Trần Túy Việt – Bhutan: Có những Nhà Vua như thế (Phần II và III)

image005Tuy thế, một thời gian dài từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, nhiều biến cố không hay của chính quyền Tây tạng đã đẩy rất nhiều đợt dân Tây tạng tràn vào Bhutan lánh nạn và thành lập các nhóm chính quyền riêng biệt tại đây. Năm 1639, sau nhiều lần đánh nhau để tranh giành quyền lực, các nhóm chính quyền này đồng ý thừa nhận (Zhabdrung) Ngawang Namgyal là thủ lãnh duy nhất tại Bhutan. Ông được xem là người đã thống nhất đất nước Bhutan. Ông đã củng cố chính quyền Bhutan, mở rộng quan hệ ngoại giao với Tây Tạng ở mạn Bắc, Nepal và Cooch Behar (West Bengal ngày nay) ở phía Nam

 

* * *

2) Có những Nhà Vua như thế:

Xét về lịch sử thì chế độ quân chủ tại Bhutan bắt đầu rất muộn, năm 1907, lúc chế độ quân chủ trên thế giới đang có xu hướng cáo chung. Từ đó đến nay, Bhutan có 5 đời Vua như sau:

  1. Ugyen Wangchuck (b.1861-d.1926) “First King”; reigned 17 December 1907 – 21 August 1926
  2. Jigme Wangchuck (b.1902/1906-d.1952) “Second King”; r. 21 August 1926 – 24 March 1952
  3. Jigme Dorji Wangchuck (b.1929-d.1972) “Third King”; r. 24 March 1952 – 24 July 1972
  4. Jigme Singye Wangchuck (b.1955) “Fourth King”; r. 24 July 1972 – 15 December 2006
  5. Jigme Khesar Namgyel Wangchuck (b.1980) “Fifth King”; r. 14 December 2006 – present

image001

(http://en.wikipedia.org/wiki/History of_Bhutan )

Một cách vắn tắt, lịch sử Bhutan không còn nhiều chứng cứ. Hầu hết tài liệu về thời kỳ cổ đã bị tiêu hủy khi pháo đài Punakha cháy năm 1832 và sau đó trong trận động đất năm 1897 cũng tại Punakha. Mười năm sau, 1907, một trận hoả hoạn khác thiêu rụi pháo đài Paro Dzong, đã đốt thêm một số lớn tài liệu nữa. Ngày nay, lịch sử về thời kỳ cổ của họ chỉ căn cứ vào các nghiên cứu của các nhà thám hiểm người Anh, các truyền thuyết, các huyền thoại và một số rất ít các tài liệu bằng chữ viết còn sót lại sau các tai nạn nói trên.

Nhìn chung Bhutan là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới đã không bị xâm lấn, chiếm đóng hay thống trị bởi một thế lực hay sức mạnh ngoại bang nào. Cho đến nay họ vẫn bảo vệ được nền độc lập và chủ quyền quốc gia.

Tuy thế, một thời gian dài từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, nhiều biến cố không hay của chính quyền Tây tạng đã đẩy rất nhiều đợt dân Tây tạng tràn vào Bhutan lánh nạn và thành lập các nhóm chính quyền riêng biệt tại đây. Năm 1639, sau nhiều lần đánh nhau để tranh giành quyền lực, các nhóm chính quyền này đồng ý thừa nhận (Zhabdrung) Ngawang Namgyal là thủ lãnh duy nhất tại Bhutan. Ông được xem là người đã thống nhất đất nước Bhutan. Ông đã củng cố chính quyền Bhutan, mở rộng quan hệ ngoại giao với Tây Tạng ở mạn Bắc, Nepal và Cooch Behar (West Bengal ngày nay) ở phía Nam. Đối nội, Ông cho xây nhiều tu viện và pháo đài, trong đó các pháo đài ở Paro, Punakha và Trongsa vẫn còn tồn tại đến nay. Ông chỉ định một số quan chức chính quyền ở ba khu vực chính của Bhutan: Trongsa ở miền trung, Paro ở phía tây và Dagana ở phía nam. Chính quyền trung ương đặt tại Punakha.

