Nguyễn Thiếu Dũng – Tiếng Việt theo thể tam tài

hoctapTrước tiên chúng ta thử khảo sát hai từ cùng nghĩa ĐÈN và ĐĂNG. Đây là nhận xét của Bình-nguyên Lộc:

Các người ham bắt ta làm nô lệ Trung Hoa, chắc cho rằng ĐÈN là do ĐĂNG của Tàu. Nhưng Tàu đọc ĐĂNG là TẨN, mà TẨN thì quá xa ĐÈN, không như ĐIAN của Nam Dương. Và tiền sử học đã nói rõ là Lạc bộ Mã, khi di cư không có chịu ảnh hưởng của Tàu.

Chúng tôi có hai chứng tích cho rằng ta không học của Tàu:

I-       Tất cả đều dùng âm đầu Đ trong khi Tàu dùng T.

II-     Nhưng chứng tích đó rất yếu. Các nhà khảo cổ đã tìm được một cây ĐÈN của một đoàn trò xiếc, bọn ấy có đi ngang qua Cao Miên. Họ lại tìm được đèn đời Hán tại Trung Hoa. Đèn Trung Hoa và đèn La Mã xấu hơn đèn Đông Sơn nhiều lắm. Không lẽ thầy lại kém hơn trò? (BNL,Lột trần Việt ngữ, chương V)

Khác với Lê Ngọc Trụ cho 70% tiếng Việt có gốc từ Hán, gọi là tiếng Hán Việt, Bình-nguyên Lộc cho tiếng Việt thuộc khối Mã Lai ngữ nên một số tiếng HV không thuộc gốc Hán. Đây là một tiến bộ vượt bậc trong công cuộc nghiên cứu tiếng Việt, nhưng Đỗ Thành còn vượt xa hơn đã làm một cuộc cách mạng, cho tiếng Việt là gốc của tiếng Hán, anh đã phục nguyên bài Lang bạt trong kinh thi để minh chứng:

Bài Lang bạt xưa nay đều được hiểu một cách sai như nhau:


”Lang bạt 1
Lang bạt kỳ hồ,
Tái trí kỳ vĩ.
Công tốn thạc phu
Xích tích kỷ kỷ.

Dịch nghĩa
Chó sói bước tới thì đạp nhằm miếng da thòng ở cổ.
Thoái lui thì đạp nhằm cái đuôi.
Chu công từ tốn nhưng vinh quang to tát và đẹp đẽ.
Ngài mang đôi giày đỏ một cách rất tự nhiên trang trọng.

Chú giải của Chu Hy:

Chương nầy thuộc hứng.
Bạt, đạp lên.
Hồ, miếng da thòng ở trước cổ chó sói.
Tái, thì.
Trí, vấp váp.

Chó sói già thì có miếng da thòng ở dưới cổ, hễ tiến tới thì đạp nhằm miếng da thòng ở cổ ấy, thoái lui thì đạp nhằm cái đuôi.

Công, Chu công.
Tốn, khiêm nhường, từ tốn.
Thạc, to lớn.
Phụ, đẹp.
Xích tích, giày đỏ khi mặc lễ phục và đội mão.
Kỷ kỷ, dáng yên ổn trọng hậu.

Chu công dẫu bị lời phỉ báng nghi ngờ, nhưng cách xử trí của ngài không mất độ thường, cho nên mới được nhà thơ khen ngợi. Nói rằng: Chó sói bước tới thì đạp nhằm miếng da thòng ở cổ, thối lui thì đạp nhằm cái đuôi (ý nói tiến thoái đều khó khăn). Còn Chu công gặp phải biến cố vì lời phao truyền phỉ báng, mà cách ăn ở đi đứng vẫn an nhiên tự đắc như thế, bởi vì với đạo cao đức cả ngài vẫn được yên vui, đức hạnh ấy không thể nào nói xiết được. Cho nên tuy gặp đại biến, ngài vẫn không mất độ thường”.

(Theo Thi Viên. net)

Đỗ Thành có kiến giải khác:

Ở thời Chu, khoảng hơn 3000 năm trước, bài ca của người Việt được sưu tập và ký âm bằng chữ vuông. Cố nhiên, lúc đó vẫn được đọc theo âm Việt. Nhưng rồi với thời gian, cách nói của dân cư thay đổi. Những chữ được ghi trong Thi không còn được đọc theo âm cũ. Cũng vì vậy mà nghĩa của nhiều chữ bị thay đổi. Bây giờ, muốn hiểu đúng nghĩa của bài Thi, buộc phải phục nguyên bản gốc tiếng Việt cổ của nó.

