Bác sĩ NGUYỄN ANH HUY – MỘT SỐ Ý KIẾN PHẢN BIỆN VỀ CÔNG TRÌNH “CUNG ĐIỆN, ĐAN DƯƠNG LĂNG”(1)

Đã gần trăm năm nay, việc tìm kiếm lăng mộ hoàng đế Quang Trung vẫn là một vấn đề trăn trở, nhức nhối và nhiêu khê của giới Sử học Huế; đại khái là có 2 địa điểm đang được nghiên cứu, mổ xẻ, tranh cãi:

-Lăng Ba Vành: có các nhà nghiên cứu như Nguyễn Thiệu Lâu, Nguyễn Hữu Đính, Trần Viết Điền…

-Cung điện / lăng Đan Dương: do nhà nghiên cứu NDX (NncNĐX) tiến hành.

Liên quan đến công trình lăng Đan Dương, NncNĐX đã xuất bản 2 quyển sách:

1, Dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung(2).

2, Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế(3).

Đọc 2 công trình trên, tôi rất cảm phục lòng say mê tìm tòi tư liệu và nghiên cứu thực địa của NncNĐX; tuy nhiên, nội dung 2 quyển sách trên tương hỗ lẫn nhau, và có rất nhiều điểm suy diễn tùy tiện, khiên cưỡng. Vì những chổ suy diễn khá nhiều, không thể bình phẩm quá dài dòng, do vậy, tôi chỉ xin góp ý và phản biện mấy vấn đề chính sau:

I. VỀ CUNG ĐIỆN ĐAN DƯƠNG, PHỦ DƯƠNG XUÂN:

1. Những chứng cứ văn học thời Tây Sơn đều không chuẩn:

Chúng ta đã đọc công trình về lăng Đan Dương của NncNĐX, thấy tác giả chủ yếu dựa vào các chú thích của thơ văn của tiến sĩ Ngô Thì Nhậm và tiến sĩ Phan Huy Ích; tuy nhiên, nếu xem lại các chứng cứ này, ta sẽ thấy như sau:

1.1. Về câu “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta”:

Câu này được in ở Hình A.001(4), đối chiếu với nguyên bản chữ Hán trong Hình A.124b(5), ta đọc và sẽ thấy như sau: “… 丹 陽 宮 殿 奉 我 (?) (?) 先 皇 臧 宝 衣 之 山… (Đan Dương cung điện phụng ngã (?) (?) tiên hoàng tàng bảo y chi sơn…)”. Riêng câu chữ Hán này, có 2 vấn đề nghi vấn:

– Giữa chữ “(ngã)” và chữ “(tiên)” ở dòng số 9, xem hình đã dẫn, từ phải qua, có 2 ô để trống, tương đương với 2 chữ ! Hai chữ để trống đó là 2 chữ gì ?, và nhiều dòng khác có nhiều chữ để trống, vì sao trống ??? Lẽ nào Ngô Thì Nhậm là một tiến sĩ nho học, một văn sĩ nổi tiếng, mà thiếu thẫm mỹ đến nỗi khi viết văn xuôi, các hàng chữ khi đầy khi vơi như thế ???

– Chữ số 5 từ trên xuống của dòng đã dẫn, đã được nhiều nhà Hán học đọc là “(ngã)”, đồng thời bỏ qua 2 chữ trống đã nói, để đọc liên tục với chữ “tiên hoàng” nên dịch là “tiên hoàng ta”; nhưng nếu có 2 chữ để trống (không rõ là chữ gì ?) thì không thể bỏ qua 2 chữ trống để dịch như thế được nữa !; hơn nữa, chữ số 5 ấy rất giống với chữ “(vũ)”, chứ chưa chắc đã là chữ “(ngã)”!

Hai phân tích trên, cho thấy câu chữ Hán trên không đủ tính chân xác để lấy đó làm căn cứ !

1.2. Về nguyên tác chú giải của Phan Huy Ích:

Xem hình A.013(6), dòng 6 từ phải sang trái, ta thấy chữ Hán viết là “太 師 裴 得 宜 (Thái sư Bùi Đắc Nghi)” !, bên cạnh đó, chữ “(nghi)” bị gạch bỏ và viết thêm chữ “(Tuyên)” ! Lẽ nào Phan Huy Ích, là người đã làm việc trực tiếp với Bùi Đắc Tuyên, và là tiến sĩ nho học, văn sĩ nổi tiếng, nhưng kém đến nỗi viết sai chữ “(Tuyên)” thành chữ “(Nghi)” ???

