khi trao đổi qua email, cùng đào sâu nghiên cứu với Berthoud về tiểu sử của gia đình tôi và nỗi sợ sầu khổ của tôi, và khi cô ấy gởi đến cho tôi toa đọc cuối cùng thì nó lại tròn đầy những điều quý giá mà tôi không hề muốn đọc trước đó. Các khuyến nghị trong số đó có cuốn “The Guide” (“Người hướng dẫn viên”) của R. K. Narayan. Berthoud đã viết rằng đó là “câu chuyện đáng yêu về một người đàn ông bắt đầu sự nghiệp của mình như là một hướng dẫn viên du lịch tại một trạm xe lửa ở Malgudi, Ấn Độ, nhưng sau đó anh ta đã trải qua nhiều nghề khác nhau trước khi tìm thấy vận mệnh đầy bất ngờ của mình là trở thành một hướng dẫn viên tâm linh”. Berthoud đã chọn lấy điều đó bởi vì cô hy vọng nó có thể để lại cho tôi cái cảm tưởng “được giác ngộ một cách lạ kỳ”. Thêm nữa là cuốn “The Gospel According to Jesus Christ” (“Thánh Kinh Chúa Giêsu”) của José Saramago: “Saramago không tiết lộ quan điểm tâm linh của ông ở đây nhưng ông lại miêu tả sống động và có sức thuyết phục về những câu chuyện mà chúng ta đã biết rõ. Cuốn tiểu thuyết “Henderson the Rain King” của Saul Bellow và “Siddhartha” (“Thái tử Tất Đạt Đa”) của Hermann Hesse nằm trong số các tác phẩm tiểu thuyết theo quy định và Berthoud cũng gộp thêm một số tác phẩm phi tiểu thuyết chẳng hạn như “The Case for God” (“Trường hợp đối với Thiên Chúa”) của Karen Armstrong và “Sum” (“Bài toán”) của nhà thần kinh học David Eagleman, “một cuốn sách ngắn và tuyệt vời về khả năng đằng sau sự sống con người”.

Tôi đã làm việc theo cách của mình thông qua các cuốn sách trong danh mục toa đọc qua hai năm sau đó, với nhịp độ tiến triển xen kẽ với những “khám phá” của riêng tôi và tôi còn may mắn có đủ khả năng để chịu đựng nỗi đau khủng khiếp chưa từng trải, cho đến nay, một số hiểu biết tôi lượm lặt từ những cuốn sách này đã giúp tôi đi qua được một cái gì đó hoàn toàn khác nữa, khi mà trong khoảng vài tháng, tôi đã phải chịu đựng nỗi đau buốt về thể xác. Tuy là những hiểu biết vẫn còn mơ hồ, vì khối kiến thức đạt được là nhờ thường xuyên đọc tiểu thuyết, nhưng lại chứa đựng sức mạnh nội tại. Vào thời đại thế tục, tôi nghi ngờ rằng đọc tiểu thuyết là một trong số ít những con đường còn lại để đi đến sự siêu việt, một trạng thái khó nắm bắt khi khoảng cách giữa ta và vũ trụ rút ngắn lại. Đọc tiểu thuyết làm bản thân tôi mất hết cảm giác, nhưng đồng thời cũng làm cho tôi cảm thấy con người mình độc đáo lắm. Như Woolf, người được độc giả đón nhận nồng nhiệt nhất, đã viết rằng khi đọc một cuốn sách “hãy chia chúng thành hai phần”, một phần để cho “tâm thái đọc sách cốt ở chỗ loại bỏ được hoàn toàn cái bản ngã”, còn phần kia hứa hẹn “đạt được sự vô ngã” với tâm trí người khác.