Theo tôi, những chữ gốc của bài Lang bạt như sau:

vốn là trèo bò chuyển thành bạt
 Hang, hố chuyển thành hồ
 
chòi chuyển thành tái
几 几
vốn là kè kè, bị chuyển thành kỷ kỷ
 
chìa ra chuyển thành chí
) vẫy chuyển thành 
碩 膚
: chữ phu nầy là phu mang theo cái bụng thể hiện bằng bộ nhục cách điệu thành chữ nguyệt. Ở đây bụng phệ chuyển thành thạc phu
: đọc là tích nhưng gốc là guốc. Bây giờ ít ai biết chữ nầy. Tiếng Triều Châu giử được phát âm như “kéat”. Chữ nầy phía trên là (cúc), phía dưới là hình thể hiện các ngón chân hay là tay. Chữ (tả) nghĩa là viết thì cũng có hình các ngón thì mới lột tả được “cầm bút mà viết”. Cũng giống như bài Việt nhân ca mô tả, ngày đầu được phong, Tương Thành quân mang guốc cao. Guốc đỏ chứng tỏ địa vị của công hầu hay quan lại vì vua mới được mang guốc vàng.

vốn là chữ được chuyển thành chữ đức.
vốn là tiếng sau chuyển thành âm
 
vết , dấu vết trên đồ vật. Ngày nay có người đoán rằng chữ này có nghĩa là giả! Có sách ghi là .   hận () giống nhau. Chữ hận còn đọc là hằn như bên Quảng Đông, có nghĩa là vết.

Như vậy, nguyên văn tiếng Việt cổ của bài thơ theo tôi như sau:

Lang bò vô hang, chồi chìa cái đuôi,
Công tôn bụng phệ, guốc đỏ kè kè.
Lang chìa cái đuôi, chồi bò vô hang,
Công tôn bụng phệ, được tiếng không vết.

Bài ca nói về việc con sói chui vào hang nhưng vẫn lòi đuôi ra ngoài. Tương ứng với việc ông quý tộc (công tôn là dòng họ quý tộc) dù có che giấu nhưng vẫn lộ ra ở cái bụng phệ và đôi guốc đỏ (bài 1). Còn bài 2 nói con sói vẫn thò đuôi ra ngoài khi chồi bò vô hang, trong khi ông quý tộc ăn nhiều, bụng to, mặc đẹp, được tiếng là không có tỳ vết: quý tộc còn ghê gớm hơn cả lang sói!

Bài thơ châm biếm quý tộc “dấu lộc ăn” mà vẫn dấu đầu lòi đuôi vì cái bụng phệ… Được so sánh như lang sói dấu thức ăn trong hang-hố mà chòi, bò vào hang hố vẫn ló cái đuôi! Tính cách của lang sói là hung ác! Tính cách của quí tộc thật sự là có tiếng và thật sự có miếng (bất giả) chứ không phải hư danh! Bài thơ tả chân hành động lẩn quẩn giấu đầu lòi đuôi như anh khờ như hề của quí tộc ăn nhiều bụng phệ nhưng lại tỏ ra đạo mạo.

Thành ngữ trong bài này có thể rút ra là “Giấu đầu hở đuôi

(dẫn theo Hà Văn Thùy, Tìm bản gốc của bài Kinh Thi Lang Bạt).

Luận điểm này khá thuyết phục vì phù hợp với những khám phá mới đây.

-theo GS. Chu (người Hoa), GS. Alberto Piazza (Ý), GS Li Yin (Hoa) loài người từ Phi Châu qua ngõ Nam Á đến Đông Nam Á rồi lên Đông Á sau qua Bắc Mỹ. Người phía Bắc Trung Hoa chỉ là hậu duệ của người Phương Nam di cư lên. Vậy nên người Hoa Bắc phải nói tiếng Hoa Nam, người Hoa Nam phải nói theo cách người Nam Á trước khi ngôn ngữ họ biến chuyển theo thời gian.

– Chữ viết mà ngày nay gọi là chữ Hán Việt không phải là sáng tạo của người Hoa mà là của người Việt.

Năm 2011 “tại ‘di chỉ cúng tế xẻng đá lớn Cảm Tang’ – thị trấn Mã Đầu – huyện Bình Quả – Quảng Tây phát hiện mấy chục phiến xẻng đá lớn và tấm đá khắc đầy văn tự cổ của người Lạc Việt, trong đó khối đá có văn tự lớn nhất là dài 130 cm, rộng 55 cm, khắc mấy trăm tự phù, phần lớn là văn cúng những phiến đá này. Các chuyên gia suy đoán, thời kì xuất hiện của chữ khắc trên phiến đá của người Lạc Việt cổ này cùng thời với thời gian của ‘xẻng đá lớn’ (4000-6000 năm trước). Nó cho thấy trước mắt chữ của người Lạc Việt cổ ở di ‘chỉ cúng tế xẻng đá lớn Cảm Tang’ là một trong những văn tự hình thành thời xưa được phát hiện ở Trung Quốc” (http:// diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai- viet/23954-chu-viet-co-o-nam-duong-tu/).Những chữ đó gần giống Giáp cốt văn và trước GCV mấy ngàn năm.