Điều này cho thấy chú giải này và văn bản là do người thời sau chép và chú giải thêm, khi chép, đọc không kỹ, đã đọc nhầm từ chữ “(Tuyên)” thành chữ “(Nghi)” và viết lại như thế !, đến khi các dịch giả biết viết sai nên đã thêm chữ “(Tuyên)” bên cạnh.

Hai chứng cứ vừa dẫn về nguyên tác chữ Hán, cho thấy đây không phải là thủ bút của Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, và có thể do người sau này chép lại, và như thế các chú thích ấy có thể đã bị chép sai ! và không có giá trị như một chứng cứ khoa học ! Vả lại, ta được biết thông thường văn thi sĩ ngày xưa viết thơ văn không hề có chú thích điển tích, mà những sự chú thích thường là do người đời sau diễn nghĩa lại ! Vậy cái câu “Lúc bấy giờ, bọn tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu”(7) trong chú thích thơ Phan Huy Ích, mà NncNĐX dùng làm một chứng cứ để bình xét, cũng có thể do người đời sau chú thêm !

2. Về phủ Dương Xuân bị mất tích:

2.1. Hai chữ “兵 亂 (binh loạn)”(8) không phải chỉ thời Tây Sơn:

Để tìm cách giải thích các từ “giếng loạn, mã loạn…”, NncNĐX đã dẫn trong Đại Nam Nhất Thống Chí(9) câu “tự kinh binh loạn kim thất kỳ xứ” và cho rằng “binh loạn” ở đây chỉ thời Tây Sơn !

Cách giải thích này quá khiên cưỡng, suy diễn tùy tiện ! Chúng ta biết rằng ở Phú Xuân thời đó có 3 lần bị đánh chiếm gần nhau:

– Cuộc đánh chiếm thứ nhất: cuối năm âm lịch Giáp Ngọ (1774), tức đầu năm 1775, quân chúa Trịnh chiếm được Phú Xuân, chúa Nguyễn phải chạy vào nam.

– Cuộc đánh chiếm thứ hai: năm 1786, Nguyễn Văn Huệ chiếm được Phú Xuân từ tay quân Trịnh.

– Cuộc đánh chiếm thứ ba: năm 1801, Nguyễn vương Phúc Ánh trở lại Phú Xuân, đánh đuổi quân Tây Sơn chạy ra bắc.

Nhưng đọc kỹ lại các sử sách triều Nguyễn, ta thấy rõ để chỉ đối tượng Tây Sơn thì sử thần triều Nguyễn gọi là “Ngụy” như “Ngụy Tây, ngụy hiệu (niên hiệu của ngụy Tây Sơn)… chứ không dung chữ “loạn”. Do vậy, 2 cuộc đánh chiếm thứ 2 và thứ 3 không thể chỉ chữ “binh loạn” trong câu vừa dẫn, và chữ “loạn” không hề ám chỉ thời Tây Sơn như NncNĐX đã giải thích ! Như vậy, “binh loạn” ở đây kể sự kiện quân Trịnh đánh chiếm Thuận Hóa năm Giáp Ngọ.

Một chứng cứ khác cho thấy sử thần triều Nguyễn dùng chữ “loạn” chỉ sự cố chúa Trịnh chiếm Thuận Hóa năm Giáp Ngọ là: “(1801)… Tháng 9… Ngày Đinh Hợi, nước sông Hương trong. Nguyên là từ cuộc LOẠN NĂM GIÁP NGỌ thì nước sông lại thành đục, tới nay kinh đô cũ đã lấy lại được, nước sông lại trong hơn mọi khi. Người ta đều biết là triệu chứng thái bình”(10).