Bibliotherapy (Ghi thêm của người dịch: thói quen đọc sách như một liệu pháp điều trị các rối loạn tâm lý) là một thuật ngữ phổ biến trong các bài tập cổ điển khuyến khích việc đọc sách đối với hiệu quả điều trị các rối loạn tâm lý. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1916 trên trang The Atlantic Monthly với một tác phẩm văn học dí dỏm “A Literary Clinic” (“Phòng khám văn chương”). Trong đó, tác giả mô tả về việc tình cờ gặp được “Viện điều trị tâm lý” được vận hành từ một người quen mang tên Bagster trong tầng hầm của nhà thờ, từ đó anh bào chế bài thuốc khuyến khích đọc sách với giá trị chữa bệnh. Bagster giải thích rằng “Trị liệu tâm lý bằng sách là … một ngành khoa học mới”. “Một cuốn sách có thể là một chất kích thích hay liều thuốc giảm đau hoặc gây kích thích hoặc cũng là một loại thuốc ngủ. Vấn đề là nó phải làm được điều gì đó cho bạn, và bạn phải biết nó là gì. Về bản chất một cuốn sách có thể là một loại xi-rô xoa dịu hoặc nó cũng có thể là lớp thạch cao mù tạc”. Đối với một khách hàng trung niên với “quan điểm cục bộ cứng nhắc”, Bagster kê đơn thuốc như sau: “Bạn phải đọc nhiều tiểu thuyết. Không phải những câu chuyện thú vị mà bạn quên đi chính mình. Chúng phải là những tiểu thuyết thấu đáo, quyết liệt, day dứt, tàn nhẫn”. (Nhà soạn kịch George Bernard Shaw là đỉnh cao của các ý niệm này). Cuối cùng Bagster cũng được gọi đi để đối phó với một bệnh nhân đã “uống quá liều văn học chiến tranh”, bỏ quên tác giả để suy nghĩ về những cuốn sách “hãy đặt cuộc sống mới vào chúng tôi và sau đó thiết lập nhịp đập cuộc sống thật mạnh mẽ nhưng chậm lại”.

Ngày nay, trị liệu tâm lý bằng sách có nhiều hình thức khác nhau, từ hoạt động của các khóa học văn chương cho tù nhân đến các chu kỳ đọc sách dành cho người già bị mất trí nhớ. Đôi khi nó chỉ đơn giản có nghĩa là thảo luận theo cặp hoặc theo nhóm vì “lầm lỗi” mà độc giả muốn tìm đường trở lại hưởng thụ sách. Berthoud và người bạn lâu năm của cô cùng với Susan Elderkin – hội viên của hội điều trị các rối loạn tâm lý từ việc đọc sách – hầu hết đều rèn luyện “xúc cảm” trong liệu pháp điều trị đó, đã rất ủng hộ đối với các năng lực phục hồi từ việc đọc tiểu thuyết. Hơn hai mươi năm trước, hai người gặp nhau tại trường Đại học Cambridge khi còn là sinh viên đại học, và ngay lập tức họ kết duyên với nhau qua các nội dung chia sẻ từ các kệ sách của họ, mà đặc biệt trong cuốn tiểu thuyết của nhà văn Italo Calvino “If on a Winter’s Night a Traveller” (“Nếu một đêm Đông người lữ khách”) đã tự nó nêu lên bản chất của việc đọc. Khi tình bạn của họ tiến triển hơn, họ bắt đầu kê đơn các tiểu thuyết để chữa trị phiền não cho nhau, như là tuyệt vọng hoặc không chắc chắn về sự nghiệp. Berthoud kể với tôi “khi Suse có một cuộc khủng hoảng về nghề nghiệp – cô ấy muốn trở thành một nhà văn, nhưng lại phân vân liệu cô có thể đương đầu với sự từ chối không thể tránh khỏi – tôi đưa cho cô ấy tập thơ “Archy and Mehitabel” (“Archy và Mehitabel”) [2] của nhà báo Don Marquis”. “Nếu con gián Archy có thể cống hiến cho nghệ thuật của mình mà nhảy lên bàn phím để viết nên những bài thơ tự do hằng đêm cho tờ Evening Sun trong văn phòng ở thành phố New York, thì chắc chắn cô ấy cũng nên chuẩn bị sẵn sàng để chịu đau khổ cho nghệ thuật”. Nhiều năm sau, Elderkin đã đưa cho Berthoud, người muốn tìm hiểu làm thế nào để cân bằng giữa vai trò vừa làm họa sĩ vừa làm một người mẹ, cuốn tiểu thuyết của Patrick Gale “Notes from an Exhibition” (“Ghi chép từ một triển lãm”) viết về một nữ nghệ sĩ thành công nhưng gặp phiền não.

