Nguyễn Văn Nghệ – VĂN MIẾU DIÊN KHÁNH LÀ VĂN MIẾU CẤP TỈNH HAY CẤP HUYỆN ?

Hiện nay (tháng 07/2015) muốn biết lịch sử hình thành và phát triển Văn miếu Diên Khánh như thế nào , chúng ta chỉ cần vào Google gõ lên bàn phím cụm từ “Văn miếu Diên Khánh” thì sẽ nhận được khoảng gần 10 bài viết và 1 youtube . Mở đầu loạt bài liên quan đến Văn miếu Diên Khánh là bài viết : Văn miếu Diên Khánh – Wikipedia tiếng Việt.

Nội dung bài viết ấy: “ Năm 1803, vua Gia Long ra chỉ dụ lập Văn miếu tại xã Phú Lộc, huyện Hòa Châu- thị trấn Bình Hòa… Tuy nhiên do lũ lụt, lở đất nên được di chuyển đến vị trí khác và từ năm 1853 Văn miếu mới được xây dựng với quy mô lớn và đến năm sau thì cơ bản hoàn thành.

Khu Văn miếu đã trải qua 4 lần tu bổ vào các năm 1892, 1904, 1941. Năm 1948 bị Việt Minh đốt trụi trong chiến dịch “Tiêu thổ kháng chiến”. Đến năm 1959 được phục dựng lại tại vị trí mới.

Hiện tại Văn miếu chỉ còn giữ được 2 tấm bia đá thời Tự Đức 11(1858) giúp ta hiểu biết hơn về lịch sử, văn hóa,sinh hoạt của nhân dân Khánh Hòa và quá trình hoàn thiện khu văn miếu năm 1854. Ngoài ra còn có một bài Minh ở bái đường nói rõ hơn về sự đỗ đạt của các vị văn võ, khoa bảng, hào mục, chức sắc và các học sinh địa phương từ đầu triều Nguyễn cho đến thời Tự Đức”.

Hầu hết các bài viết kế tiếp (kể cả 2 nhatrang.com – Văn miếu Diên Khánh – Youtube do Châu Lê Thịnh và Nguyễn Duy Lam biên tập, Đài Phát thanh Truyền hình Khánh Hòa thực hiện) đều rập khuôn như nội dung của Wikipedia tiếng Việt, cũng : Năm 1803, vua Gia Long ra chỉ dụ lập Văn miếu tại xã Phú Lộc, huyện Hòa Châu- thị trấn Bình Hòa…; Hiện tại Văn miếu chỉ còn giữ được 2 tấm bia đá…; Ngoài ra còn có một bài Minh ở bái đường…

Để hiểu rõ thực hư có đúng như thông tin trên, chúng ta cùng ngược dòng thời gian để tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của Văn miếu Diên Khánh.

Trước khi di dời về dựng tại ấp Phú Lộc, xã Diên Thủy (nay thuộc Tổ dân phố Phú Lộc Tây I, Thị trấn Diên Khánh), Văn miếu Diên Khánh đã được thay đổi địa điểm nhiều lần.

Trước năm 1844, ở vùng đất Khánh Hòa chỉ có duy nhất một nơi thờ tự Đức Khổng tử và các bậc tiên hiền, tiên nho mà thôi, đó là Văn miếu tỉnh Khánh Hòa (năm 1803 gọi là Văn miếu dinh Bình Hòa, tháng 7 năm Mậu Thìn[1808] đổi gọi là Văn miếu trấn Bình Hòa và đến năm Nhâm Thìn[1832] gọi là Văn miếu tỉnh Khánh Hòa) được lập năm 1803 tại xã Phú Lộc, huyện Hoa Châu, trấn Bình Hòa (Trong quá khứ trên vùng đất Khánh Hòa không có huyện Hòa Châu , thị trấn Bình Hòa như trên Wikipedia tiếng Việt và một số bài viết đã viết , chỉ có huyện Hoa Châu, trấn Bình Hòa mà thôi) Sau năm 1832 tỉnh Khánh Hòa có 2 phủ là phủ Diên Khánh coi 2 huyện là Phước Điền và Vĩnh Xương và phủ Ninh Hòa coi 2 huyện là Quảng Phước và Tân Định. Năm 1844 Văn chỉ huyện Tân Định (nay gọi là Văn chỉ Ninh Hòa) được thành lập , kế đến năm 1846 là Văn chỉ huyện Phước Điền và năm 1849 là Văn chỉ huyện Vĩnh Xương.

Văn chỉ huyện Phước Điền tại địa điểm xứ Phật Tỉnh xã Phú Ân

Văn chỉ huyện Phước Điền (tiền thân của Văn miếu Diên Khánh) do quan Bố chánh tỉnh Khánh Hòa là Ngô Văn Địch và quan Tri phủ , phủ Diên Khánh là Đặng Trọng Dật khởi xướng xây dựng vào năm Bính Ngọ (1846). Địa điểm tại xứ Phật Tỉnh ,xã Phú Ân (nay thuộc xã Diên An, huyện Diên Khánh). Xứ Phật Tỉnh nằm dọc bờ nam sông Cái Nha Trang. Bia đá khắc năm 1858 hiện dựng ở sân Văn miếu Diên Khánh có nhắc đến việc xây dựng này: “ Thiệu Trị lục niên[1846- TG] , tỉnh đường Bố chánh sứ đại nhân Ngô Văn Địch, Phủ quan Đặng Trọng Dật thủy xướng thiết từ vọng…đệ nhất sơ doanh kiến vị đắc tráng quan”. Lần xây dựng đầu tiên chưa được đẹp lắm (đệ nhất sơ doanh kiến vị đắc tráng quan).