Vả lại, chữ “binh loạn” ở trong câu “tự kinh binh loạn kim thất kỳ xứ” để giải thích sau cuộc binh loạn này, chỉ việc quân Trịnh chiếm Thuận Hóa năm 1775, thì phủ Dương Xuân bị biến mất là đúng. Bởi vì, khi quân Trịnh chiếm được Phú Xuân, đã phá dinh thự của chúa Nguyễn để lấy gỗ đem về làm củi được Lê Quý Đôn chép lại như sau: “Dinh Phú Xuân của họ Nguyễn có nhà quan và nhà lính tới mấy vạn nhà. Từ tháng giêng năm Ất Mùi, quan quân đóng đồn, tướng sĩ và binh lính theo làm việc có hơn 3 vạn người, mặc ý đi lấy củi, lâu ngày phá rỡ, dân gian nhân đó mà lấy trộm cũng không ngăn cấm, mấy năm đốt cháy, không những gỗ kiền kiền, gỗ sao, đến cả gỗ trắc và gỗ giáng hương chứa đầy một gian để làm củi. Mùa xuân năm Bính Thân mở trường đúc tiền, lại lấy làm than. Lập dinh trấn thủ, lại lấy để làm phòng ốc cho các cơ đội các quân, dùng hãy còn thừa. Đến tháng 5 mới sai các quân đi lấy củi ở núi Hòn Chén, cấm không được dỡ nhà quan nữa. Nhưng trường tiền đốt than một lần đã dỡ đến bốn năm chục gian chưa thôi…”(11).

Chính trong dịp này, có thể phủ Dương Xuân đã bị quân Trịnh phá lấy gỗ nên “biến mất” là hợp lý về mặt thời gian. Khi quân Trịnh chiếm được Phú Xuân năm 1775 và phá phủ Dương Xuân lấy gỗ làm củi, quân thần chúa Nguyễn đã vào Nam, cho đến năm 1801 mới trở lại Phú Xuân thì trong 26 năm ấy, quân thần chúa Nguyễn đã qua một thế hệ mới, các sử thần triều Nguyễn chép phủ Dương Xuân bị “mất tích” là hợp lý. Chứ nếu phủ Dương Xuân bị xóa sổ trong thời chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn vương Phúc Ánh thì sự việc mới gần đó, sử thần triều Nguyễn không thể không biết dấu vết !

2.2. Về gạch đá ở khu vực chùa Thiền Lâm không thể là lăng mộ của Quang Trung:

Để hỗ trợ cho sự suy diễn của mình về phủ Dương Xuân thời chúa Nguyễn bị Nguyễn Văn Huệ biến thành cung điện Đan Dương, sau đó điện Đan Dương của Tây Sơn bị Nguyễn vương Phúc Ánh phá bỏ, NncNĐX cho rằng gạch đá ở chùa Thiền Lâm chính là cung điện Đan Dương của Tây Sơn bị vua Gia Long triệt hạ. Tìm hiểu lại chùa Thiền Lâm, ta được biết: “Ở xã An Cựu. Tương truyền Hòa thượng Thạch Liêm lập nên, cảnh trí u tịch. Khi trước, Thái sư Tây Sơn là Bùi Đắc Tuyên chiếm ở, sau Tuyên bại, người trong ấp nhân đó sửa lợp lại. Trong niên hiệu Gia Long, Thừa Thiên Cao hoàng hậu quyên tiền trùng tu…”(12).

Sự trùng tu này, năm 1845, Tùng Thiện Vương đến thăm chùa, đã được nghe một cụ già ở chùa kể lại sự trùng tu 40 năm trước, và cảm tác thành bài thơ trong đó kể sự trùng tu mệt nhọc, tốn kém như sau: “Ngày trước khai sơn lo kiến thiết, / Khuân đá, chở cây, lắm nhọc mệt, / Tốn vạn nhân công mới hoàn thành…”(13).

Cuối thế kỷ XIX, do mở Nam Giao tân lộ, chùa đã bị phá nên ngày nay mới còn gạch đá rất nhiều; và như vậy chúng ta không thể biết được quy mô toàn thể công trình, khuôn viên chùa Thiền Lâm trước khi mở Nam Giao tân lộ là ở chổ nào và như thế nào ?!

Vả lại, nếu khu vực chùa Thiền Lâm là cung điện Đan Dương, là lăng Quang Trung như NncNĐX khẳng định; lẽ nào Thừa Thiên Cao hoàng hậu, nguyên phối của vua Gia Long lại đi quyên tiền xây mộ cho kẻ thù không đội trời chung với chồng mình, gia đình mình, tổ tiên mình, bản triều mình… ???