Họ tiếp tục giới thiệu những cuốn tiểu thuyết với nhau, với cả bạn bè và gia đình trong nhiều năm và đến năm 2007, khi nhà triết gia Alain de Botton, một thành viên cùng lớp ở Đại học Cambridge, đã suy nghĩ về việc bắt đầu các Trường học về cuộc sống, họ mới đưa ra với anh ấy ý tưởng điều hành một phòng khám trị liệu tâm lý bằng sách. Berthoud nói “Theo như chúng ta biết, chưa có ai làm điều đó theo cách thức đó vào thời điểm đó”. “Bibliotherapy, nếu tồn tại lâu dài, hướng đến dựa vào một bối cảnh y học hơn, nhấn mạnh về khả năng tự giúp sức của sách. Nhưng chúng ta coi tiểu thuyết là cách trị liệu chủ yếu vì nó mang đến cho độc giả những trải nghiệm chuyển biến”.

Berthoud và Elderkin vạch ra các phương pháp trị liệu theo cách trở lại với người Hy Lạp cổ đại, “những người đã ghi trên lối vào thư viện ở Thebes rằng đây là một “nơi chữa trị cho tâm hồn””. Vào cuối thế kỷ XIX, việc hướng đến sự thực tập riêng biệt chỉ khi Sigmund Freud bắt đầu sử dụng tài liệu trong các buổi phân tâm học. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, trước khi những binh lính bị thương trở về nhà đều được chỉ định một khóa đọc sách. Elderkin kể rằng “cán bộ thư viện ở các quốc gia đã được đào tạo để cung cấp sách cho cựu chiến binh Thế chiến thứ nhất, và có một câu chuyện đẹp về tiểu thuyết của Jane Austen được sử dụng cho các mục đích trị liệu tâm lý bằng sách cùng lúc ở Anh”. Sau đó trong thế kỷ này, trị liệu tâm lý bằng sách đã được sử dụng theo nhiều cách khác nhau trong các bệnh viện và thư viện, và gần đây phương pháp này được đưa lên bởi các nhà tâm lý học, các cộng sự làm công tác xã hội và dưỡng lão, và các bác sĩ xem đây là một phương thức điều trị khả thi.

Ngày nay đã có một mạng lưới các nhà trị liệu được chọn lọc và đào tạo bởi Berthoud và Elderkin, liên kết với các Trường học cuộc sống, làm việc trên toàn thế giới, từ New York đến Melbourne (Úc). Đối với những nỗi phiền não chung nhất thì hầu hết mọi người đều có xu hướng chuyển đổi cuộc sống theo thời điểm, Berthoud nêu ra: bị mắc kẹt trong lối mòn sự nghiệp của bạn, cảm thấy chán nản trong mối quan hệ của bạn, hoặc nỗi đau mất người thân. Các nhà trị liệu cũng nhìn thấy rất nhiều người về hưu, họ biết rằng họ có đến hai mươi năm đọc trước người ta nhưng có lẽ rằng trước đó họ chỉ đọc những câu chuyện về tội ác, và muốn tìm một cái gì đó mới để duy trì chúng. Nhiều người tìm kiếm sự giúp đỡ để điều chỉnh họ trở lại là cha mẹ. Berthoud kể rằng “Tôi có một khách hàng tại New York, một người đàn ông đã có đứa con đầu lòng, và lo lắng về trách nhiệm đối với một con người nhỏ bé”. “Tôi đề nghị anh ta đọc cuốn “Room Temperature” (“Nhiệt độ phòng”) của Nicholson Baker, kể về một người đàn ông cho con bú bình và có những dòng tâm thức thiền định về việc được làm cha. Và tất nhiên tôi giới thiệu cuốn tiểu thuyết “To Kill a Mockingbird” (“Giết con chim nhại”), vì Atticus Finch là người cha lý tưởng trong văn học”.