Ngoài ra ở bảng chữ Hán khắc gỗ năm 1892 treo trong Văn miếu Diên Khánh cũng nhắc lại sự kiện này: “ Thiệu Trị lục niên thiết lập từ vũ, dĩ vi Chí Thánh Tiên Sư xuân thu tự sở. Nguyên tỉnh Phiên đường Ngô Văn Địch dữ Phủ quan Đặng Trọng Dật xướng thủy, vu Phú Ân xã, Phật Tỉnh xứ cấu tạo”

Trong bài viết Văn miếu Diên Khánh của nhà nghiên cứu Nguyễn Man Nhiên đăng trên trang mạng ninhhoatoday.net cho biết là Văn chỉ huyện Phước Điền “khởi xướng xây dựng tại ấp Phật Tỉnh xã Phú Ân (ở chỗ nay là Cây Da làng Phú Ân)”

Cây Da làng Phú Ân thuộc xứ Thanh Tự chứ không phải thuộc xứ Phật Tỉnh. Địa điểm Cây Da là nơi cụ Đỗ Thúc Tĩnh cho di dời Văn chỉ huyện Phước Điền từ xứ Phật Tỉnh sang. Sau khi di dời Văn chỉ huyện Phước Điền lên Gò Sòng , xã Phước Thành thì tại nền cũ Văn chỉ người dân địa phương lập nên ngôi miếu thờ Thiên Y Thánh mẫu. Hiện nay người dân gọi ngôi miếu thờ Thiên Y Thánh mẫu ấy là miếu ấp Thanh Tự Đông hoặc miếu Cây Da hoặc miếu Tư Văn ( Văn chỉ Phước Điền đã di dời nhưng tên Tư Văn vẫn còn lưu truyền đến nay)

Địa điểm xứ Thanh Tự ,xã Phú Ân.

Năm Quý Sửu (1853) quan Tri phủ , phủ Diên Khánh là cụ Cấn Trai Đỗ Thúc Tĩnh là người giỏi về môn phong thủy đã hội ý với quan Giáo thọ phủ Diên Khánh là Trương Đức Lân, triệu tập văn thân trong phủ di dời Văn chỉ huyện Phước Điền về dựng ở phía đông của phủ lỵ thuộc xứ Thanh Tự cũng trong xã Phú Ân ( phủ lỵ Diên Khánh nay là khu vực trụ sở xã Diên An, xứ Thanh Tự trải dài dọc theo phía nam đường Nha Trang – Thành). Lần này Văn chỉ được lợp ngói. Công việc xây cất kéo dài đến mùa đông năm Giáp Dần (1854) mới hoàn thành. Bia đá khắc năm 1858 ghi lại sự kiện này: “ Tự Đức lục niên[1853- TG] ngô châu Thái thú tư hiện thăng lãnh tỉnh đường Án sát sứ Cấn Trai Đỗ Thúc Tĩnh… viên mưu chi phủ giáo quan hiện thăng lãnh Ninh Hòa phủ Tri phủ Trương Đức Lân tề tập ngô châu văn thân di kiến thị từ vũ phủ lỵ chi đông…cấu tân từ vũ cái dĩ ngõa. Thất niên Giáp Dần đông từ vũ cáo thành” (1).

Cây xuyên giữa chánh điện Văn miếu Diên Khánh có dòng chữ Hán khắc nổi: “ Tự Đức thất niên, tuế thứ Giáp Dần, lục nguyệt cát đán, Phước Điền huyện văn hội đồng tu tạo” (Ngày tốt tháng 6 năm Giáp Dần[1854- TG] Tự Đức năm thứ 7, Văn hội huyện Phước Điền cùng tu tạo).

Văn chỉ huyện Phước Điền tại xứ Thanh Tự được xây cất xong vào mùa đông năm Giáp Dần (1854) nhưng mãi đến năm Mậu Ngọ (1858) mới khắc vào bia đá. Hiện bia đá ấy dựng ở sân Văn miếu Diên Khánh. Ở mặt trước của tấm bia đá khắc vài dòng nói về việc di dời Văn chỉ từ xứ Phật Tỉnh sang xứ Thanh Tự, kế đến là danh sách những người trong Văn hội đóng góp xây dựng Văn chỉ năm 1854, mặt sau của tấm bia đá là danh sách những người ngoài Văn hội đóng góp xây dựng Văn chỉ năm 1854.

Xin nói rõ là Văn miếu Diên Khánh chỉ có một tấm bia đá duy nhất mà thôi chứ không phải “Hiện tại, Văn miếu còn giữ được 2 tấm bia đá thời Tự Đức 11(1858)” như thông tin của Wikipedia tiếng Việt và một số bài viết khác.