II. VỀ CHÙA TIÊN, BÀ CHÚA TIÊN:

1. Những chứng lý khoa học cần bàn:

Chùa Kim Tiên ( ) là một ngôi chùa cổ được ghi lại như sau: “Ở ấp Bình An. Tương truyền chùa nầy do Hòa thượng Bích Phong làm ra, đời vua Thế Tông bản triều trùng tu, sơn thiếp xanh vàng rực rỡ, trước dựng lầu Vọng Tiên, quy chế tráng lệ. Sau gặp nạn binh hỏa bỏ hoang phế, nay người trong ấp nhân theo nền cũ làm lại; trước chùa có giếng xưa sâu hơn 30 thước, nước rất trong sạch. Tương truyền xưa có tiên nữ ban đêm tắm ở giếng ấy, nên cũng có tên là giếng Tiên”(14).

Ở đây, ta lưu ý chữ “tiên ()” trong chùa Kim Tiên nghĩa là người trên trời xuống.

Sau khi nghiên cứu nhiều tài liệu, NncNĐX đã cho rằng “qua tài liệu lịch sử, văn thơ, văn học dân gian và thực tế ở địa phương có nhiều điểm trùng khớp ta có thể tin công chúa Ngọc Hân đã ở chùa Kim Tiên”(15), với những lý giải như sau:

1.1. Luận điểm 1: “Công chúa Ngọc Hân ở tại chùa Kim Tiên một thời gian khá dài nên cũng có biệt hiệu là bà chúa Tiên và chùa Kim Tiên còn được gọi là phủ bà chúa Tiên”(16).

-Chúng tôi chưa rõ đã có sử liệu nào ghi chép cụ thể rằng “Công chúa Ngọc Hân ở tại chùa Kim Tiên” không ?, hay căn cứ vào đâu để được biết rằng công chúa Ngọc Hân từng ở tại chùa Kim Tiên ?

-Và đã có sử liệu chính thống nào (?), gia phả nào (?) ghi chép rằng công chúa Ngọc Hân có một biệt hiệu là “bà chúa Tiên” ?, “và chùa Kim Tiên được gọi là phủ bà chúa Tiên” ?

Theo các giải thích của NncNĐX là ông dựa vào bài “Về cái chết của Ngọc Hân công chúa” của nhà thơ Quách Tấn có viết như sau: “Ngọc Hân mỹ hiệu là chúa Tiên…”(17).

Đọc dòng này, tôi cũng ước ao được hỏi nhà thơ Quách Tấn: dựa vào đâu để cho rằng “Ngọc Hân mỹ hiệu là chúa Tiên…” ?

Tuy nhiên, GIẢ SỬ (tôi chỉ “giả sử”) công chúa Ngọc Hân thật sự có một biệt hiệu là “bà chúa tiên”, thì theo tôi, tôi hiểu đơn giản như thế này:

Hai chị em công chúa con vua Lê là Lê Ngọc Hân (chị) và Lê Ngọc Bình (em) được làm hoàng hậu (bà chúa) hai cha con Nguyễn Văn Huệ (cha, tức vua Quang Trung) và Nguyễn Quang Toản (con, tức vua Cảnh Thịnh). Sau khi vua Quang Trung chết, để phân biệt giữa bà chúa trước (tức Ngọc Hân, còn sống) với bà chúa sau (tức Ngọc Bình, cũng đang sống), người ta đã gọi Ngọc Hân là “bà chúa tiên ()”, tức bà chúa đầu tiên / bà chúa trước.

Vậy thì, chữ “tiên (, nghĩa là trước)” trong “bà chúa tiên ()”, hoàn toàn khác hẳn với chữ “tiên (, nghĩa người ở trên trời)” trong chùa Kim Tiên !, do đó, không thể giải thích là “được ở tại chùa Kim Tiên… Từ đó, Bà có mỹ hiệu là bà Chúa Tiên”(18) !

1.2. Luận điểm 2: “Cảnh quan thực của chùa Kim Tiên lúc ấy đã được bà Ngọc Hân phản ảnh lại trong Ai Tư Vãn. Và như thế ta có thể tin Ai Tư Vãn đã được viết ngay tại ngôi chùa này”(19)!

-Lý giải thêm về chữ “Cầu Tiên” trong câu số 3 của bài Ai Tư Vãn, do Lê Ngọc Hân làm, “Theo nghiên cứu của NĐX, cầu Tiên bắc qua sông Tiên trên con đường từ cung điện Đan Dương qua chùa Kim Tiên”(20).

Dừng ngang đây, tôi xin trình bày rằng tôi đã xem kỹ địa chí do triều Nguyễn ghi chép(21), mô tả về các con sông, suối, khe, ngòi… ở Thừa Thiên Huế, không hề thấy có con sông / suối / khe nào tên là “sông / suối / khe Tiên” cả !, và cũng không thấy có cầu nào tên là “cầu Tiên” cả !