Trở lại với hai từ ĐÈN và ĐĂNG, ta thấy đèn có trước về sau mới chuyển thành đăng. Người Quảng Nam có câu nhại “ eng không eng tắt đèn đi ngủ” eng đọc trại của ăn, hai âm tương cận này có thể chuyển hóa cho nhau, nên ĐÈN mới đẻ ra ĐĂNG. Người quí tộc Việt cổ thời chê âm ĐÈN không hay bèn tạo một loại âm ĐĂNG trang nhã hơn để dùng riêng trong giới lãnh đạo, gọi là nhã ngữ, từ đó họ giao tiếp với nhau chuyên dùng nhã ngữ để phân biệt với tiếng nói của giới bình dân mà họ cho là nôm na mách qué, cách này cũng có cái lợi là vốn từ tiếng Việt càng thêm phong phú như Hoa ĐĂNG khác hẳn nghĩa với Hoa ĐÈN.

ĐÈN là tiếng cổ nằm trong khối Mã lai ngữ, ta quen gọi là tiếng thuần Việt, thật ra không có ngôn ngữ nào là thuần,trong giao tiếp thường có hiện tượng vay mượn lẫn nhau giữa các loại ngôn ngữ khác nhau.Theo tam tài ta có thể gọi loại tiếng thuần việt này là TIÊN THIÊN NGỮ(TTN). ĐĂNG có sau, nằm trong loại tiếng ta quen gọi nhầm là tiếng Hán Việt theo tam tài có thể xếp vào loại HẬU THIÊN NGỮ(HTN).Mặc dầu HTN càng ngày càng cách biệt TTN nhưng có một lớp nhà Nho luôn cố gắng dung hòa hai loại lại với nhau, họ dùng cả hai trong sáng tác của mình tạo nên những tác phẩm lừng lẫy chuyển tải được cái hồn của dân tộc làm rung động lòng người ai nghe cũng hiểu như Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc đó là tiếng Việt hay là TRUNG THIÊN NGỮ theo công thức:

TIẾNG VIỆT=TRUNGTHIÊNNGỮ=TIÊNTHIÊNNGỮ+HẬUTHIÊNNGỮ

Có nhiều cách tạo HTN:

-Dùng một tiếng thuần Việt chuyển qua nhã ngữ với âm tương cận như ĐÈN>ĐĂNG ( tôi dùng chữ nhã ngữ/nhã tự thay cho hán ngữ/hán tự để tránh lối gọi một cách nô lệ có ý thức và phản lịch sử vì đó là chữ của TA,tiếng của TA,do TA sáng tạo).

-Dùng âm thuần Việt chuyển y nguyên qua âm nhã ngữ như CỐT>CỐT(xương)  cốt, người Hoa đọc là , , , cốt thuần Việt, Đại Hàn cũng có kotsu = cốt (theo Bình-nguyên Lộc)

Bình- nguyên Lộc nói ĐĂNG nguời Hoa đọc là tẫn, thật ra đó chỉ mới là giọng vùng Tô Châu, Thượng Hải, còn Quảng Châu đọc dang, Mân Nam đọc ding,Triều Châu đọc dêng, riêng Bắc Kinh đọc dēng, gần nhất với âm đèn chứng tỏ họ đã học tiếng Việt khi người Việt từ Hoa Nam tiến lên Hoa Bắc trước khi rút chạy về Nam và chuyển qua đọc đăng.

Chữ ta đọc là trong đến bây giờ họ vẫn còn đọc là zhōng, zhòng ,còn ta thì đã chuyển sang đọc là trung

Chữ ta đọc là mong họ đọc theo ta cho mãi đến đời Đường còn ta đã đổi cách đọc là vọng

Câu thơ trong bài Tĩnh dạ tư của Lý Bạch không thể đọc cử đầu vọng minh nguyệt, mà phải đọc là cử đầu mong minh nguyệt theo cách đọc lúc sinh thời họ Lý sáng tác.

Chữ ta đọc tết, cho đến đời Đông Hán, Hứa Thận trong Thuyết văn giải tự vẫn còn ghi cách đọc là tết, sau ta đọc tiết còn họ đọc là jié, jiē.

Chữ vuông (nhã tự) là chữ của ta, khi ta tạo chữ tất nhiên phải đặt lời, lời lúc ấy là tiếng Việt thuần về sau mới chuyển sang nhã ngữ tức tiếng HẬU THIÊN , khi có âm nhã ngữ rồi thì âm Việt tức tiếng TIÊN THIÊN sẽ bị loại theo nhu cầu của giới quý tộc như trung thế trong,vọng thế mong.

Thế nên KHÔNG HỀ CÓ TIẾNG GỌI LÀ HÁN VIỆT

Hãy kính nhi viễn chi từ giả các ông Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Tài Cẩn mà ủng hộ Đổ Thành với công trình phục nguyên tiếng Việt cổ đang đi đúng con đường lịch sử chân chính.

 

Xin vui lòng ghi lại nguồn Link khi muốn đăng lại bài của www.khoahocnet.com

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s