Cũng trong năm 1858 quan Tri phủ, phủ Diên Khánh lúc bấy giờ là Cung Thế Dự (2) có làm một bài Minh khắc trên bảng gỗ , hiện treo ở giữa bái đường Văn miếu Diên Khánh. Bài Minh ấy gồm 32 câu, mỗi câu 4 chữ. Nội dung bài Minh là ca ngợi Đạo Thánh (đạo Nho): “ Đại tai Thánh Đạo/ Công đức như thiên/ Lập ngã nhân cực/ Hữu khai tất tiên…”(Lớn thay đạo Thánh/ Đức sánh trời cao/ Lập ngôi cùng cực/Khai hóa trước tiên…). Nội dung bài Minh hoàn toàn không có chi tiết nào “nói rõ hơn về sự đỗ đạt của các vị văn võ, khoa bảng, hào mục, chức sắc và các học sinh địa phương từ đầu triều Nguyễn đến thời Tự Đức” như thông tin trên trang Wikipedia tiếng Việt và một số bài viết cả!

Tháng 3 năm Nhâm Thìn (1892) tu bổ lại Văn chỉ: “ Bản niên tam nguyệt khởi công , diệc tu văn biến khuyến hạt nhân, trợ ngân biện quyên điền thổ, bị biện vật liệu tăng mỹ cung tường, ngật nhĩ đại quan thùy chi bất hủ” (Tháng 3 năm nay[1892] khởi công, soạn văn thông khuyến người trong hạt, giúp đỡ quyên góp tiền của, ruộng đất đầy đủ vật liệu, tăng thêm vẻ đẹp cung tường, sừng sững thành một đại quan, để lại muôn đời không mục nát). Công việc tu bổ Văn chỉ được khắc ghi trên cây xuyên ở bái đường : “Thành Thái Nhâm Thìn niên, tam nguyệt cát đán hựu cải tạo” và hai bảng gỗ vào năm 1892 ,hiện treo ở bái đường Văn miếu Diên Khánh (một bảng khắc tên những người trong Văn hội đóng góp, một bảng khắc tên những người ngoài Văn hội đóng góp)

Địa điểm Gò Sòng , xã Phước Tuy.

Khoa thi Hương Đinh Mùi (1847) tại trường thi Gia Định, sĩ tử đất Diên Khánh có một người đỗ cử nhân, đó là ông Nguyễn Tấn Ích (3) người xã Phú Lộc ,huyện Phước Điền. Sau khoa thi này , sĩ tử đất Diên Khánh chẳng có ai đỗ cử nhân nữa cả! Do vậy năm Thành Thái thứ 8 (1896), quan Đốc học tỉnh Khánh Hòa là cụ Hy Trai Hồ Thúc Nguyễn công(theo lời các cụ già, Nguyễn công là cụ Nguyễn Liễn (4)người xã Minh Hồ, huyện Nam Đàn ,tỉnh Nghệ An, đỗ cử nhân khoa Bính Tý[1876] cùng khoa với Cao Xuân Dục và Phan Đình Phùng) là bậc mô phạm lại giỏi về phong thủy, xem được cuộc đất tại Sùng Cương (Gò Sòng), xã Phước Thành, tổng Vĩnh Phước (nay là vườn nhà của ông Lê Tui , thôn Phước Tuy, xã Diên Phước) và cho cuộc đất ấy là “cát địa” cho nên di dời toàn bộ kết cấu cũng như bia đá của Văn chỉ từ xứ Thanh Tự ,xã Phú Ân lên Gò Sòng (Sùng Cương) , xã Phước Thành ( Thành Thái bát niên[1896-TG], quyên cựu chỉ bốc tân cơ vu Phước Tuy (5) chi Sùng Cương…tư thời giả bổn tỉnh Đốc học quan Hy Trai Hồ Thúc Nguyễn công mô phạm, hựu thiện y phong thủy tương thử đắc viết cát – Bảng tự tích chữ Hán khắc bảng gỗ do cụ Cử nhân Nguyễn Lương soạn năm 1904 ,treo ở Văn miếu Diên Khánh).

Chọn được “cát địa” rồi, các cụ trong Văn hội mới điều đình với hai chủ đất giáp ranh với nhau là Lý trưởng Phan Cang ,xã Phước Thành cúng 1 sào 5 thước đất và nguyên học sanh Lê Thiện người xã Thạnh Ninh (6) , tổng Ninh Phước cúng 7 thước 5 tấc đất để di kiến Văn chỉ. Trong giấy cúng đất bằng chữ Hán của Lý trưởng Phan Cang : “ Tư bổn huyện Văn thuộc tương đắc thử thổ, di kiến Văn chỉ. Ti tình nguyện trích xuất giá thổ nhất cao ngũ xích đông cận …;tây cân…;nam cận…;bắc cận… quy đông hướng. Phụng cúng Văn chỉ đắc tiện cấu tạo miếu vũ, tịnh tài thực hoa quả vĩnh vi Văn chỉ tự sở. Nhược hậu phản ngôn hà tình cam thụ trọng cữu” (Nay nhóm Văn thuộc bổn huyện cùng mong được đất ấy để dời cất Văn chỉ. Chúng tôi tình nguyện trích đất ấy ra 1 sào 5 thước đông cận…;tây cân…;nam cận…;bắc cận… về hướng đông…Dâng cúng cho Văn chỉ để được tiện việc dựng miếu và trồng hoa quả, làm chỗ thờ của Văn chỉ lâu dài. Nếu sau nói ngược ý gì , thì chịu lỗi nặng). Giấy cúng đất của ông Lê Thiện ghi: “Ti tình nguyện trích xuất giá thổ thất xích ngũ thốn đông cận…;tây cận…;nam cận…;bắc cận…quy tây hướng”. Giấy cúng đất của hai ông được làm vào ngày mùng 8 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8[1896].