NncNĐX giải thích thêm: “Cầu Tiên là chiếc cầu bắc qua suối Tiên nối liền con đường đi từ điện Đan Dương, chùa Thiền Lâm qua chùa Kim Tiên… Sử nhà Nguyễn gọi là cầu ván Dương Xuân Hạ, dài 51 thước 5 tấc, rộng 6 thước 4 tấc (dài 12 mét, rộng 1,5 mét)”(22).

Thật ra, đây là “Hai cầu ván Dương Xuân Hạ: 1 cầu dài 51 thước 5 tấc, ngang 6 thước 4 tấc, do 1 bên thuộc địa phận xã Phú Xuân, 1 bên thuộc Dương Xuân Hạ; 1 cầu nữa thuộc xã ấy đi qua bờ đê xã Thọ Lộc dài 20 thước, ngang 4 thước 5 tấc, làm năm Thành Thái 16 (1904). Và có 1 cống ngang 3 thước, cao 3 thước 9 tấc”(23). Không hề ghi cầu này có tên là “Cầu Tiên” !, đã được NncNĐX gán ghép thành “cầu Tiên” !

Và NncNĐX đã giải thích thêm: “Tiếc rằng, cây “cầu Tiên” trong câu thơ trên mà THEO NHIỀU NHÀ NGHIÊN CỨU HUẾ cho rằng nó được bắc ngang qua khe chùa Tiên ngay trước chùa Kim Tiên, NGÀY NAY ĐÃ KHÔNG CÒN”(24) !

“Ngày nay đã không còn”, và ngày xưa cũng không có ghi chép, vậy nó tồn tại ở đâu ? Rất mong được giải thích thêm: “Theo nhiều nhà nghiên cứu Huế” là những nhà nghiên cứu nào ?, đã công bố đề tài nào về “cầu Tiên” ?

– NncNĐX đã giải thích những chữ “tiên” trong Ai Tư Vãn chính là quang cảnh chùa Kim Tiên:

…Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo,

Trước thềm lan hoa héo ron ron.

CẦU TIÊN khói tỏa đỉnh non,

Xe rồng thăm thẳm bóng loan dàu dàu…

…Não người thay, CẢNH TIÊN hương,

Dạ thường quanh quất, mắt thường ngóng trông…

… Nọ trông trời đất bốn phương,

CÕI TIÊN khơi thẳm biết đường nào đi.

CẬY AI CÓ PHÉP GÌ TỚI ĐÓ,

Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung…

Chữ “Cầu Tiên” ở đây là một điển tích mà Ngô Tất Tố đã giải thích(25); và cũng có thể có nghĩa là “cầu mong”, tuy nhiên, NncNĐX cho rằng đó là một cái cầu thật bắt qua sông / suối / khe ở chùa Kim Tiên !

Tôi thật khó hiểu, nên muốn hỏi thêm cho rõ: nếu đây là một cây cầu thật trước chùa Kim Tiên, lẽ nào trên cầu lại có bàn thờ lư hương nên “Cầu Tiên khói tỏa…” ?, và nếu đây là quang cảnh của chùa Kim Tiên, vì sao Ngọc Hân không viết là “KIM TIÊN / CHÙA TIÊN khói tỏa đỉnh non” cho dễ hiểu ?

Bởi nếu những chữ “cầu tiên, cảnh tiên, cõi tiên” vừa dẫn trên cũng là quang cảnh chùa Kim Tiên, nơi bà Ngọc Hân đang ở đó rồi, thì cần gì mà bà phải ước ao “Cậy ai có phép gì tới đó” ?

2.3. Trong bài Văn tế vua Quang Trung có câu: “Sương pha Cung Đỏ phấn mờ gương”, mà NncNĐX cho rằng “Cung Đỏ” chính là “điện Đan Dương”.

Tôi vốn chỉ hiểu biết ít và đơn giản, rằng chữ Hán và chữ Nôm vốn không có viết hoa, cho nên hai chữ “cung đỏ” viết theo lối Hán tự / chữ Nôm là một danh từ chung, ám chỉ cả phương Đông này phần lớn các cung điện đều được sơn son thếp vàng tức là màu đỏ; nhưng không rõ căn cứ vào đâu (?) mà khi phiên qua chữ quốc ngữ (hệ Latin), người ta đã tự ý viết hoa thành “Cung Đỏ” để tạo thành danh từ riêng như một địa danh, rồi gán ghép đó là “điện Đan Dương”, tức Đan lăng, lăng mộ của vua Quang Trung ?

