TS. Nguyễn Xuân Niệm – KHÔI PHỤC RỪNG NGẬP MẶN TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN KIÊN GIANG TRONG BỐI CẢNH THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_m7a45b2cdI. TỔNG QUAN VỀ RỪNG NGẶP MẶN TỈNH KIÊN GIANG

Rừng ngập mặn (RNM) Kiên Giang phân bố chủ yếu dọc theo 206 km bờ biển, từ rạch Tiểu Dừa giáp tỉnh Cà Mau đến tận Hà Tiên biên giới Việt Nam – Campuchia. Với tổng diện tích RNM 2.894 ha (Sở NN&PTNN Kiên Giang, 2014).

Trong tổng số 39 loài cây RNM của Việt Nam thì Kiên Giang có 27 loài (Norm Duke, 2010), trong đó, thành phần loài cây RNM thì cây Mắm (Avicennia alba) là loài chiếm ưu thế, hiện diện trên 50% RNM ven biển. Đặc biệt ở đây có loài cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) thuộc loài cây quí hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam, được phân bố rãi rác ở bờ biển từ Hòn Đất đến Hà Tiên. Ngoài ra, Cóc đỏ còn phân bố tập trung ở các cửa sông huyện Phú Quốc, với diện tích trên 50ha với rất nhiều loài cây Cóc đỏ cổ thụ được khoanh nuôi bảo tồn tại Vườn Quốc gia Phú Quốc.

Theo Sở NN&PTNT (2014) hiện diện tích RNM vẫn đang tiếp tục giảm nhanh, tốc độ phá hủy RNM tỉnh Kiên Giang bình quân khoảng 3%/năm. Các nguyên nhân là do quá trình đô thị hóa, gió bão tàn phá, xói lở bờ biển,… Ngoài ra, còn do con người phá RNM để nuôi tôm công nghiệp, khai thác gỗ, củi quá mức. Hiện nay xói lở bờ biển là vấn đề nghiêm trọng nhất làm ảnh hưởng tới RNM tỉnh Kiên Giang. Theo Norm Duke (2010) nếu không có biện pháp ngăn chặn xói lở thì trong thời gian tới có khả năng mất thêm 30 km RNM dọc theo bờ biển.

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_m338f1e79

Hình 2. Hiện trạng xói lở bờ biển tỉnh Kiên Giang, 2010

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_1fef4469Chính điều này đã làm tăng diện tích đất hoang, tăng xâm nhập mặn, xói lở bờ biển và sông, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường. Trước nguy cơ này, tỉnh Kiên Giang đã triển khai trồng rừng theo chương trình 661 của Chính phủ để tái sinh RNM, kết quả sau 10 năm trồng mới chỉ được 500 ha rừng (tỷ lệ thành công khoảng 50%) tại các khu vực bãi bồi, còn ở những khu vực bị xói lở thì rừng trồng bị xóa sổ chỉ trong vòng một năm. Nguyên nhân khôi phục RNM không hiệu quả là do chọn giống, loại cây trồng rừng không tốt, thiếu sự bảo vệ cây con khỏi tác động sóng, ít có sự tham gia của cộng đồng, thiếu sự quan tâm, hợp tác và chỉ đạo của các ngành, các cấp trong việc trồng phục hồi RNM. Do đó, để phục hồi RNM có hiệu quả cần phải có một giải pháp toàn diện.