Không biết đất Gò Sòng (Sùng Cương) có phải là nơi “ thử địa viết cát” hay không, nhưng sau khi di kiến Văn chỉ từ xứ Thanh Tự lên vùng đất Gò Sòng vừa xong thì sĩ tử đất Diên Khánh lều chõng ra thi Hương khoa Đinh Dậu (1897) tại trường thi Bình Định thì cụ Nguyễn Lương (7) đỗ cử nhân với vị thứ 11/18. Trong bảng tự tích bằng chữ Hán khắc gỗ năm 1904 do cụ Cử nhân Nguyễn Lương soạn có nhắc đến sự kiện này này: “Văn từ ngật thành , việt minh niên Đinh Dậu khoa du dự hương giải, chiếu đăng khoa lục tự Thiệu Trị thất niên chí thử”(Văn từ sừng sững hoàn thành, qua năm sau khoa thi hương Đinh Dậu, tôi dự vào hạng trúng giải. Xét đăng khoa lục từ năm Thiệu Trị thứ 7 đến nay mới thấy). Từ năm 1847 đến năm 1897 là 50 năm đất Diên Khánh mới có người đậu cử nhân trở lại .

Năm 1904 Văn chỉ lại được tu bổ . Công việc ấy được khắc ghi bảng gỗ hiện còn lưu giữ ở Văn miếu Diên Khánh.

Vào năm Duy Tân tam niên, cửu nguyệt, sơ cửu nhật (5.9 Kỷ Dậu[1909]) văn hội huyện Phước Điền có san lục lại bản điều lệ nội quy bằng chữ Hán với câu mở đầu: “Phước Điền văn chỉ ,văn sĩ đẳng”. Bản điều lệ nội quy có tất cả 16 trang bằng chữ Hán, trang đầu tiên là lời mở đầu, 9 trang kế tiếp là ghi các điều lệ, 6 trang cuối là họ và tên cùng chữ ký của 36 vị trong Văn hội. Trong 36 vị gồm có 2 vị cử nhân, 5 vị tú tài, 1 vị là cựu học sanh, 19 vị là nguyên học sanh, 2 vị là ấm sanh, 7 vị là học sanh. Điều mục chót trong bản điều lệ nội quy: “Nhất chỉ nội ấm học sanh dĩ thượng, phàm tự sơ thí dĩ chí thành đạt ,bổn chỉ khuyến tưởng hà đẳng ưu hậu đương tri thống tôn hội nguyên sở tại đồng tâm cộng tế bồi thực căn cơ. Nhược hà hệ công thành chi hậu bất cố bổn nguyên ư tư văn, vô sở bì ích dĩ chí vong nghĩa tuẫn tư tham mạo, vô sỉ táng nghi bại độ thao chúc bất luân.Phàm thử hạng nhân bất khả hữu đồng nhân minh cổ nhi công trục xuất thử ngoại” ( Điều lệ dành cho ấm sanh, học sanh trở lên trong Văn hội :Phàm tất cả mọi người kể từ bắt đầu dự thi[sơ thí]cho đến những bậc đã thành đạt, bổn chỉ khuyên phải nên nhớ biết đến nguồn gốc cùng đồng tâm bồi thực căn cơ, còn nếu như sau khi công thành mà không đoái nhìn đến Văn chỉ ,chẳng giúp ích lại dẫn đến vong nghĩa, thuận theo riêng tư, thấy lợi làm liều, vô sỉ, bất luân, phàm hạng người đó đã giáo dục mà không nghe thì cộng đồng văn hội sẽ đánh trống trục xuất) .

Ngày mùng 7 tháng 7 năm Khải Định nguyên niên (1916), Văn chỉ Phước Điền có làm tờ kê khai tự điền để quan Tuần vũ phê làm bằng chứng, gồm có tự điền tại xã Nghiệp Thành (nay thuộc xã Diên Bình) nguyên trưng 4 mẫu, đạt thắng (đo đạc lại) 5 mẫu 3 sào 10 thước. Tự điền tại xã Võ Dõng (nay thuộc xã Vĩnh Trung) nguyên trưng 3 sào, đạt thắng 5 sào. Tự điền ở xã Phú Ân (nay thuộc xã Diên An) nguyên trưng 1 sào, đạt thắng 3 sào.Tự thổ tại xã Phước Tuy (nay thuộc xã Diên Phước) do hai ông Phan Cang và Lê Thiện cúng, nguyên trưng 1 sào 12 thước 5 tấc ,đạt thắng 6 sào.

Năm 1941 lại tu bổ Văn chỉ : “ Tư kỳ Văn miếu đại hành tu bổ sự hoàn thành, điện bái đường nhị tòa, phí ngân lục bách tứ thập nguyên, tây vu nhất tòa phí ngân nhất bách ngũ thập nguyên” (Nay nhân kỳ tu bổ làm cho Văn miếu rộng lớn , công việc hoàn thành, chánh điện bái đường hai tòa, ngân phí 150 đồng, nhà Tây một tòa, ngân phí 640 đồng). Bảng khắc gỗ còn lưu giữ ở Văn miếu Diên Khánh.