Ông cũng sáng tạo nhiều tập quán, truyền thống, quốc phục, cùng lễ nghi riêng cho Bhutan; soạn các bộ luật xác định tương quan giữa người làm việc và giới tăng lữ; lập chính sách thuế khóa và nghĩa vụ lao động cho mỗi người dân trong việc xây dựng pháo đài, chùa và cầu (nghĩa vụ này vẫn được áp dụng cho đến năm 1956 mới được bãi bỏ).

Năm sau, 1640, Ông thành lập hệ thống chính quyền “lưỡng thể”, bao gồm thần quyền và thế quyền. Thần quyền do một vị lãnh đạo tôn giáo (Zhabdrung – Quốc Sư) chăm lo việc tín ngưỡng, tâm linh; thế quyền điều hành công việc hành chánh. Người đứng đầu thế quyền gọi là “penlop” – tạm gọi “thủ lĩnh địa phương”. Theo hệ thống này thì vị thủ lãnh tôn giáo thường có quyền uy cao hơn, có thể can thiệp vào các quyết định quan trọng trong thế quyền.

Ông rút lui khỏi chính quyền, về trú ẩn tại tu viện Punakha năm 1651. Không biết Ông mất vào năm nào, chỉ biết cái chết của Ông được công bố vào năm 1705.

Những năm sau đó, tranh dành quyền lực giữa các thủ lãnh địa phương thường xuyên xảy ra khiến Tây tạng có cơ hội xâm lấn. Nhưng cuối cùng, một vị Lạt ma Tây tạng đã đề nghị hưu chiến và ký kết hòa bình theo đó Tây tạng công nhận nền độc lập của Bhutan.

Mặt khác, Bhutan xâm lăng Cooch Behar ở phía nam, nhưng sau đó Cooch Behar cầu viện người Anh đến giúp. Quân Anh đã đánh bật họ ra khỏi Cooch Behar, đuổi họ đến tận Bhutan (1772). Họ bị ngưòi Anh đánh bại và phải ký kết hòa ước với Anh năm 1774.

Từ đó cho đến năm 1865 là thời kỳ không mấy sáng sủa cho chính quyền và nhân dân Bhutan. Trong nước, tranh chấp quyền lực giữa các thủ lãnh địa phương vẫn tiếp tục. Bên ngoài thì Anh quốc gia tăng quyền kiểm soát Bengal; sau đó dành thêm quyền kiểm soát toàn bộ miền nam Bhutan vào tháng 11/1864.   Mâu thuẫn nảy sinh giữa Anh và Bhutan. Sau nhiều lần giao chiến và thất bại, Bhutan đã bị ép ký hòa ước Sinchula, ngày 11/11/1865, theo đó, Bhutan đã nhượng một phần đất cho Anh và cho phép tự do thương mại giữa hai nước.

Trở lại với các thủ lãnh địa phương Bhutan, thì Jigme Namgyal – thủ lãnh Trongsa – qua đời, con trai là Ugyen Wangchuck lên thay thế (1882). Ông hạ các đối thủ chính trị khác và thống nhất quốc gia vào năm 1885.

Để tái lập chủ quyền quốc gia và củng cố địa vị, Ugyen Wangchuck đã thắt chặt quan hệ với người Anh. 1904, Ông theo chân đoàn quân Anh vào Tibet, sau đó làm người trung gian cho Tây tạng và Anh quốc ký hiệp ước Lhasa. Với công trạng này, Ông được Anh quốc phong tước hiệu Knight Commander of the Indian Empire. Năm 1906, Ông được mời đến Calcutta tham dự buổi yến tiệc đón Hoàng tử Xứ Wales. Ông trở về Bhutan với rất nhiều ưu ái mà thế giới bên ngoài quốc gia dành cho Ông.

image002Năm 1907, Ông được các thủ lãnh địa phương đồng lòng chọn là ngưòi duy nhất lãnh đạo quốc gia. Ông lên ngôi vua ngày 17/12/1907, lấy danh hiệu Druk Gyalpo (Dragon King – Long Vương).

Đó là Nhà Vua đầu tiên của Bhutan và những việc Ông đã làm cho đất nước trước khi được đăng quang.