Berthoud và Elderkin cũng là tác giả của cuốn “The Novel Cure: An A-Z of Literary Remedies” (“Trị liệu bằng tiểu thuyết: Một phương thuốc văn học từ A đến Z”), được viết theo phong cách của một từ điển y tế và phù hợp với tâm bệnh (“Cảm giác như một thất bại”) với đề nghị chữa trị bằng việc đọc (“The History of Mr. Polly” (“Lịch sử của ông Polly”) của HG Wells) [3]. Đầu tiên phát hành tại Anh vào năm 2013, giờ đây nó được xuất bản trong mười tám nước, và thú vị hơn khi hợp đồng xuất bản cho phép một biên tập viên địa phương và chuyên gia đọc để đáp ứng đến hai mươi lăm phần trăm các tâm bệnh và khuyến nghị đọc để điều chỉnh cho vừa với độc giả từng quốc gia cụ thể và bao gồm cả các nhà văn bản xứ nữa. Điều mới mẻ là các tâm bệnh được cải thiện đã đưa ra những tiết lộ một cách rất văn hóa. Trong các sách xuất bản tiếng Hà Lan, một trong những tâm bệnh được cải thiện là “có quá cực đoan đối với quan điểm ​​của con mình”; trong các sách xuất bản Ấn Độ, có cả “tiểu tiện nơi công cộng” và “nỗi ám ảnh với con dế”; ở Ý thì đưa ra “bất lực”, “sợ xa lộ”, và “khát khao ướp xác”; còn người Đức nói thêm rằng “chán ghét thế giới” và “ghét hội họp”. Berthoud và Elderkin hiện đang làm việc cho một bản dịch văn học dành cho trẻ em có tên là “A Spoonful of Stories” (“Một thìa truyện kể”) dự kiến ​​ra mắt vào năm 2016.

Với tất cả các độc giả tham lam hơn thì họ đã tự mình bốc thuốc với những cuốn sách tuyệt vời liên quan đến toàn bộ cuộc sống của họ, dường như không còn gì phải ngạc nhiên khi đọc sách lại có thể cải thiện được tâm thức và các mối quan hệ của bạn với người khác, nhưng để nói chính xác lý do tại sao và làm thế nào thì đến bây giờ mới trở nên rõ ràng hơn, đó là nhờ vào nghiên cứu mới về các tác động của việc đọc sách lên não bộ con người. Vào giữa những năm chín mươi, kể từ khi phát hiện ra “Chiếc gương Nơron” (Ghi thêm của người dịch: “Sự phản chiếu của các tế bào thần kinh”) – tức là các Nơron thần kinh đốt cháy ở trong não của chúng ta ngay cả khi chúng ta tự mình thực hiện một hành động và cả khi chúng ta nhìn thấy một hành động từ người khác nữa – thì ngành khoa học nghiên cứu về Nơron thần kinh thấu cảm mới trở nên rõ ràng hơn. Một nghiên cứu năm 2011 được công bố trên trang Annual Review of Psychology (Đánh giá thường niên của Tâm lý học), dựa trên phân tích fMRI quét não của những người tham gia, cho thấy rằng, khi con người đọc về một sự trải nghiệm, trong vùng thần kinh sẽ diễn ra những kích thích giống như là chính bản thân họ đi qua những trải nghiệm đó vậy. Khi chúng ta đọc những câu chuyện và cố gắng dự đoán cảm xúc của nhân vật thì điều đó cũng đồng nghĩa như chúng ta đang vẽ lên những màng não của mình vậy.

Các nghiên cứu khác được công bố vào năm 2006 và 2009 cho thấy điều tương tự là với những ai đọc nhiều tiểu thuyết thì lại có xu hướng đồng cảm với người khác tốt hơn (ngay cả sau khi các nhà nghiên cứu đã giải thích về các khuynh hướng tiềm ẩn mà những người có khuynh hướng đồng cảm lớn hơn có thể thích đọc tiểu thuyết hơn). Và trong năm 2013, một nghiên cứu có tầm ảnh hưởng lớn đã được công bố trên trang Science (Khoa hc) cho thấy việc đọc tiểu thuyết văn học (chứ không phải là tiểu thuyết bình dân hay phi tiểu thuyết văn học) đã cải thiện kết quả của những người tham gia qua bài kiểm tra đo lường mức độ nhận thức xã hội và sự đồng cảm, là những điều cốt yếu đối với “thuyết học tâm thức”: khả năng phán đoán với độ chính xác về những gì một con người có thể suy nghĩ hoặc cảm giác, một người có kỹ năng chỉ thật sự bắt đầu phát triển vào khoảng bốn tuổi.