Hiện nay khu đất có Văn chỉ Phước Điền ở Gò Sòng đã bán cho tư nhân từ năm 1959 ,nhưng nơi đó vẫn còn âm hưởng của Văn chỉ với cái tên thân thương , đó là Xóm Tư Văn.

Địa điểm ấp Phú Lộc ,xã Diên Thủy

Địa điểm Văn chỉ Phước Điền ở Gò Sòng sơn thủy hữu tình : “ đông cận Lê Thiện tư thổ; tây cận Phan Cang tư thổ; nam cận liên trì; bắc cân trường giang, hựu cận Phan Châu tư thổ hữu tiểu sơn” (Phía đông gần đất tư của ông Lê Thiện; phía tây gần đất tư của ông Phan Cang; phía nam gần ao sen; phía bắc gần trường giang lại gần đất tư của ông Phan Châu, có hòn núi nhỏ Trích từ giấy khai lại ruộng đất bằng chữ Hán của Văn chỉ Phước Điền vào ngày mùng 7 tháng 7 năm Khải Định nguyên niên[1916]) nhưng do chiến tranh nên Văn chỉ rơi vào cảnh điêu tàn: “ Vào thời kỳ chiến tranh năm Ất Dậu(1945) trở đi thì Văn miếu thành ra cấm địa, họ làm bót gác trước bái đường không hề hỏi ai hết. Chúng tôi phải cung nghinh thánh vị tôn trí nhà ông Lê Dĩnh gần đó, ngày tế tự đến nhà ông Lê Dĩnh hậu bái mà thôi”

Chiến tranh làm Văn chỉ điêu tàn cùng với đường đi cách trở nên các cụ trong Văn hội lại quyết định di dời Văn chỉ lần nữa: “ Thời gian qua , vì chiến tranh nên Văn chỉ bị hư hao tồi tệ. Vả lại tùy thời thì nơi ấy viễn cách không hợp, khó bề phụng thủ thờ phượng. Nếu không tu bổ và dời đi nơi khác thì e về sau không khỏi điêu tàn” (8)

Địa điểm các cụ trong Văn hội nhắm tới để di dời không nơi nào tốt hơn, đó là nền cũ của Văn miếu tỉnh Khánh Hòa ,nằm bên tả ngạn sông Cái thuộc ấp Phú Lộc, xã Diên Thủy.

Văn miếu tỉnh Khánh Hòa được dựng tại xã Phú Lộc vào năm 1803 và đầu năm 1948 bị thiêu rụi hoàn toàn theo chính sách “tiêu thổ kháng chiến” của Việt Minh. Từ năm 1948-1958 khu vực Văn miếu tỉnh Khánh Hòa trở thành phế tích, những viên gạch vồ của Văn miếu được những người dân Công giáo gần đó đem về sử dụng ( Vừa qua tôi có một anh bạn Công giáo , nhà cách khu vực Văn miếu tỉnh Khánh Hòa xưa khoảng nửa cây số, sửa lại nhà , lớp vôi vữa bên ngoài được đập ra để tô lại thì thấy hiện ra nguyên bức tường nhà phía sau xây toàn gạch vồ. Tôi mới hỏi anh ta có biết xuất xứ những viên gạch vồ ấy ở đâu không? Anh ta ngẩn người ra[anh ta sinh 1962]. Tôi mới giải thích những viên gạch vồ ấy là của Văn miếu tỉnh Khánh Hòa. Khi ấy anh ta mới “ngộ” ra). Diện tích đất xung quanh Văn miếu tỉnh Khánh Hòa là 3 mẫu 4 sào được sung vào công thổ của làng Phú Lộc.

Sau khi các cụ trong Văn hội, hội ý cùng các vị bô lão và chính quyền xã Diên Thủy và được sự đồng ý của Quận trưởng Diên Khánh là Trần Bá Lộc (9) , vào đầu tháng 11 năm Mậu Tuất(1958) công việc di dời Văn chỉ được tiến hành và chỉ gần một năm sau (1959) việc xây cất được hoàn thành.

Để có kinh phí để di dời , ngoài tiền quyên góp, Quận hội Khổng học Diên Khánh phải bán tự điền ở xã Phú Ân, xã Võ Dõng, toàn bộ khu đất ở Phước Tuy do hai ông Phan Cang và Lê Thiện cúng và trích một số diện tích tự điền ở Nghiệp Thành. Hiện nay tự điền của Văn miếu Diên Khánh ở Nghiệp Thành được HTX Nông Nghiệp xã Diên Bình hoán đổi đến địa điểm khác. Giấy quyền sử dụng đất do ông Ngô Văn Ba (nguyên Trưởng Ban Quản lý Văn miếu Diên Khánh) đứng tên.

Dưới thời vua Duy Tân, để tinh giảm bộ máy hành chính , phủ lỵ nào đóng trên địa bàn của huyện nào đó, thì xóa bỏ đơn vị hành chánh của huyện đó. Phủ lỵ phủ Diên Khánh đóng trên địa bàn huyện Phước Điền cho nên xóa bỏ đơn vị hành chánh huyện Phước Điền, quan Tri phủ trực tiếp cai quản. Từ đó địa danh Phước Điền dần dần đi vào quên lãng , nên các cụ trong Văn hội đã đổi danh xưng Diên Khánh Văn miếu thay cho Phước Điền Văn chỉ.