Sau khi lên ngôi, Nhà Vua vẫn cố duy trì mối quan hệ tốt đẹp với người Anh, phần nào để dành thế hỗ trợ an ninh phòng thủ trước sự gia tăng thế lực của Trung hoa tại Tây tạng. Quan hệ này được tăng cường với hiệp ước Punakha, 1910, theo đó Anh quốc sẽ không can thiệp vào nội bộ hành chánh của Bhutan, nhưng có vai trò cố vấn về ngoại giao (Các điều khoản này còn được ký kết với Ấn độ trong năm 1949). Ngược lại, Bhutan vẫn từ chối cho công dân Anh nhập cư, đồng thời vẫn giữ tình trạng biệt lập (isolation) để giữ chủ quyền quốc gia trong thời kỳ mà nhiều quốc gia đang bị trở thành thuộc địa.

Ông mất năm 1926. Con trai Jigme Wangchuck lên thay.

 

Nhà Vua thứ 2: Jigme Wangchuck, 1927-1952, duy trì độc lập:

image00326 tuổi, lên ngôi trong giai đoạn thế giới trải qua một cơn đại khủng hoảng và trận thế chiến thứ hai. Thành tựu của Nhà Vua là giữ cho Quốc gia một khoản cách biệt đủ để không bị ảnh hưởng bởi các biến cố kinh khủng này. Nhà Vua đã kiên định giữ cho Bhutan là quốc gia độc lập khi Ấn độ đề nghị sáp nhập vào Ấn khi nước này được Anh quốc trả lại độc lập năm 1947.   Nhà Vua đã duyệt, điều đình lại hòa ước Sinchula để Anh và Ấn đều thừa nhận Bhutan là một quốc gia độc lập và hoàn trả cho Bhutan số đất Bhutan đã nhượng lúc trước.

Nhà Vua đã sửa đổi hệ thống hành chánh vốn được thiết lập từ thời Zhabdrung Ngawang Namgyel, thay luôn các loại thuế trả bằng hiện vật hay lao động để tiện lợi cho dân chúng. Ngành giáo dục cũng được Nhà Vua chú trọng.

 

Nhà Vua thứ 3: Jigme Dorji Wangchuck và công cuộc hiện đại hóa đất nước (1952-1972):

image004Được du học tại Ấn và Anh quốc, Nhà Vua biết rằng không thể để Bhutan trong tình trạng biệt lập mãi được mà phải đưa Quốc gia ra thế giới. Việc trước tiên nhà Vua làm là mời Thủ tướng Ấn độ Jawaharlal Nehru và con gái Indira Gandhi đến thăm Bhutan năm 1958.

Sau khi Trung cộng chiếm Tây tạng , 1959, Nhà Vua càng thấy rõ sự cô lập không còn thích hợp trong thế giới mới này nữa. Nhà Vua biết rằng để bảo vệ sự độc lập của mình, Bhutan phải là một thành viên của cộng đồng thế giới mạnh. Do đó Nhà Vua đã đưa ra các chương trình phát triển theo kế hoạch 5 năm.

Song song với việc phát triển các kế hoạch 5 năm là sự cải tổ hệ thống hành chánh, đặt chức vụ Thủ tướng ở cấp trung ương, tách bộ phận tư pháp ra khỏi hành pháp, thành lập Quốc Hội và Hội đồng Cố Vấn Hoàng Gia, ban hành luật đất đai, xóa bỏ các hình thức nông nô v..v..

Mục đích của công cuộc cải tổ là mang lại sự thịnh vượng và hạnh phúc cho người dân. Đây là điểm được Nhà Vua nhấn mạnh trong diễn văn của Người khi Bhutan được gia nhập Liên Hiệp Quốc. (Quan điểm này của Nhà Vua đã được hoàng tử Jigme Singye Wangchuck kế tục và phát triển thành triết thuyết “Chỉ số hạnh phúc” khi hoàng tử lên ngôi. Xin xem phần 3)

Đối ngoại, ngoài việc gìn giữ quan hệ thân thiết với Ấn độ và trung lập đối với Trung cộng, Bhutan luôn tìm cách nối kết với các tổ chức quốc tế. Kết quả: năm 1962 họ được gia nhập Chương Trình Colombo, 1971 được công nhận là thành viên Liên Hiệp Quốc.