Keith Oatley, vừa là một tiểu thuyết gia vừa là một giáo sư danh dự của khoa tâm lý học nhận thức tại Đại học Toronto, đã dành nhiều năm theo đuổi một nhóm nghiên cứu quan tâm đến tâm lý học tiểu thuyết. “Chúng tôi bắt đầu nêu ra cách làm thế nào để có sự thấu cảm mạnh mẽ với diễn biến của các nhân vật hư cấu, làm thế nào nghệ thuật văn chương có thể cải thiện năng lực xã hội, làm thế nào nó có thể kích thích chúng ta về tình cảm, và có thể nhắc nhở những biến đổi của lòng tự ngã”, ông viết trong cuốn sách năm 2011 của mình có tên là “Such Stuff as Dreams: The Psychology of Fiction” (“Bản chất con người như những Giấc mơ: Tâm lý học Tiểu thuyết”). “Tiểu thuyết là một dạng mô phỏng, chỉ có điều là nó không vận hành trên máy tính mà ở trong tâm thức con người: một mô phỏng của bản thân trong các tương tác của họ với những người khác trong thế giới xã hội… dựa theo kinh nghiệm, và liên quan đến việc có thể nghĩ về tương lai có khả năng diễn ra”. Ý tưởng này phản ánh một niềm tin về sự thấu hiểu bền lâu giữa nhà văn và độc giả mà sách là những người bạn tốt nhất; chúng cho chúng ta cơ hội để luyện tập các tương tác với những người khác trên thế giới, mà không gây bất kỳ thiệt hại nào về lâu dài. Trong bài luận văn vào năm 1905 với chủ đề “Đọc sách”, Marcel Proust đặt vấn đề thật thú vị: “Riêng với sách thì đó là những thứ không mang tính xã hội bắt buộc. Nếu như chúng ta thức trắng đêm với những người bạn – tức là những cuốn sách – thì đó là vì chúng ta thực sự muốn vậy. Khi chúng ta bỏ mặc chúng, tức là chúng ta làm như vậy với sự hối tiếc, và khi chúng ta rời xa chúng, không ai trong số đó nghĩ rằng chính điều này làm hỏng tình bạn: “Chúng nghĩ gì về chúng ta?” – “Liệu chúng ta có sai lầm và nói ra điều gì đó thiếu tế nhị chăng?” – “Chúng có giống như chúng ta không?” – cũng không có sự lo lắng sợ bị lãng quên vì sự thay đổi của người khác”.

Cô George Eliot, người được đồn đại đã vượt qua nỗi đau của mình khi mất đi người bạn đời, thông qua một chương trình hướng dẫn đọc sách cùng với một người đàn ông trẻ, người sau này đã trở thành chồng của cô, George Eliot tin rằng “nghệ thuật là điều gần nhất với cuộc sống; nó là một phương thức khuếch đại kinh nghiệm và mở rộng mối liên lạc giữa chúng ta với anh chàng nào đó đang theo đuổi chúng ta – đó là người đàn ông vượt ra ngoài giới hạn của số mệnh cá nhân mỗi chúng ta”. Nhưng không phải ai cũng đồng ý với đặc tính này của việc đọc tiểu thuyết là nó có khả năng làm cho chúng ta cư xử tốt hơn trong thực tại cuộc sống. Trong cuốn sách của mình năm 2007, “Empathy and the Novel(“Đồng cảm và tiểu thuyết”), Suzanne Keen có đặt vấn đề với điều này “giả thuyết về đồng cảm – vị tha”, và tỏ ra nghi ngờ liệu rằng các kết nối đồng cảm được thực hiện trong khi đọc tiểu thuyết có thực sự biến thành vị tha, và các hành vi ủng hộ xã hội trên thế giới hay không. Bà cũng chỉ ra khó khăn làm thế nào để thực sự chứng minh một giả thuyết như vậy. Keen viết rằng “Sách không thể tự nó thực hiện thay đổi và không phải ai cũng cảm thấy chắc chắn rằng họ phải thay đổi”. “Khi nào con mọt sách nhận biết được điều này, thì lúc đó độc giả cũng có thể có vẻ chống đối xã hội và lười nhác đọc sách. Đọc tiểu thuyết không phải là một môn thể thao đồng đội”. Thay vào đó, cô kêu gọi, chúng ta nên tận hưởng những gì tiểu thuyết không cung cấp cho chúng ta, đó là một sự giải thoát khỏi nghĩa vụ thuộc về phạm trù đạo đức để cảm thông cho các nhân vật hư cấu – cũng như khi đó bạn sẽ đặt ra một thực tế, con người sống trong đau đớn hoặc khổ sở – mà điều đó thật nghịch lý có nghĩa là các độc giả đôi khi lại “phản ứng với sự đồng cảm ở mức độ lớn hơn với một hoàn cảnh và các nhân vật thiếu thực tế chính vì sự tưởng tượng mà có”. Và cô ấy hết lòng hỗ trợ những lợi ích sức khỏe cá nhân của một kinh nghiệm nhập vai như đọc sách, mà “cho phép một lối thoát tươi đẹp hơn từ những điều bình thường và áp lực hàng ngày”.