Ơn qua nghĩa lại, Văn miếu Diên Khánh phải thiết lập thêm một án thờ Hội Đồng với 34 đạo sắc phong của làng Phú Lộc gởi để Văn miếu Diên Khánh lo việc hương khói( Miếu Hội Đồng được thành lập vào năm Gia Long thứ 15[1816] tại xã Phú Lộc[nay là khu vực Trường Tiểu học số 2 Thị trấn Diên Khánh – cách Văn miếu Diên Khánh khoảng 200 mét đường chim bay]. Sau năm 1945, chế độ phong kiến cáo chung, không ai coi sóc miếu nên miếu bị hủy hoại dần theo thời gian. Sau năm 1954 miếu Hội Đồng được triệt hạ để xây dựng Trường Tiểu học Phú Lộc. Riêng 34 đạo sắc phong được làng Phú Lộc phụng thủ. Năm 1959 chuyển giao cho Văn miếu Diên Khánh phụng thủ. Hiện nay từ ngoài cổng đi vào , án thờ đầu tiên ở Hữu vu chính là án thờ Hội Đồng do làng Phú Lộc gởi.

Năm 1958 Tỉnh hội Khổng học tỉnh Khánh Hòa được thành lập và kể từ năm 1967, Văn miếu Khánh Hòa ở đường Lữ Gia (nay là Lê Hồng Phong) trở thành nơi tế tự và sinh hoạt của Tỉnh hội. Dưới cấp Tỉnh hội là Quận hội. Văn miếu Diên Khánh thuộc cấp Quận hội và địa điểm Văn miếu Diên Khánh là nơi tế tự và sinh hoạt của Quận hội Diên Khánh .

Năm 2007 Văn miếu Diên Khánh được Nhà nước đầu tư 3612 triệu đồng để trùng tu tôn tạo. Ngày 18.07.2007 UBND tỉnh Khánh Hòa ra quyết định số 1257/QĐ- UBND về việc phê chuẩn báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình trùng tu tôn tạo di tích lịch sử Văn miếu Diên Khánh. Ngày 13.12.2007 tổ chức lễ khởi công trùng tu tôn tạo Văn miếu Diên Khánh.

Văn miếu Diên Khánh không liên quan gì đến mặt trận Nha Trang- Khánh Hòa.

Qua các dữ liệu trên cho thấy Văn miếu Diên Khánh chính là dòng chảy liên tục với sự khởi đầu được xây dựng năm 1846 tại xứ Phật Tỉnh ,xã Phú Ân, sau đó dời qua xứ Thanh Tự, xã Phú Ân, rồi dời lên Gò Sòng , xã Phước Thành (sau đổi thành Phước Tuy), cuối cùng dời về cất trên nền cũ của Văn miếu tỉnh Khánh Hòa đã bỏ hoang vu từ 1948-1958. Toàn bộ kết cấu kiến trúc cột kèo , bia đá, hoành phi , câu đối…hiện nay ở Văn miếu Diên Khánh đều là của Văn chỉ Phước Điền. Ấy vậy nhưng khi viết về Văn miếu Diên Khánh nhiều nhà nghiên cứu lại cứ lẫn lộn giữa Văn miếu tỉnh Khánh Hòa và Văn miếu huyện Diên Khánh mà không có sự phân minh rạch ròi.

Vào 01.04. 2003 Tiến sĩ Nguyễn Công Bằng có bài viết “Văn miếu Diên Khánh” đăng trên Báo Khánh Hòa điện tử có đoạn: “ Ngay sau khi nhân dân tỉnh nhà giành được chính quyền trong Cách Mạng Tháng Tám 1945, Văn miếu Diên Khánh là nơi luyện tập quân sự của thanh niên trong thôn và là địa điểm tập kết lương thực, thực phẩm để cung cấp cho chiến sĩ ta chiến đấu ở mặt trận Nha Trang”

Bài viết Văn miếu Diên Khánh trên trang Wikipedia tiếng Việt viết: “Năm 1948 Văn miếu bị Việt Minh đốt trụi trong chiến dịch “tiêu thổ kháng chiến”. Đến năm 1959 được phục dựng lại tại vị trí mới”.

Những thông tin trên được sao chép từ nội dung tấm bia treo ở bên tay trái cổng vào Văn miếu Diên Khánh : “ Văn miếu Diên Khánh có giá trị về lịch sử văn hóa giáo dục, thể hiện truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Một trong những nét đẹp văn hóa của dân tộc ta. Cùng với giai đoạn lịch sử Văn miếu đã đóng góp rất lớn trong công cuộc chống Pháp xâm lược. Là nơi cất giấu vũ khí, lương thực, luyện tập quân sự để chi viện cho mặt trận Nha Trang 1945-1946. Chính vì những ý nghĩa đó, ngày 13 tháng 2 năm 1998 UBND tỉnh Khánh Hòa ra quyết định số 291/UBQĐ về việc bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và ngày 15.10.1998 Bộ VHTT ra quyết định 04/1998 QĐ-VHTT công nhận Văn miếu Diên Khánh là di tịch lịch sử quốc gia”.