Nhà Vua mất ngày 21 tháng 7 năm 1972 tại Nairoby, Kenya vì nhồi máu cơ tim. Ngày mất của Nhà Vua trở thành quốc lễ trong khi ngày sinh của Nhà Vua, 2 tháng 5, được chọn làm Ngày Nhà Giáo do tâm huyết và công trạng của Nhà Vua dành cho ngành giáo dục quốc gia lúc sinh thời. (http://www.lonelyplanet.com/bhutan/history)

image005Nhà Vua thứ 4: Jigme Singye Wangchuck: Tiến trình dân chủ hóa và tản quyền (1972-2006)

Hình trích từ internet

Tôi cảm thấy thật khó viết về Nhà Vua thứ tư của Bhutan vì có quá nhiều sự kiện cũng như quá nhiều tình cảm mà người dân Bhutan đang dành cho Nhà Vua.

Như trên tôi có nói qua, người dân nơi đây rất hãnh diện với nhà Vua đương thời của họ, có lẽ vì tính cách trẻ trung, trí thức và mối tình lãng mạn của Nhà Vua. Nhưng đối với nhà Vua tiền nhiệm, họ còn bộc lộ nhiều tình cảm hơn cả lòng thương mến, đò là lòng kính trọng và mang ơn.

Tôi đến đúng lúc để cùng người dân Bhutan chúc mừng sinh nhật thứ 60 của Nhà Vua thứ 4 dù Người đã hồi hưu.   Hình ảnh của Nhà Vua được trưng bày khắp nơi, tên tuổi Nhà Vua được nhắc đến, nhiều công trình công cộng được làm trong tinh thần quà tặng sinh nhật cho Nhà Vua.

Tình cảm đó khởi đầu từ khi cậu trai trẻ trong tuổi vị thành niên, 17, đã phải thay Cha, tiếp nhận trách nhiệm nặng nề: lãnh đạo Quốc gia (1972). Phải hai năm sau cậu trai trẻ mới đủ tuổi để chính thức bước lên Ngai Vàng.

Dù thương mến, người dân vẫn hồi hộp với Nhà Vua quá trẻ phải đảm nhận quá nhiều trách nhiệm chưa hoàn thành từ người Cha đã qua đời.   Thật ngược lại, trong 34 năm cần chính, Nhà Vua trẻ nhất này đã tự chứng tỏ một tài năng già dặn, đã đưa Bhutan từ chỗ cô quạnh đến một quốc gia hoà bình và phát triển trong vùng Hy mã lạp sơn.

Không riêng người dân Bhutan, thế giới bên ngoài cũng rất ngưỡng mộ Nhà vua do nhiều cải cách Nhà Vua đã làm cho đất nước kể cả việc nhường ngôi cho con trai lúc Nhà Vua mới 51 tuổi (2006). Hãy nghe vài lời chúc tụng gởi đến Nhà Vua:

“There has never been a King like His Majesty Jigme Singye Wangchuck in our History and there will never be a greater King again. To me personally, His Majesty is my King, my Teacher, my Inspiration and my Tsawai Lam.” (His Majesty The Druk Gyalpo Jigme Khesar Namgyel Wangchuck)

(“Chưa bao giờ có một vị Vua như Nhà Vua Jigme Singye Wangchuck trong lịch sử cùa chúng ta và cũng sẽ không thể có một Nhà Vua nào vĩ đại hơn!. Với tôi, Ngài là Vua của tôi, là Thầy của tôi, là nguồn cảm hứng của tôi, là Đạo Sư của tôi.” (Nhà Vua đương nhiệm – The Druk Gyalpo Jigme Khesar Namgyel Wangchuck )

“My father says that you live in a small wooden house in the deep forest. Why you don’t live in a big palace? You are a King. Many people in Thimphu live in big houses. Please build a big palace for yourself.” (Tsheyang Mendey Tshering – 9yr old – Class III B, Dr. Tobgyel School, Babesa, Thimphu)

(Cha cháu nói rằng Ngài đang ở trong ngôi nhà gỗ trong rừng sâu. Sao Ngài không sống trong một cung điện? Ngài là Vua mà. Hãy xây một cung điện cho Ngài đi nhé. – Em Tsheyang Mendey Tshering – 9 tuổi – Lớp III B, Trường Dr. Tobgyel School, Babesa, Thimphu)

“…I’m very proud to tell people that I am from Bhutan because Bhutan is a place filled with beauty, hope, courage and above all, the strength and the unwavering support from Our Great King.” (Sonam Peden, Class XI Com. B, Motihang Higher Secondary School, Thimphu.)