II. GIẢI PHÁP PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỀN BỀN VỮNG RNM KHU DTSQ KG

Việc được UNESCO công nhận là Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang (2006) đã thu hút được sự quan tâm và hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước. Trong thời gian qua với sự hỗ trợ của Dự án GIZ, tỉnh Kiên Giang đã thực hiện một số giải pháp khôi phục RNM, bước đầu đã đạt được kết quả khả quan ở khu vực bồi lắng và xói lở cao. Một số giải pháp đã thực hiện để khôi phục RNM tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua là:

2.1. Giải pháp kỹ thuật của GIZ

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_136622f82.1.1. Gieo ươm cây RNM trong vườn ươm

Mô hình ươm trồng rừng hỗn loài, gồm các cây Mắm, Bần, Dừa nước, Đước,… Hạt giống được tuyển chọn kỹ lưỡng từ tự nhiên. Cây con được ươm trong vườn ươm dưới tán rừng và được tưới bằng nước triều lên xuống mỗi ngày. Cây đem trồng là những cây có quy cách cao từ 70cm trở lên tùy vào thời điểm trồng.

2.1.2. Xây dựng hàng rào chắn sóng

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_m44093916Hàng rào chắn sóng được thiết kế nhằm làm giảm năng lượng sóng ở những khu vực có sóng hoạt động mạnh, từ đó giúp ổn định các khu vực bờ biển đang bị xói lở. Hàng rào giúp giảm tình trạng mất RNM do xói lở và tạo điều kiện cho rừng phục hồi thông qua trồng hoặc tái sinh tự nhiên nhờ lượng phù sa được tích lũy. Chúng cũng giúp ngăn chặn lượng rác trôi dạt từ biển vào làm vùi lấp cây con mới trồng. Hàng rào chắn sóng được thiết kế gồm hai dãy hàng rào cách nhau 0,5 m. Khoảng cách giữa hai lớp rào được chèn bằng các cành và nhánh cây nhỏ có khả năng di động khi có sóng và hấp thu năng lượng sóng.

Ơ những khu vực có xói lở cao, hàng rào chắn sóng nên được xây dựng cách bờ biển khoảng 30m hoặc ở vùng nước có độ sâu khoảng 1m khi triều cao. Ở những khu vực có xói lở thấp hoặc bồi lắng, hàng rào nên được xây ở vị trí có mức triều thấp.

2.1.3. Xây dựng hàng rào giữ bùn

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_5c0214c8Hàng rào giữ bùn được thiết kế nhằm giảm năng lượng sóng ở những khu vực có nhiễu động trung bình, nhằm giữ phù sa bồi lắng trong mùa mưa, tạo điều kiện cho lớp bùn phát triển thành bãi bồi cho hệ rễ của cây con bám trụ và sinh trưởng. Hàng rào này cũng giữ lại hạt giống cho tái sinh tự nhiên. Với chi phí thấp, kiểu hàng rào này có thể thiết lập trên các khu vực bị xói lở ít nhằm hỗ trợ khôi phục thông qua tái sinh tự nhiên, hoặc xây bên trong hàng rào chắn sóng ở những khu vực bị xói lở nghiêm trọng. Khi có hàng rào chắn sóng kèm theo, hàng rào này cũng có thể ngăn chặn rác tích tụ vào khu vực rừng trồng làm vùi lấp cây con.

2.2. Giải pháp cải thiện sinh kế

Bên cạnh những giải pháp về kỹ thuật thì việc cải thiện sinh kế cho người dân là việc làm hết sức cần thiết, nhằm giảm áp lực khai thác RNM.

2.2.1. Hỗ trợ của các sở, ban ngành và chính quyền địa phương

-Đẩy nhanh việc thực hiện chủ chương giao đất, khoán rừng phòng hộ, theo cơ chế 7:3 của UBND tỉnh. Đến nay tổng số hộ được giao khoán là 2.056 hộ với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 6.507,87 ha. Bên cạnh đó còn hỗ trợ đầu tư khoanh nuôi tái sinh rừng và khoán bảo vệ rừng phòng hộ. Đồng thời tỉnh đã có một số chính sách hỗ trợ vay vốn và hỗ trợ kỹ thuật để phát triển kinh tế nhằm giảm sức ép lên RNM.