Đến năm 2004 tấm bia ấy được thay bằng tấm bia khác với nội dung: “Miếu được xây dựng năm 1846 (đời vua Thiệu Trị thứ 6).Đây là di tích có giá trị nhiều mặt về kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, văn hóa, giáo dục truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đây là nơi cất giấu vũ khí, lương thực, luyện tập quân sự chi viên cho mặt trận Nha Trang- Khánh Hòa( 23.10.1945-02.02.1946)”

Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận Văn miếu Diên Khánh chứ không phải Văn miếu Khánh Hòa là di tích lịch sử cấp quốc gia (Văn miếu Khánh Hòa dựng năm 1803 còn đâu nữa mà công nhận!). Mặt trận Nha Trang- Khánh Hòa xảy ra từ ngày 23.10.1954- 02.02.1946 thì khi ấy Văn miếu Diên Khánh còn ở Gò Sòng, Phước Tuy chưa di dời về địa điểm hiện nay thì lấy gì “ là nơi cất giấu vũ khí, lương thực, luyện tập quân sự chi viện cho mặt trận Nha Trang” ?.Và Văn miếu Diên Khánh chưa hề bị “tiêu thổ kháng chiến”.

Thiết nghĩ để được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đâu phải nhất thiết có liên quan đến chống ngoại xâm hoặc với cách mạng mới được công nhận! “Phải chăng lịch sử toàn những chuyện chống ngoại xâm còn văn hóa dân tộc không thuộc phạm trù lịch sử ?” (10). Chớ nên đem thành tích của Văn miếu Khánh Hòa gán ghép cho Văn miếu Diên Khánh, như thế là không chính danh! Cần phải thay tấm bia di tích lịch sử trước cổng Văn miếu Diên Khánh bằng một tấm bia di tích đúng với sự thật lịch sử của Văn miếu Diên Khánh.

Văn miếu Diên Khánh là Văn miếu cấp huyện hay cấp tỉnh ?

Do sự hiểu biết mập mờ giữa Văn miếu Khánh Hòa và Văn miếu Diên Khánh nên có một số nhà nghiên cứu xác quyết Văn miếu Diên Khánh là Văn miếu cấp tỉnh chứ không phải cấp huyện (11). Ông Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý Di tích- Danh lam Thắng cảnh Khánh Hòa (nay là Trung tâm Bảo tồn Di tích Khánh Hòa) lập luận: “ Do vậy, hiện nay thường gọi Văn miếu Diên Khánh nhưng không phải là Văn miếu cấp huyện mà chính là Văn miếu cấp tỉnh (Văn miếu trấn Bình Hòa hay Khánh Hòa ngày xưa). Tên gọi Văn miếu Diên Khánh hiện nay cần phải xem xét điều chỉnh lại cho đúng với lịch sử. (12)

Trong bài viết Văn miếu Diên Khánh , nhà nghiên cứu Nguyễn Man Nhiên lập luận: “ Như vậy, tuy gọi là Văn miếu Diên Khánh nhưng đây không còn là Văn miếu cấp huyện mà chính là Văn miếu cấp tỉnh mà tiền thân nó là Văn miếu trấn Bình Hòa xưa, lập năm Gia Long thứ 2 (1803)”

Sáng ngày 31.08.2010 tại Văn miếu Diên Khánh có cuộc “ Hội thảo do Trung tâm Quản lý Di tích và Danh lam Thắng cảnh tỉnh Khánh Hòa báo cáo quá trình hình thành Văn miếu của tỉnh tại Văn miếu Diên Khánh” (nội dung giấy mời do ông Trần Thuyết- Trưởng Ban Quản lý Văn miếu Diên Khánh ký), riêng tôi cũng nhận được giấy mời nhưng do ông Trần Văn Trân – Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Diên Khánh ký. Giấy mời của tôi có nội dung : “ Nghe Trung tâm Quản lý Di tích và Danh lam tỉnh Khánh Hòa báo cáo về quá trình hình thành Văn miếu”.

Hội thảo liên quan đến một di tích lịch sử cấp quốc gia nhưng lại vắng bóng các nhà nghiên cứu lịch sử mà chỉ thấy thân hữu của Văn miếu Diên Khánh và đại diện Ban Quản lý một số đình làng mà thôi. Ông Đặng Chí Thiệu , Phó Phòng Thông tin Văn hóa huyện Diên Khánh tuyên bố lý do buổi Hội thảo. Kế đến ông Nguyễn Văn Thích, Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý Di tích- Danh lam Thắng cảnh Khánh Hòa trình bày quá trình phát triển Văn miếu nhưng lại thiên về Văn miếu tỉnh Khánh Hòa hơn là Văn miếu huyện Diên Khánh hầu dẫn dắt cử tọa không am tường lịch sử vào mục đích đã vạch sẳn.