NncNĐX giải thích thêm: “Đan Lăng qua nghiên cứu của chúng tôi, nằm ở bờ bắc suối Tiên trước mặt chùa Thiền Lâm ngày nay (số 150, Điện Biên Phủ, Huế)”(26).

Sự giải thích này cũng là một lý luận vòng vèo kiểu “-Trứng có trước hay gà có trước ?”(27), bởi như phần I đã phản biện, khu vực chùa Thiền Lâm không thể là nơi chôn cất Quang Trung như NncNĐX khẳng định !, bởi không thể nào Thừa Thiên Cao hoàng hậu, nguyên phối của vua Gia Long lại đi quyên tiền để trùng tu ngôi mộ của kẻ thù không đội trời chung với chồng mình, gia đình mình, tổ tiên mình, bản triều mình… được !!!

2. Vì ai nên nỗi sầu này ?

-Dân gian có truyền khẩu:

“Vì ai nên nỗi sầu này,

Chùa Tiên vắng khách, tớ thầy xa nhau !”.

NncNĐX giải thích: “”Tớ” là người dân trong xóm, và “Thầy” là mẹ con công chúa Ngọc Hân ?”(28). Tuy tác giả còn băn khoăn về cách giải thích của mình, nên đã đặt bằng một dấu hỏi (?), nhưng dù sao cách hiểu này cũng quá lạ đời: tại sao “Tớ” phải là người dân trong xóm ? còn “Thầy” phải là mẹ con công chúa Ngọc Hân ?

Chúng ta, ai cũng biết, thời Tây Sơn đã có chính sách dẹp các chùa và bắt các thầy tu phải hoàn tục để đi lính tham gia chiến tranh. Vậy thì tôi có thể hiểu một cách đơn giản như sau: một ngôi chùa thì có sư trụ trì (thầy), và có các điệu (tớ); khi Tây Sơn bắt giải tán chùa để cơ sở hoạt động của chính quyền Tây Sơn, thầy bị sung làm quân lính một nơi, trò lại ở một nẻo khác nên mới các sư mới than thở “tớ thầy xa nhau” !

– Vả lại, chúng ta có thể thấy:

Chùa Kim Tiên là một danh lam đã có từ xa xưa, đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (giữa thế kỷ XVIII) thì chùa được chúa quan tâm xây dựng tráng lệ… như đã mô tả !

Qua thời Tây Sơn, GIẢ SỬ (tôi chỉ xin “giả sử”) như thuyết của NncNĐX là đúng, thì chùa đã bị vợ chồng công chúa Ngọc Hân và chúa Tây Sơn là Nguyễn Văn Huệ chiếm dụng làm “Phủ bà chúa Tiên” để sống ở đây. Có nghĩa rằng “tớ thầy xa nhau” là do bị vợ chồng Ngọc Hân đuổi đi !, và nơi thờ Phật tôn nghiêm tráng lệ ấy đã bị trở thành một “gia thất” để sinh ra 1 trai, 1 gái. Từ đó cửa Phật không còn là nơi tôn nghiêm nữa !, cho nên mới có cảnh “chùa Tiên vắng khách…” !

Vậy, ta cũng nên thử đặt lại câu hỏi: “Vì ai nên nỗi sầu này ?” !

Giải thích là sau khi vua Quang Trung mất, công chúa Ngọc Hân tu Phật ở chùa này ư ? Chúng ta cứ khách quan đọc lại Ai Tư Vãn, mà theo như NncNĐX tìm mọi cách chứng minh nó được sáng tác tại chùa Kim Tiên, thì sau khi vua Quang Trung mất, ta thấy công chúa Ngọc Hân hằng ngày chỉ hồn bướm mơ tiên (“cầu tiên, cảnh tiên, cõi tiên”) với Nguyễn Văn Huệ, thậm chí còn vật vã cảm hoài: “Cậy ai có phép gì tới đó” !…

Qua những phân tích trên, chúng ta thấy rất cần phải xét lại: công chúa Ngọc Hân có liên quan gì với chùa Kim Tiên không ? có đáng được thờ trong chùa này không ?

