Dr. Trần Thủ Danh – Klonen …. Sinh sản vô tính?

tinhvosan-1Người Việt chúng ta, ai lại không biết chuyện bà Âu Cơ sanh trăm trứng/trăm con và chuyện  Tề Thiên Đại Thánh khi bị vây khổn, nhổ lông gáy quăng lên, biến hóa ra những Tề Thiên giả giống hệt nhau để đánh lại đối thủ. Với một tưởng tượng ít nhiều phong phú, người ta có thể tự hỏi, phải chăng đó là một hình thức sinh sản vô tính, sinh con không trực tiếp từ cha mẹ của thời xa xưa mà ngày nay chúng ta thường được nghe qua những danh từ  ”con sanh từ ống nghiệm (Retortenbaby), sinh sản tái lập vô tính (Klonen), thụ tinh nhân tạo (küntliche Befruchtung), tế bào nguyên thủy (Stammzelle), v.v. …” ? Để có thể tìm được trả lời thích đáng cho câu hỏi nầy, chúng ta hãy thử dạo một vòng trên lãnh vực sinh lý học về vấn đề sinh sản.

 

Sinh sản hữu tính tự nhiên

Đôi chim quyến luyến trên cành,

Không cha không mẹ ai sanh ra người!

 Thói thường là như vậy! Có mẹ có cha, có chồng có vợ, có trai có gái mới có sự sinh sản, tạo nên con cái, hậu duệ. Không phải chỉ ở người, thú mà cả thảo mộc cũng vậy: phấn bông đực bay dính vào bầu nhị cái, nhờ vậy ”bông đậu” sinh ra trái quả cho ta ăn, tạo nên hạt để cây sinh tồn nối giống. Trên  bình diện sinh lý, sự sinh sản tự nhiên của sinh vật thượng đẳng, trong đó có loài người, là kết quả của sự phối hợp giữa tinh trùng (Samenzelle/Spermium) của phái nam  và noãn/trứng (Ei/Ovum) của phái nữ. Sự phối hợp nầy xãy ra trong tình thương yêu hay cưỡng bức… nếu đối với đôi nam nữ là một xúc cãm khó quên, thì đối với tinh trùng và trứng chỉ là chuyện ”ngoài tai”. Điểm quan trọng trong việc phối hợp sinh lý/thụ tinh là tinh trùng phải vào được noãn, đem những di thể (Gene) của riêng nó hòa đồng vào di thể trứng tạo nên một ”trứng thụ tinh” (Zygote). Để hoàn tất nhiệm vụ nầy tinh trùng (trung bình 200-500 triệu ở mỗi lần giao hợp xuất tinh/Ejakulation) phải chạy một đoạn đường thật dài trong âm đạo (Vagina), vượt qua tử cung (Uterus), vào ống dẫn trứng (Oviduct); và trong số chỉ khoảng 300 tinh trùng mạnh khỏe may mắn vượt qua mọi chướng ngại trên đoạn đường dài khoảng 20 cm đến được nơi đây, chỉ một chàng tinh trùng tốt số duy nhất  gặp gở hòa hợp được với trứng trưởng thành +1) (trứng nầy, khoảng 12-16 ngày trước khi các bà các cô có kinh, rớt ra khỏi buồng trứng (Eierstock/Ovar), rơi vào ống dẫn trứng và di chuyển lần xuống phía tử cung).

tinhvosan-2Sau lúc phối hợp ở ống dẫn trứng, nhân chứa nhiễm thể của tinh trùng sẽ vào hoà hợp với nhân của trứng, và như vậy trứng thụ tinh (Zygote=hợp tử) +2)  bắt đầu phân hóa: 2 tế bào trong ngày thứ nhất, 4 tế bào ở ngày thứ hai, 8 tế bào ngày thứ ba….và cứ như thế sự phân  bào tiếp tục không ngừng. Ở giai đoạn ”8 tế bào” vào ngày thứ ba, những tế bào sinh ra hợp lại thành một cầu tròn có dạng như trái dâu tầm (Maulbeere) được gọi là ”Morula”. Quả cầu Morula lớn dần,  cuối cùng với khoảng 30 tế bào, và vào ngày thứ tư chất lỏng có trong ống dẫn trứng thấm xuyên vào tận trung tâm Morula, xô đẩy những tế bào nầy tạo nên một quả cầu rổng ruột được gọi là ”Blastozyste” (=phôi nang?!), đồng thời những phân bào sinh ra cũng được sắp xếp đúng thứ tự lại, tạo ra hai lớp tế bào có tính chất/nhiệm vụ khác nhau: lớp tế bào phía trong=”Embryoblast”  về sau sẽ tạo nên phôi thai (Embryo) cũng như phần trực tiếp bao bọc che chở cho phôi thai (Amnion), trong khi lớp tế bào phía ngoài = ”Trophoblast” sẽ là phần bám vào màng tử cung tạo nên lớp nhao (Plazenta) bao bọc và nuôi phôi thai/bào thai. Cùng với sự biến tượng không ngừng nầy, Blastozyte tiến lần xuống phía dưới ống dẫn trứng, và vào ngày thứ năm sau lúc thụ tinh, Blastozyste thật sự vào được tử cung để bám vào màng tử cung ”làm ổ” nơi đây (Nidation).