– Ngoài ra, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã chủ động triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất như: Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật lấy nước biển phục vụ nuôi tôm tại huyện Kiên Lương; Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình nuôi chuyên cua và nuôi xen tôm sú dưới tán rừng phòng hộ tại 02 huyện An Biên và An Minh, tỉnh Kiên Giang; Nghiên cứu ứng dụng đập di động thay thế đập thời vụ vào sản xuất nông nghiệp và thủy sản khu vực ven biển; Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phát triển nghề nuôi thủy sản bằng lồng bè trên vùng biển xã Nam Du, huyện Kiên Hải; Ứng dụng tiến bộ KH&CN xây dựng mô hình 1 lúa – 1 tôm xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất và huyện U Minh Thượng; Nghiên cứu, đề xuất và triển khai các biện pháp cộng đồng bảo vệ và khai thác giống Sò huyết tự nhiên tỉnh Kiên Giang.

– Sở KH&CN phối đã hợp cùng với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh hỗ trợ cho các đơn vị cấp huyện, xã trong việc viết đề xuất dự án các mô hình sinh kế ven biển nhằm cải thiện thu nhập cho người dân: Nuôi trồng thuỷ sản, cây trồng và vật nuôi phù hợp sinh thái ven biển; chuyển đổi nghề, tận dụng các sản phẩm từ rừng và dưới tán rừng, khai thác thuỷ sản bền vững.

2.2.2. Hỗ trợ của Dự án GIZ

– Cải thiện giá trị của cây Tràm (Melaleuca cajuputy) bằng cách sử dụng Tràm làm hàng rào chắn sóng hay giữ bùn như đã trình bày ở trên; Sử dụng trực tiếp lao động địa phương xây dựng các hàng rào nhằm tạo việc làm cho nông dân; Tỉa thưa tăng thu nhập từ các khu vực rừng Tràm bị thoái hoá; Sử dụng hiệu quả đất trống, đất hoang hoá trong phục hồi rừng nhằm duy trì và nâng cao độ che phủ rừng;…

– Hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật cho người dân thực hiện một số mô hình sinh kế bền vững; Trồng hoa màu, nuôi cá Sặc rằn ở huyện U Minh Thượng; Trồng Dừa dứa và nuôi cá Chẽm ở huyện Hòn Đất, An Minh; Mô hình tổ hợp tác nuôi Sò huyết dưới tán RNM.

2.3. Giải pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức

2.3.1 Các sở, ban ngành và chính quyền địa phương

– Nâng cao năng lực cho các cán bộ địa phương về quản lý RNM và ứng phó với BĐKH bằng hình thức tổ chức, cử cán bộ tham gia các đợt tập huấn, hội thảo và đi học tập kinh nghiệm về trồng RNM, ứng phó BĐKH,…

– Thường xuyên tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và kiến thức ứng phó với BĐKH như “Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường”, “Ngày Môi trường Thế giới” (5/6), ngày Đa dạng sinh học,…

2.3.2 Hoạt động của Dự án GIZ

– Dự án cũng đã tổ chức 26 lớp tập huấn như: Nâng cao trình độ tiếng Anh; Điều khiển phương tiện thủy nội địa và một số kỹ thuật sửa chữa tàu cao tốc; Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; Tổ chức cho đoàn cán bộ lãnh đạo BQL Khu DTSQ KG đi tham quan, học tập kinh nghiệm quản lý về BĐKH, môi trường, du lịch, nông nghiệp, phát triển rừng và ngành thương mại thuỷ sản tại Úc, Đức, Hà Lan, Pháp và Brazil (Nam Mỹ) đã góp phần nâng cao năng lực cho khoảng 904 cán bộ trong tỉnh.

– Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, BĐKH và đa dạng sinh học biển cho nông dân và ngư dân vùng ven biển được tổ chức thường xuyên tại nhiều địa phương của tỉnh.