Vì vậy, ngay cả khi bạn không đồng ý rằng đọc sách viễn tưởng làm cho chúng ta đối xử với người khác tốt hơn, thì nó vẫn là một cách để điều trị bản thân tốt hơn. Việc đọc sách đã được hiển thị để đưa não của chúng ta vào một trạng thái thú vị giống như nhập định, tương tự như thiền định, và nó mang lại những lợi ích sức khỏe như là thư giãn sâu và bình tĩnh bên trong. Độc giả thường xuyên ngủ tốt hơn, có mức độ căng thẳng thấp hơn, lòng tự trọng cao hơn, và tỷ lệ của bệnh trầm cảm thấp hơn những người không đọc. Tác giả Jeanette Winterson đã viết: “Tiểu thuyết và thơ là liều thuốc chữa bệnh. Những gì chúng chữa lành là sự nứt vỡ thực tại được làm trên sự tưởng tượng”.

Một trong những khách hàng của Berthoud đã mô tả với tôi về các buổi nói chuyện cá nhân và theo nhóm giữa cô với Berthoud giúp cô đối phó với hậu quả của một loạt các tai họa, kể cả khi cô đánh mất người chồng của mình, kết thúc hôn ước năm năm, và chịu một cơn đau tim. Cô nói rằng: “Tôi cảm thấy cuộc sống của tôi không có mục đích. Tôi thấy mình thất bại khi là một người phụ nữ”. Trong số những cuốn sách ngay từ ban đầu Berthoud kê đơn thuốc là cuốn tiểu thuyết của John Irving “The Hotel New Hampshire” (“Khách sạn New Hampshire”). “Ông là một nhà văn yêu thích của chồng tôi, người chồng mà tôi cảm thấy không thể cố gắng được nữa vì các lý do đa cảm”. Cô ấy đã “kinh ngạc và rất xúc động” để xem nó có trong danh sách, và mặc dù cô đã tránh xa được thói quen đọc sách của chồng cô mãi cho đến sau này cô mới nhận thấy đọc sách là “một trải nghiệm xúc cảm rất đáng làm, ngay cả từ trong các tác phẩm và cả việc thoát khỏi bản thân quỷ quái của mình”. Bà cũng đánh giá cao Berthoud trong việc hướng dẫn bà đến với tiểu thuyết của Tom Robbins có tên là Jitterbug Perfume(“Hương mẫn cảm”), đó là “một khúc quanh kiến thức thật sự của tôi về định kiến ​​và sự thử nghiệm”.