 

Ở tử cung, từ Embryoblast, phôi thai (Embryo) thành hình và tiếp tục phân hóa, biến tượng: ngày thứ 22 tim bắt đầu đập,  ngày 30 phát hiện chân tay, ngày 35 cơ quan thị giác/mắt và cứ thế đến tuần thứ 10 mọi cơ quan được tạo lập đầy đủ, chấm dứt giai đoạn phôi thai (Embryonalperiode). Kể từ tháng 3 phôi thai (Embryo) thật sự là ”người”, là bào thai (Fetus)  chỉ cần tăng trưởng, lớn lên (Fetalperiode) để cuối cùng, sau chín tháng mười ngày, đứa bé rời bụng mẹ và trên quả địa cầu có thêm một nhân vật mới.

 

Thụ tinh nhân tạo

 Như đã nói, dưới khía cạnh sinh lý, điểm chánh yếu trong sự sinh sản là sự phối hợp tinh trùng và trứng. Sự phối hợp nầy được xãy ra trên ”nệm ấm chăn êm” hay trong ”ống  nghiệm” không quan trọng. Chính vì vậy, sự sinh sản vẫn thành tựu được khi ngưới ta lấy tinh trùng cũng như trứng ra khỏi cơ quan sinh dục, khỏi cơ thể để khán nghiệm,  lựa chọn, tồn trử, thụ tinh …. và sau đó cho vào cơ thể trở lại. Sự kiện nầy là nguyên tắc căn bản cho sự thụ tinh nhân tạo.

 Trong vấn đề  ”thụ tinh nhân tạo” (künstliche Befruchtung/artificial fertilization), bước đi đầu tiên đáng nói là việc ”kết tinh/giao hợp nhân tạo = künstliche Besamung/artificial insemination”. Trên bình diện sinh lý và thành quả, sự kết tinh/giao hợp nhân tạo không khác gì sự giao hợp tự nhiên. Điểm khác chỉ là trong trường hợp nầy ngưòi đàn ông/thú đực không gần gủi ”thân kề thân”gì được với người, với giống khác phái. Tinh trùng của phái nam/thú đực được lấy ra khỏi cơ quan sinh dục, được tồn trử bảo quản và khi cần cho vào cơ quan sinh dục cái qua ống tiêm/ống dẫn. Phương pháp giao hợp nhân tạo nầy được dùng nhiều trong lãnh vực chăn nuôi, nếu không muốn nói đây là phương pháp phổ biến nhất trong việc sinh sản thú hiện tại. Ở loài người chúng ta, phương pháp nầy vẫn được dùng, chẳng hạn khi lượng tinh trùng mỗi lần xuất tinh của người đàn ông quá ít (dưới 200 triệu); trong trường hợp nầy sau khi tổng hợp tinh trùng của nhiều lần xuất tinh, người ta đạt được độ đậm đặc tinh trùng nhiều hơn để khi cho vào cơ quan sinh dục của người đàn bà, bảo đảm được số lượng tinh trùng lanh lẹ mạnh khỏe, cần thiết cho sự thụ tinh trong ống dẫn trứng (khoảng 300). Đối với phái nữ,  qua phương pháp kết tinh/giao hợp nhân tạo, các bà độc thân, nhưng muốn có con, và có con với tinh trùng của ”thiên tài cở …Einstein”, vẫn có thể thành tựu (nếu có người sẳn sàng ”tặng” tinh trùng vào ống nghiệm).