– Bên cạnh đó còn tuyên truyền nâng cao giáo dục nhận thức môi trường cho giáo viên, sinh viên và học sinh trong tỉnh. Số giáo viên được dự án hỗ trợ đào tạo: 1.749 giáo viên; Biên soạn và phát hành các tài liệu giáo dục môi trường cho các trường học trong tỉnh (hơn 9.000 bộ sách đã được chuyển giao đến 15 Phòng Giáo dục huyện trong tỉnh Kiên Giang). Hàng năm, Dự án GIZ KG phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh phát động cuộc thi vẽ tranh với các chủ đề về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học,… tại một số trường trung học cơ sở trong tỉnh.

– BQL Khu DTSQ KG đã phối hợp với Dự án GIZ Kiên Giang, Đài Truyền hình Việt Nam VTV2 đi hiện trường thực hiện phim chuyên đề “RNM Kiên Giang trước thách thức Biến đổi khí hậu”; Đài Truyền hình Việt Nam VTC16 và VTV Cần Thơ thực hiện phóng sự về hoạt động ứng phó với BĐKH của mô hình hàng rào chống xói lở phục hồi RNM tại ấp Vàm Rầy, huyện Hòn Đất; Kênh truyền hình Bloomberg tại Hà Nội thực hiện phóng sự về tác động của BĐKH đến sinh kế người dân tại một số khu vực bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn của tỉnh Kiên Giang,…

III. HIỆU QUẢ TỪ PHỤC HỒI RNM KHU DTSQ KG

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_m21868314Thành công của mô hình khôi phục RNM ở Kiên Giang đã góp phần bảo vệ bờ biển là làm giảm thiểu tác động của sóng biển, mở ra lối thoát cho những vùng ven biển bị ảnh hưởng nghiêm trọng của sóng biển và triều cường gây xói lở ảnh hưởng tới hệ sinh thái và đời sống của người dân ở khu vực này. Ở những khu vực RNM trước kia bị xói lở nghiêm trọng đến nay đã thấy có dấu hiệu phục hồi. Bên cạnh đó cuộc sống người dân ở khu vực này đã dần được cải thiện so hơn với trước đây.

Kết quả thực hiện mô hình phục hồi RNM cho thấy những khu vực có nguy cơ xói lở cao thì thực hiện xây dựng hàng rào phá sóng kết hợp hàng rào giữ bùn, đã bảo vệ được đoạn đê dài 500m, bảo vệ 3 ha (60m x 500m) rừng được phục hồi phía trước đê, 25 ha (500m x 500m) đất nông nghiệp phía sau đê). Còn ở khu vực xói lở ít chỉ xây dựng hàng rào giữ bùn, cũng cho thấy kết quả khả quan là đã bảo vệ được đoạn bờ biển dài 900m, bảo vệ 9 ha (900m x 100m) RNM hiện hữu phía trước đê, 45 ha (900m x 500m) đất nông nghiệp phía sau đê).

Một số hiệu quả của mô hình khôi phục RNM Kiên Giang mang lại như sau:

3.1. Hiệu quả về mặt kỹ thuật.

3.1.1. Hiệu quả của các loại hàng rào cừ tràm trong việc giảm năng lượng của sóng biển: giảm năng lượng sóng từ 50 – 67% tùy thuộc vào kết cấu rừng ở mỗi nơi.

3.1.2. Bồi lắng và ổn định phù sa: Hàng rào giúp giữ cho lớp phù sa bồi lắng từ đầu mùa mưa không bị cuốn trôi vào nửa cuối mùa mưa khi có tác động sóng do gió mùa tăng cường hoạt động.

3.1.3. Nâng cao thay đổi đa dạng sinh học: Hàng rào tràm có tác dụng bớt năng lượng của sóng trong khi vẫn cho phép các loài sinh vật tự do di chuyển ra vào khu vực bảo vệ. Sau 2 năm kể từ khi thực hiện hàng rào, cho thấy có sự gia tăng thành phần và số lượng loài sinh vật. Khu vực nghiên cứu có độ đa dạng sinh học đạt tương đương với khu vực RNM gần đó.