Một trong những bệnh đã liệt kê trong “The Novel Cure” (“Bài thuốc Tiểu thuyết”) bị “choáng ngợp bởi số lượng sách trên thế giới”, và nó là một trong những thứ mà tôi phải chịu đựng thường xuyên. Elderkin nói đây là một trong những vấn đề thường gặp nhất của độc giả hiện đại, và nó vẫn còn là một động lực lớn cho cô và công việc của Berthoud như một nhà trị liệu tâm lý bằng sách. “Chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù có nhiều sách đang được xuất bản hơn bao giờ hết, nhưng trên thực tế người ta lại càng ngày càng kén chọn. Nhìn vào bản danh sách của hầu hết các câu lạc bộ đọc sách, và bạn sẽ thấy tất cả các cuốn sách đều giống hệt nhau, những điều như thế này đã bị chỉ trích trên báo chí. Nếu bạn thực sự tính toán có bao nhiêu cuốn sách bạn đọc trong một năm – và đó có nghĩa là bạn đủ sức đọc cho hết chừng ấy trước khi bạn chết – thì bạn sẽ nhận ra rằng bạn cần phải có tính chọn lọc cao để đáp ứng được quỹ thời gian đọc của bạn”. Và liệu có cách nào tốt nhất để làm điều đó? Hãy hỏi ý kiến các nhà trị liệu tâm lý bằng sách, càng sớm càng tốt, và theo chỉ dẫn của họ, xin được mượn đôi lời từ vở bi kịch “Titus Andronicus” (Tướng La Mã nổi tiếng – Titus) của Shakespeare: “Hãy đến, và giữ lấy sự lựa chọn tất cả các thư viện của tôi / Và cứ như vậy khuây khỏa niềm đau của ngươi…”

Nguồn bài tiếng Anh: http://www.newyorker.com/culture/cultural-comment/can-reading-make-you-happier

————-

Ghi chú thêm của người dịch:

[1]: Virginia Woolf (1882-1941) là nữ tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh. Cuộc đời của bà là một tấn bi kịch với những chấn động tâm lý dữ dội và liên tiếp khiến bà cảm nhận rõ nét về sự mong manh, bấp bênh của kiếp người và những mối hiểm họa luôn rình rập con người sau cái vẻ ngoài yên bình, tĩnh lặng của cuộc sống. Những cảm nhận đó không chỉ ảnh hưởng đến tác phẩm mà còn trực tiếp hành hạ đời sống tinh thần của bà. Tất cả mọi thứ trong cuộc đời này, kể cả những mối quan hệ gần gũi nhất với Virginia Woolf đều được xếp sau niềm say mê đối với nhân vật và ngôn ngữ. Trong một bức thư, bà viết: “Tôi cảm thấy xấu hổ, hay có lẽ là tự hào khi thừa nhận rằng tất cả quỹ thời gian tôi có là nghĩ, nghĩ và nghĩ về văn học”, và trong một lá thư khác nữa: “Tôi vừa phải từ chối hai bữa tiệc, một cuộc hẹn với một người khách Pháp, một chầu trà với Hilda Trevelyan và nhịn cả nỗi thèm khát được đi mua một chiếc mũ. Đơn giản bởi tôi không thể nào làm những việc này trong lúc đầu óc vẫn theo đuổi những dòng chảy ngược xuôi của trí tưởng tượng”.

Nguồn:

[2]: Archy và Mehitabel là tên của hai nhân vật hư cấu được tạo ra vào năm 1916 bởi Don Marquis, một nhà báo cho tờ Evening Sun ở thành phố New York. Archy là một con gián, và Mehitabel là một con mèo con, xuất hiện trong hàng trăm câu thơ hài hước và những câu chuyện ngắn trong cuộc sống hàng ngày.

Nguồn: en.wikipedia.org/

[3]: Quan điểm đạo đức của HG Wells trong cuốn tiểu thuyết là phức tạp và thường mỉa mai. Xung đột chính của cuốn tiểu thuyết là cuộc đấu tranh của ông Polly với cuộc sống, chủ yếu về mặt đạo đức. Ông không phải là không có trí tưởng tượng và sự tinh tế về ngôn ngữ, nhưng ông không có niềm tin vào năng lực trí tuệ của mình (mặc dù ông là một người thích đọc), và cảm xúc của ông trở nên bối rối và rụt rè. Độc giả được nhìn mọi thứ từ quan điểm của ông Polly.

Nguồn: en.wikipedia.org/

————-

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link và phải có sự đồng ý của tác giả khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

One thought on “Tôn Nữ Diệu Thu-Cát Tường Quân dịch – ĐỌC SÁCH CÓ THỂ LÀM BẠN HẠNH PHÚC HƠN? (Can Reading Make You Happier?)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s