 Bước tiến xa hơn việc ”kết tinh/giao hợp nhân tạo” vừa kể  là sự ”thụ tinh nhân tạo = künstliche Befruchtung/artificial fertilization”. Trong trường hợp nầy tinh trùng và trứng được lấy ra khỏi cơ quan sinh dục, ra ngoài cơ thể. Sau đó người ta phối hợp tinh trùng và trứng trong ống nghiệm (In-vitro-Fertilisation= IVF) +3), và để ”trứng thụ tinh” phân hóa tăng trưởng đến giai đoạn Blastocyste (phôi nang). Xong, trứng phân hóa nầy -vào ngày thứ hai hoặc ba sau khi thụ tinh- được đưa vào ống dẫn trứng (Embryotransfer) để tiếp đó lần xuống bám vào tử cung  của người đàn bà (người vợ/mẹ thật hay ”người mang thai mướn”=Leihmutter/surrogate mother) và bào thai thành hình, tăng trưởng tiếp như theo quá trình tự nhiên.

 Cháu bé đầu tiên được sinh ra qua sự ”thụ tinh trong ống nghiệm —> Retortenbaby” là Louise Joy Brown , chào đời ngày 25 tháng 7 năm 1978. Hiện tại phương pháp nầy đã trở thành chuyện thường và cũng đã giúp rất nhiều đôi nam nữ bị khó khăn trong vấn đề sinh dục có con cái nối dỏi tông đường (trên thế giới có khoảng trên 300 000 ”con sinh qua ống nghiệm” được ghi nhận). Hiện tại, đặc biệt ở Đức, những điểm  được tranh luận, bàn cải trong việc ”thụ tinh nhân tạo/sinh con qua ống nghiệm” không hẳn là vấn đề kỹ thuật mà là những vấn đề liên hệ đến luân lý/đạo đức, tôn giáo, xã hội, pháp lý:

*          tình gia đình/mẹ con qua sự ”mang nặng đẻ đau” có bị thay đổi, mất mát gì không cho cha mẹ ”mướn người mang thai” không có công sinh đẻ?  Việc ”mướn người sanh đẻ” có thể bị lạm dụng, gây bất lợi/tổn thương cho người được mướn (vì cần tài chánh không màng nguy hiểm trong việc sinh sản) cũng như cho người mướn (khi người mang thai không chịu giao con) ?

*           Vì được thụ tinh ngoài cơ thể/trong ống nghiệm, trứng thụ tinh/phôi thai có thể được khám nghiệm toàn bộ yếu tố di truyền dể dàng để xem có hoàn hảo, mang bịnh di truyền, là trai hay gái, v.v….trước khi đem cấy vào tử cung. Sự ”khán nghiệm/chẩn bịnh trước khi cấy”, quen thuộc qua chữ tắt”PID = Präimplantation-Diagnostik” +4) , là vấn đề hiện đang được bàn cải sôi nổi:

* qua PID con người được tuyển chọn theo ý muốn trái với sự ngẫu nhiên/không biết trước  trong việc sinh sản tự nhiên và như vậy có vi phạm đến những nguyên tắc nhân quyền/nhân vị không?

* PID có thể bị lạm dụng để tạo con người/sinh vật theo mục đích riêng tư, ích kỹ, vụ lợi —> tạo giống người mới/Menschenzucht) ?

* làm gì với những trứng được thụ tinh, biến tượng thành phôi thai, nhưng mang bịnh, không ”hoàn hảo” theo ý muốn. Sự hủy hoại những trứng thụ tinh nầy có nên bị lên án  là hành động ”sát nhân” không?

Sự chẩn bịnh PID hiện được cho phép ở Hoa-Kỳ, Úc và khoảng 10 quốc gia ở Âu châu. Riêng ở Đức, theo Đạo luật BảoVệ Phôi Thai (Emryonenschutzgesetz), phương pháp nầy bị cấm dùng, ngoại trừ để định trai-gái và những bịnh di truyền liên hệ đến phái nam-nữ.

*           Trứng thụ tinh phân bào trong ống nghiệm, do đó người ta có thể theo dỏi mọi thời kỳ biến tượng. Một điểm sinh lý thật quan trọng cần biết là những tế bào phân hoá đầu tiên (giai đoạn phân chia 3-4 đến 8 tế bào) có tính ”toàn năng/toàn lực” (totipotent) để tạo ra mọi cơ quan, tạo ra phôi thai mới (y như trứng được phối hợp từ tinh trùng và trứng thông thường). Câu hỏi đặt ra là người ta có nên, có được phép dùng những ”tế bào phôi thai nguyên thủy = embryonale Stammzelle/ embryonic cell” nầy để tái tạo con người,  hoặc thực tế hơn, lèo lái/hướng dẫn sự phân hóa tế bào nguyên thủy để tạo ra những mô/cơ quan (da, thần kinh, tim, thận,…) dùng trong việc trị bịnh nhất là trong lãnh vực ghép nối cơ quan (Transplantation) .