3.1.4. Nâng cao tỷ lệ sống sót và sinh trưởng của cây con

Phuc Hoi RNM Khu DTSQ KG (TS.Niem)_html_m706d2c7fHàng rào tràm giúp nâng cao tỉ lệ sống sót của cây con mới trồng bằng cách giảm tiếp xúc của chúng đối với tác động sóng và tính dao động theo mùa của bồi lắng phù sa và tránh bị rác vùi lấp. Tỉ lệ sống sót của cây con ở các khu vực hàng rào đôi (hàng rào phá sóng kết hợp hàng rào giữ bùn) cũng rất cao, vào khoảng 82%. Tỉ lệ sống sót trong khu vực có sóng lớn với chỉ một hàng rào chắn sóng bị suy giảm nhưng vẫn khá cao, vào khoảng 57%.

3.1.5. Tái sinh tự nhiên của RNM

Ở khu vực có hàng rào đơn cho thấy có 500 cây con tái sinh tự nhiên/1 ha sau hai năm; Khu vực có hàng rào đôi có mật độ tái sinh cao hơn với 1.100 cây/ha; Khu vực có cây ngập mặn kết hợp với hàng rào giữ bùn có mật độ tái sinh là 2.200 – 3.700 cây/ha và có nơi tăng thêm đến 300 cây/ha chỉ sau 3 tháng. Cây tái sinh tự nhiên mọc nhanh gấp hai lần cây trồng, hoặc cao hơn đối với loài Đước (Rhizophora apiculata) và Dừa nước (Nypa fruticans).

Kết quả nghiên cứu cho thấy là cây Mắm (Avicennia spp.) tái sinh và sinh trưởng nhanh, là loài cây tiên phong trong RNM ở đây. Sau 15 tháng thực hiện mô hình thì nhiều cây con thuộc các loài ngập mặn thuộc diễn thế thứ sinh như Vẹt (Bruguiera spp.) và Dà (Ceriop spp.) cũng tái sinh. Thảm thực vật này đã phát triển thành rừng thứ sinh với nhiều dây leo và các loài cây khác, chỉ sau hai năm từ khi hàng rào được xây dựng.

3.2. Hiệu quả về sinh kế

– RNM được khôi phục đã giúp bảo vệ đê biển và các công trình nhà ở, đường xá và đất sản xuất nông nghiệp ở phía bên trong đê. Người dân có thể yên tâm lao động sản xuất, góp phần đáng kể cho việc phát triển KT-XH của địa phương.

– Nhờ có RNM nên rất nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao sinh trưởng, phát triển một cách tự nhiên. Nhiều hộ dân nơi đây thu nhập trên 200.000 đồng/ngày nhờ vào việc khai thác nguồn lợi thủy sản mà không cần phải đầu tư con giống, không tốn thời gian hay công sức chăm sóc.

– Ngoài ra đã nhiều hộ dân còn mạnh dạn đầu tư trồng trọt, nuôi trồng thủy sản cho thu nhập bình quân khảng 40 triệu đồng/năm.

3.3. Hiệu quả nâng cao nhận thức

Kết quả hoạt động tuyên truyền đã đem lại hiệu quả và sự chuyển biến đáng mừng. Thông qua công tác tuyên truyền và các hoạt động truyền thông đã giúp cán bộ, nông dân, học sinh và sinh viên thấy được tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Từ đó có nhận thức đúng đắn trong việc bảo vệ môi trường, việc sử dụng nguồn nước sạch, có ý thức giữ gìn vệ sinh gia đình, cộng đồng; quan trọng hơn là làm thay đổi hành vi về bảo vệ môi trường, tự nguyện tham gia bảo vệ RNM và thành lập câu lạc bộ nông dân tham gia bảo vệ môi trường.