III. THAY CHO LỜI KẾT:

Những nỗ lực tìm kiếm dấu tích cung điện Đan Dương của NncNĐX cho thấy một sự say mê về lịch sử Huế là rất đáng trân trọng; tuy nhiên, qua những phân tích và phản biện trên, đã cho thấy các chứng lý khoa học mà NncNĐX đưa ra, phần lớn là sự tự suy diễn cá nhân rồi đánh đồng làm chứng cứ lịch sử, do đó không đủ cơ sở để khẳng định khu vực chùa Thiền Lâm là nơi chôn cất thi thể Quang Trung, và công chúa Ngọc Hân đã từng ở tại chùa Kim Tiên !

Hơn nữa, các suy diễn của NncNĐX chủ yếu là dựa vào các chú giải thơ văn của Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm, mà như tôi đã chứng minh về mặt văn bản học, các tài liệu ấy đều do người đời sau viết, nên không có giá trị tham khảo; và như vậy, các suy luận của NncNĐX dựa trên thơ văn thời Tây Sơn này đều sai lệch !

Tuy nhiên, những khẳng định trên chưa phải quan trọng lắm !, mà hệ lụy của khẳng định đó mới là điều đáng bàn… Nếu chùa Kim Tiên thờ công chúa Ngọc Hân với lý do cá nhân vì mến mộ một danh nhân thì tôi không có ý kiến gì ! Nhưng nếu xây đền thờ, lập án thờ, bàn thờ vì lý do công chúa Ngọc Hân từng ở tại chùa Kim Tiên, thì việc làm này nên cẩn trọng, chớ có vội vàng để khi chuyện đã rồi thì xảy ra các điều đáng tiếc tương tự như việc xây dựng đền thờ công chúa Huyền Trân ở Ngũ Phong(29) !

Trực tại Bệnh viện, Trung Thu, 2015

NAH

Chú thích:

(1) Tham luận tại “Hội thảo về Cung điện Đan Dương” tổ chức tại Huế, ngày 30/10/2015.

(2) Nguyễn Đắc Xuân, Đi tìm Dấu tích cung điện Đan Dương (Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung), Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2015.

(3) Nguyễn Đắc Xuân, Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2014.

(4) Đi tìm Dấu tích cung điện Đan Dương, trang 14.

(5) Đi tìm Dấu tích cung điện Đan Dương, trang 356.

(6) Đi tìm Dấu tích cung điện Đan Dương, trang 56.

(7) Đi tìm Dấu tích cung điện Đan Dương, trang 58-59.

(8) Đi tìm Dấu tích cung điện Đan Dương, trang 110.

(9) Đi tìm Dấu tích cung điện Đan Dương, trang 84.

(10) Quốc sử quán triều Nguyễn (Nguyễn Ngọc Tĩnh dịch), Đại Nam Thực Lục, Nhà xuất bản Giáo Dục, 2002, Tập 1, trang 467.

(11) Lê Quý Đôn (Bản dịch của Viện Sử học), Phủ Biên Tạp Lục, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, trang 320-321.

(12) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch), Đại Nam Nhất Thống Chí, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, 1961, Thừa Thiên phủ, trang 88.

(13) Trần Như Uyên, “Chùa Thiền Lâm qua hai bài thơ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương”, Nghiên Cứu Huế, Tập 5, 2003.

(14) Đại Nam Nhất Thống Chí, trang 86.

(15) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 83.

(16) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 103.

(17) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 139.

(18) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 16.

(19) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 83.

(20) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế. Xem chú thích số 3 cuối trang 42.

(21) Đại Nam Nhất Thống Chí, xem các mục “Khê Đàm” (trang 69-77), và “Kiều Lương” (trang 114-128).

(22) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 81.

(23) Đại Nam Nhất Thống Chí, trang 118-119.

(24) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 104.

(25) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 75.

(26) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 78.

(27) Cách giải thích của NncNĐX lòng vòng như thế này: Hỏi: Căn cứ vào đâu để biết công chúa Ngọc Hân có tên là “Bà chúa Tiên” ? Trả lời: vì bà đã từng tu tại chùa Tiên ! Hỏi: Căn cứ vào đâu để biết công chúa Ngọc từng tu tại chùa Tiên ? Trả lời: vì bà có tên là “Bà chúa Tiên” !

(28) Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, trang 81.

(29) Các chữ nghĩa được trình bày, trang trí trên đền thờ công chúa Huyền Trân ở Huế cho thấy người viết ra các chữ ấy rất thiếu hiểu biết !

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s