Việc khảo cứu tế bào phôi thai nguyên thủy (=Stammzellenforschung) là đề tài rất sôi động hiện tại và ở Đức đang bị công kích mạnh, nhất là từ phía tôn giáo.

 

Sinh sản vô tính

Khác với sự sinh sản hữu tính đã đề cập định bởi sự phối hợp giống đực-cái qua tinh trùng-trứng, sự sinh sản vô tính -như nghĩa của từ ngữ- không cần có sự phối hợp của giống khác phái. Trong thiên nhiên hiện tượng nầy không phải là việc lạ. Để đôi ba vi khuẫn trong môi trường thích hợp, chỉ vài tiếng đồng hồ sau, chúng ta có một số vi khuẫn mới giống hệt như vi khuẩn ban đầu. Trong lãnh vực thực vật cũng vậy, cây mọc từ rể hoặc cây chiết có đầy đủ số nhiễm thể/yếu tố di truyền y như cây mẹ nẩy mầm từ hột quả. Riêng ở động vật thượng đẳng, người ta cũng như thú vật, hiện tượng ”sinh sản tái lập vô tính=Klonen” trong nghĩa tạo ra những ”phóng bản/Kopien”, những sinh vật với diện mạo và toàn bộ yếu tố di truyền (Genom)  giống y như nhau, đến hiện tại chưa xãy ra.

Lời xác định ở câu trên thật có đúng không, hay sự sinh sản tái lập vô tính (để ngắn gọn kể từ đây dùng danh từ ”Klonen”) ở người ta/thú vật vẫn đã xãy ra mà chúng ta chưa cãm nhận đó thôi? Rỏ ràng nhất, việc sinh đôi/sinh ba với những đứa con giống y nhau phải chăng cũng là kết quả của hiện tượng Klonen?

Câu trả lời: Đúng nhưng cũng không đúng! Không đúng vì sinh đôi/sinh ba -hay cả trăm như bà Âu Cơ dòng giống dân Việt- cũng khởi thủy từ trứng thụ tinh hữu tính (bà Âu Cơ có chồng là Lạc Long Quân!). Tuy nhiên, như đã trình bày ở đoạn cuối phần thụ tinh nhân tạo, những tế bào phôi thai nguyên thủy  -không phải là trứng ”hữu tính” nữa- vẫn có đủ khả năng tạo nên phôi thai/bào thai. Những anh em sinh đôi phát sinh từ một trứng (eineiige Zwillinge —> giống y nhau về diện mạo cũng như toàn bộ yếu tố di truyển) +5), thành hình chính từ những tế bào nầy, và như vậy -theo định nghĩa- họ thật sự là người ”Klon”.

Nếu hiện tượng sinh đôi/sinh ba tự nhiên từ một trứng là do sự tách rời (splitting) những tế bào  phôi thai nguyên thủy trong cơ thể người mẹ một cách ngẩu nhiên thì  ngược lại người ta cũng có thể cố ý phân chia những tế bào nguyên thủy từ các trứng thụ tinh tự nhiên hay nhân tạo để tạo ra những phôi thai giống như nhau. Qua phương pháp ”phân chia tế bào phôi thai =  Mehrlingsspaltung=Embryosplitting” nầy, khỉ Klon ”Tetra” đã được sinh ra, và mặc dầu trong thí nghiệm nầy người ta đã phân chia tế bào của 107 phôi thai khỉ Rhesus, định cho sinh ra 368 ”Tôn Hành Giả” con, nhưng thực tế chỉ có 4 phôi thai thành hình được khỉ cái mang thai và cuối cùng chỉ có một mình Tetra sống sót ra đời.