IV. ĐỊNH HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI

– Triển khai thực hiện các nghiên cứu khoa học hỗ trợ cho việc trồng, phục hồi RNM và nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao thành tựu khoa học công nghệ phục vụ sản xuất góp phần nâng cao sinh kế cho người dân ở khu vực RNM như: Nghiên cứu sự xói lở vùng ven biển tỉnh Kiên Giang do hệ thống thoát lũ từ vùng Tứ giác Long Xuyên ra biển; Nghiên cứu, đề xuất và triển khai các biện pháp cộng đồng bảo vệ và khai thác giống Sò huyết tự nhiên,…

– Nhân rộng mô hình trồng RNM ở huyện Hòn Đất ra một số khu vực ven biển khác trong tỉnh Kiên Giang cũng như các tỉnh khác có điều kiện tương tự.

– Nghiên cứu đưa ra cơ chế chính sách đầu tư cho quản lý, bảo vệ RNM và đưa ra những giải pháp mới thúc đẩy quản lý bền vững RNM.

– Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng; phổ biến quảng bá các mô hình nông lâm kết hợp đạt hiệu quả, như mô hình nuôi trồng thủy sản dưới tán RNM, mô hình trồng cây ăn quả kết hợp với gà thả vườn; Nghiên cứu và tuyển chọn các giống cây trồng thích nghi trên các dạng lập địa, khuyến khích mở các vườn ươm cây giống chất lượng, hỗ trợ cung cấp cây giống cho người dân./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ban quản lý rừng phòng hộ An Minh-An Biên, 2010. Báo cáo hiện trạng thực hiện quyết định số 51/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh Kiên Giang.

Chu Văn Cường, 2012. Kế hoạch phục hồi RNM và quản lý xói lở vùng bờ biển Kiên Giang, Việt Nam.

Duke NC, 2008. Mangrove and Climate change: Observations of two mangrove areas of Kien Giang province, including the districts of Hon Dat and An Minh, Report to GTZ Kien Giang Biosphere Reserve Project, Centre for Marine Studies, University of Queensland.

Duke, N.C, Wilson, N, Mackenzie, J & Nguyen Hai Hoa, 2009. An Interim report on the current status of GTZ Kien Giang Shoreline and management projects for periods up to July – August 2009. Kien Giang Province, Vietnam. 45 pages.

GIZ Kiên Giang, 2013. Phục hồi vùng ven biển và RNM bằng hàng rào cừ tràm: Kinh nghiệm và thực tiễn.

GIZ Kiên Giang, 2011. Biến đổi khí hậu, bảo tồn và phát triển: Bài học kinh nghiệm và giải pháp thực tiễn.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Kiên Giang, 2014. Báo cáo thuyết minh kết quả kiểm kê rừng tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2013 – 2016.

UBND tỉnh Kiên Giang, 2006. Báo cáo kết quả rà soát, qui hoạch 3 loại rừng tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006-2015.

TS. Nguyễn Xuân Niệm, ThS. Lê Thanh Việt, ThS. Huỳnh Hữu To

ThS. Lý Minh Tài, KS. Nguyễn Thanh Hải, KS. Phạm Văn Giàu.

(BQL Khu DTSQ Kiên Giang)

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

One comment

  1. Ở VN có cái kỳ cục là khi mà chính quyền địa phương(phần nhiều câu kết với bọn lâm tặc chuyên phá rừng) để cho sinh thái nhiều vùng đặc biệt có giá trị bị xâm hại tàn bạo không kể xiết (chẳng hạn các chỗ gọi là “Rừng Quốc gia” Cúc Phương,Cát Tiên,Bạch Mã,Yok Đôn…những vùng ngập mặn ở Cà Mau,Kiên Giang v.v…)có nhiều loại động và thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc sắp tuyệt chủng…thì mới vận động thành lập những nơi gọi là “khu dự trữ sinh quyển”,không biết dự trữ cái gì ? Điều đó phản ánh trình độ ngu dốt của bọn cán bộ cộng sản VN,chỉ giỏi nhậu nhẹt và…ăn hối lộ từ thời 1975 đến giờ.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s