Chưa có phản biện trong hội thảo nhưng ông Đặng Chí Thiệu vội đưa ra biểu quyết: Ai đồng ý Văn miếu này (tức là Văn miếu Diên Khánh- TG) là Văn miếu Khánh Hòa thì đưa tay lên. Gần 90% cử tọa đều đưa tay đồng ý, mặc dù họ chẳng hiểu lịch sử hình thành Văn miếu Diên Khánh như thế nào cả. Sau đó ông Đặng Chí Thiệu nói: Ai đồng ý Văn miếu này là Văn miếu Diên Khánh đưa tay lên. Và duy nhất chỉ có một mình tôi đưa tay lên mà thôi. Có vài người cũng am tường vì muốn “dĩ hòa vi quý” nên không đưa tay biểu quyết. Tôi vừa hạ tay xuống thì ông Đặng Chí Thiệu tuyên bố: Vậy thì thiểu số phục tùng đa số. Tôi phản đối quyết định này và xin có ý kiến phản biện nhưng ông Đặng Chí Thiệu không chấp nhận. Nhận thấy Hội thảo không có dân chủ nên nhà giáo Ngô Văn Ban đề nghị phải để cho tôi phát biểu chính kiến của tôi. Sau khi tôi nêu ra những dẫn chứng lịch sử là Văn miếu Diên Khánh mà tiền thân của nó là Văn chỉ huyện Phước Điền chứ không phải Văn miếu tỉnh Khánh Hòa hoặc trấn Bình Hòa. Ngay bản thân cái tên Phước Điền hoặc Diên Khánh cũng đủ biết đó là cấp huyện rồi! Sau phát biểu của tôi, cuộc hội thảo được giải tán và chẳng có một biên bản nào cả và cho tới nay vấn đề nâng cấp Văn miếu Diên Khánh thành Văn miếu Khánh Hòa rơi vào quên lãng ( Văn miếu tỉnh Khánh Hòa hiện còn tại 30 Lê Hồng Phong, Nha Trang . Từ tháng 4.1975 cho đến nay được sử dụng làm UBND phường Phước Hải).

Hiện nay trước bái đường Văn miếu Diên Khánh có 4 đại tự “Diên Khánh Văn miếu” bằng chữ Hán nhưng ngoài cổng trên 4 đầu trụ cổng lại đắp 4 chữ “Khánh Hòa Văn miếu” cũng bằng chữ Hán. Thiết nghĩ cần phải xóa 4 chữ Khánh Hòa Văn miếu trên đầu 4 trụ cổng để cho tên Văn miếu Diên Khánh được chính danh.

Ngoài ra Tiến sĩ Nguyễn Công Bằng còn có một lầm lẫn trong bài viết Văn miếu Diên Khánh đăng trên Báo Khánh Hòa điện tử vào ngày 1.4.2003: “ Phía tây Văn miếu có một ngôi miếu nhỏ gọi là Khải miếu, thờ Khải Thánh công Lương Ngột và bà Nhan Thị Trưng Tại…”

Đây là một lầm lẫn lớn , lấy “râu ông nọ cắm cằm bà kia” vì miếu Khải (gọi theo như dân địa phương. Gọi một cách đầy đủ là Khải Thánh từ – đền Khải Thánh) là của Văn miếu tỉnh Khánh Hòa và đã bị “tiêu thổ kháng chiến” vào năm 1948 .

Người xưa rất trọng thuyết CHÍNH DANH, bởi vì “ danh bất chính, tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận ,tắc sự bất thành”.

Nguyễn Văn Nghệ

Tổ dân phố Phú Lộc Tây I, Thị trấn Diên Khánh, Khánh Hòa

Chú thích:

1- Văn chỉ huyện Phước Điền di dời về xứ Thanh Tự xã Phú Ân và được hoàn thành vào mùa đông năm Giáp Dần (1854) khi ấy cụ Đỗ Thúc Tĩnh đang giữ chức Tri phủ , phủ Diên Khánh; cụ Trương Đức Lân đang giữ chức giáo thọ phủ Diên Khánh. Sự kiện di dời ấy mãi đến năm Mậu Ngọ (1858) mới khắc vào bia đá và khi ấy cụ Đỗ Thúc Tĩnh đã được thăng lên chức Án sát tỉnh Khánh Hòa và cụ Trương Đức Lân thăng lên chức Tri phủ Ninh Hòa.

2,3,4,7 – Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nxb TP.HCM, trg 199, 373, 432, 543

5- Năm 1896 vẫn còn địa danh xã Phước Thành, năm 1904 đã đổi tên thành xã Phước Tuy.

6- Năm 1896 vẫn còn địa danh xã Thạnh Ninh sau đó mới đổi thành xã Thanh Minh. Nay thuộc xã Diên Lạc.

8- Bài tường thuật việc di kiến Văn miếu của cụ Tú tài Văn hội trưởng Phan Duy Tuần, hiện còn lưu ở Ban Quản lý Văn miếu Diên Khánh.

9- Thời Việt Nam Cộng Hòa , đơn vị hành chánh dưới cấp tỉnh gọi là “Quận” chứ không gọi là “Huyện”

10 – Lê Quý Hiền, Lỗ hỏng trong chương trình lịch sử phổ thông, Báo Sức khỏe & Đời sống , Chủ nhật 06.04.2008 ,số 56 (2212), trg 2.

11- PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng – Cục Phó Cục Di sản Văn hóa, Bảo tồn và phát huy giá trị Di tích Nho học thời hội nhập, trg 5.

– Đường Ngọc Hà, Tìm hiểu về quy mô, cấu trúc và bố cục thờ tự của Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ Việt Nam , trg 71.

– Lê Thị Quỳnh Hương, Văn miếu Huế sự tiếp nối Văn miếu Thăng Long Hà Nội, trg 236.

Ba bài viết trên được in chung trong tác phẩm Hội thảo khoa học “Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội và hệ thống di tích Nho học ở Việt Nam” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội và Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn miếu – Quốc tử giám xuất bản năm 2008.

12- Nguyễn Văn Thích, Đôi nét về Văn miếu, Văn chỉ, Văn từ trên vùng đất Khánh Hòa, đăng trên Tạp chí Nha Trang số 166. 7-2009, trg 85.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s