tinhvosan-4Một bước xa hơn việc Klonen qua sự phân chia tế bào phôi thai nguyên thủy là sự ”Klonen với nhân tế bào” (Zellkerntranplantation/Nucleustransfer/ nuclear transfer). Trong trường hợp nầy thay vì dùng trọn tế bào phôi thai nguyên thủy, người ta chỉ lấy nhân của tế bào nầy (Zellkern) và cho vào một trứng mà trước đó đã được lấy mất nhân. Trứng ờ đây (=Cytoplast không chứa đựng yếu tố di truyền) đóng vai trò nhận nhân tế bào cho (=Karyoplast) và tăng trưởng thành phôi thai để sau đó được đem cấy vào tử cung người/thú cái. Thú được ”klon”, được sinh ra như vậy có đặc tính và toàn bộ nhiễm thể của thú cho, là ”phóng bản” của thú ”cha” đã cho nhân tế bào. Phương pháp Klonen với nhân tế bào nguyên thủy đã  được thực hiện nhiều trong lãnh vực chăn nuôi. Hiện tại có khoảng 1000-2000 bò con đã được sinh đẻ qua phương pháp Klonen nầy.

 

Phương pháp Klonen với tế bào hay nhân tế bào phôi thai nguyên thủy vừa kể, tuy trái với thiên nhiên, nhưng vẫn dựa vào điểm sinh lý học cơ bản dể hiểu: Những tế bào phôi thai nguyên thủy ở giai đoạn 3-8 tế bào (hoặc cùng lắm đến cuối thời Morula với khoảng 30 tế bào) có ”toàn năng/toàn lực” để tái tạo mọi cơ quan, tạo phôi thai mới. Câu hỏi đặt ra tiếp: Liệu người ta có thể Klonen được với nhân của tế bào cơ thể (=Somazelle), tế bào đã phân hoá giữ nhiệm vụ đặc biệt như tế bào da, tim, gan, thận, thần kinh v.v…, không còn có tính ”toàn năng/toàn lực”? Nếu thực hiện được điều nầy, người ta sẽ Klonen dể dàng, không cần dùng đến tế bào phôi thai nguyên thủy, không cần phải lấy/”giết” phôi thai từ tử cung người mẹ, không cần phải khổ cực khó khăn thực hiện sự thụ tinh nhân tạo với thành quả ít oi; và việc tái lập khũng long Dinosaurier trong phim Jurassic Park của Steven Spielberg với một vài mẫu DNA (àhoá chất định yếu tố di truyền), sẽ không còn chuyện phim mà sẽ là sự thật, cũng như chuyện Tôn Ngộ Không nhổ lông gáy, ”klonen” ra một lố khỉ như nhau sẽ không còn là chuyện bịa đặt vô lý.

Thực tế, theo quan niệm sinh học thông thường đến hiện tại, những tế bào cơ thể đã phân hóa giữ nhiệm vụ đặc biệt -tế bào da chỉ sinh da, tế bào tim chỉ tạo cơ tim, tế bào thịt chỉ gây mô cơ, ….- không thể trở về trạng thái nguyên thủy để phát triển tạo ra phôi thai mới được, cùng lắm chỉ những tế bào ở thời kỳ phôi thai Blastozyste (”quả cầu” rổng với khoảng 80-100 tế bào) -và phải là những tế bào ở lớp phía trong (inner cell mass)- mới còn giử khả năng tái tạo một số cơ quan (=pluripotent —> nhưng vẫn không thể tạo lại nguyên phôi thai/sinh vật). Lý thuyết nầy hiện tại không còn đứng vững qua sự chào đời của cừu Dolly vào ngày 5.7.1996. Để Klonen Dolly, những khoa học gia của Viện Khảo Cứu Roslin (Edinburg/Scottland) đã không dùng tế bào phôi thai nguyên thủy+6) mà dùng tế bào cơ thể trưởng thành, tế bào ở vú sữa của cừu cái Belinda (thuộc giống cừu Finn Dorset lông trắng). Tế bào nầy được nuôi dưỡng trong môi trường đặc biệt để đạt đến thời kỳ thích hợp cho sự Klonen (—> quiescent cell), sau đó người ta lấy nhân của tế bào nầy ra và cho vào trứng đã được lấy mất nhân.

 

Tạm kết

Vấn đề Klonen chắc chắn trong tương lai vẫn còn là đề tài để các khoa học gia khảo cứu, để những nhà triết gia, tôn giáo, đạo đức… kể cả người dân thường như chúng ta bàn cải, tranh luận. Trong giới hạn của chuyến đi dạo ngắn trên lãnh vực sinh sản ở đây, một vài nét đơn sơ được nêu ra về việc thụ tinh tự nhiên của trứng và tinh trùng, việc thụ tinh nhân tạo đã và đang xãy ra, cũng như vấn đề sinh sản tái lập vô tính ảnh hưởng không nhiều thì ít đến nếp sống chúng ta trong tương lai. Ở điểm cuối nầy, lợi và hại như thế nào, hẳn là điều mỗi người mỗi ý.  Có điều đừng quên, sự hiểu biết của chúng ta trong việc Klonen hãy còn rất nông cạn. Trong trường hợp Dolly, từ 277 trứng được phối hợp với nhân, chỉ có 29 phôi thai thành hình, lành mạnh được cấy vào cơ quan sinh dục của 13 cừu cái, và cuối cùng chỉ có Dolly duy nhất chào đời. Tỉ lệ thành công (1/277) chỉ là 0,4%, thật quá ít so với trường hợp thụ tinh tự nhiên khoảng 85%. Việc Klonen hiện tại chỉ là bước đi khởi đầu, chúng ta còn phải tìm tòi, học hỏi nhiều hơn; và chắc chắn còn lâu chúng ta mới có thể …sinh con trăm trứng được như bà Âu Cơ hay Klonen chớp nhoáng thành công trăm phần trăm cở Tề Thiên Đại Thánh.

 

 Ghi chú:

+1) Sau khi một tinh trùng đã chui được vào trứng, một số hiện tượng sinh hóa được kích thich và màng  trứng phía ngoài đóng kín, không cho tinh trùng nào khác vào nữa.

+2) Tinh trùng cũng như trứng chỉ có phân nữa số nhiễm thể (Chromosomensatz=22+1yếu tố dịnh phái nam hay nử) chứa đựng những yếu tố di truyền (Gene=di thể) của cha, của mẹ còn được gọi chung qua tên ”Gamet=giao tử”. Sau khi thụ tinh, ”trứng thụ tinh”  được gọi là ”hợp tử=Zygote” có toàn vẹn số nhiễm thể (23×2=46) của cha mẹ và là khởi điểm cho sự thành hình một con người, một sinh vật mới.

+3) Sự thụ tinh nhân tạo hiện được thực hiện qua hai phương pháp: a) Ở phương pháp ”IVF=in-vitro-Fertilisation” người ta để tinh trùng tự mình đến hoà hợp với trứng trong ống nghiệm (số lượng tinh trùng cần để thụ tinh với trứng vẫn phải rất nhiều), trái lại phương pháp thụ tinh ”ICSI = intrazytoplasmatische Spermieninjektion” người ta chỉ cần một tinh trùng (hay rỏ hơn một nhân của tinh trùng) và tiêm thẳng vào trứng (thay vì để tinh trùng chạy chui vào trứng như trường hợp IVF).

+4) PID =PrảImplantation-Diagnostik —> phương pháp chẩn bịnh phôi thai thụ tinh nhân tạo (bằng cách khán nghiệm tế bào phôi thai) trước khi  cấy vào tử cung người đàn bà mang thai. Phương pháp nầy được phép dùng ở Úc, Hoa Kỳ và 10 quốc gia Âu châu và đến hiện tại có khoảng 100 trẻ em thật sự chào đời trong số 400 cặp vợ chồng đã dùng phương pháp PID khán nghiệm trứng thụ tinh. Ở Đức, Áo, Thụy sĩ và Bồ Đào Nha phương pháp nầy còn bị cấm với ngoại lệ được dùng để định  trai/gái và  ngừa những bịnh di truyền liên hệ đến phái nam nữ

+5) Trong việc sinh đôi có hai trường hợp xãy ra: a) nếu vô tình có hai trứng rụng cùng lúc và được thụ tinh, người ta có con sinh đôi, nhưng hai người con nầy (zweieige Zwillinge) không khác gì những anh em cùng cha mẹ sinh đẻ riêng rẻ ở thới điểm khác nhau. b) chỉ có một trứng thụ tinh, nhưng vì một lý do nào đó những tế bào ở giai đoạn phân bào đầu tiên bị tách ra làm hai,  tăng trưởng thành 2 phôi thai/bào thai giống y như nhau; trong trường hợp nầy người ta có con ”sinh đôi cùng một trứng” (eineiige Zwillinge; nếu sự phân chia tế bào không hoàn hảo người ta có con sinh đôi dính liền nhau = Siamische Zwillinge).

+6) Thật ra một năm trước khi Klonen Dolly (1995) những khoa học gia viện Roslin (I. Wilmut, Campbell u.a.) đã thành công trong việc Klonen với tế bào phôi thai nguyên thủy qua cừu Megan và Morag.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s