(Tôi rất hãnh diện nói với mọi người rằng tôi đến từ Bhutan. Đó là một đất nước đẹp, hy vọng, can đảm và hơn hết là sức mạnh và sự ủng hộ bến bỉ từ Nhà Vua vĩ đại của chúng tôi. – Học sinh Sonam Peden, Lớp XI Com. B, Trường Motihang Higher Secondary School, Thimphu. )

We consider ourselves fortunate to be Bhutanese because of the quality of the nation that we inherited from our forefathers. When His Majesty the King stood on the royal podium, before the entire nation, and bowed to his father, it symbolized the sacred responsibility of every Bhutanese man, woman, and child to ensure that future generations of Bhutanese people will also feel fortunate to be Bhutanese. (http://2008.bhutan-360.com/vision-to-reality/#more-25)

(Chúng tôi cảm thấy thật là may mắn mình là con dân Bhutan nhờ phẩm giá mà chúng tôi đang thừa kế từ cha ông của chúng tôi. Khi Nhà Vua (kế nhiệm – người viết) đứng trước khán đài Hoàng Gia, trước toàn thể dân chúng Bhutan và cúi mình trước Vua Cha là lúc Người biểu hiện trách nhiệm thiêng liêng của tất cả người dân Bhutan để bảo đảm rằng các thế hệ tương lai của chúng tôi cũng sẽ cảm thấy may mắn là người dân Bhutan)

“His Majesty’s visionary leadership has been a tremendous source of guidance for Bhutan for over three decades and has contributed immeasureably to the peace, stability, progress and prosperity achieved by Bhutan.” (Head, Mr. Tek B. Chhetri, Representation Office of Denmark).

(Sự lãnh đạo với tầm nhìn xa của Nhà Vua là nguồn hướng dẫn phong phú cho Bhutan trong suốt ba thập niên qua và là đóng góp vô giá cho hòa bình, bền vững, tiến bộ và thịnh vượng của Bhutan.)

Năm 2011, nhân sinh nhật thứ 56 của Nhà Vua rơi vào ngày đặc biệt chỉ có 1 trong vòng 100 năm (11/11/11), nhà xuất bản MPC Publication đã ấn hành đặc san 11-11-11, vắn tắt ghi lại tiểu sử, các sắc lệnh quan trọng do Người ký, các công trình Người đã hoàn tất, cùng những lời chúc tụng từ người dân Bhutan gởi đến để mừng sinh nhật Người.

Trong các công trình Người đã hoàn tất, quan trọng nhất, hào hứng nhất, lôi cuốn nhất là triết thuyết “Tổng hạnh phúc quốc gia”, và đã được trân trọng ghi vào Hiến Pháp Bhutan, Mục 9, Điều 2:

“The State shall strive to promote those conditions that will enable the pursuit of Gross National Happiness.”

(http://www.bhutanaudit.gov.bt/About%20Us/Mandates/Constitution%20of%20Bhutan%202008.pdf)

Nhà nước sẽ tích cực đẩy mạnh các điều kiện cho phép để mưu cầu Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia.

 

Xin Quý Anh Chị và Các Bạn theo dõi tiếp sau đây.

3) Chỉ số hạnh phúc

Nói cho ngay thì khái niệm Hạnh phúc Quốc dân đã được đề cập đến trong bộ luật 1729, được cho là đã có từ thời Bhutan mới thống nhất, rằng “nếu Chính quyền không mang lại hạnh phúc cho người dân thì không lý do gì cho chính quyền đó hiện diện.” (The Center for Bhutan Studies, A Short Guide to Gross National Happiness Index, 1st published, 2012, p.14. web: http://www.grossnationalhappiness.com/wp-content/uploads/2012/04/Short-GNH-Index-edited.pdf )

Tư tưởng này được Nhà Vua thứ 3, Jigme Dorji Wangchuck, nhấn mạnh một lần nữa trong diễn văn đọc trước Liên Hiệp Quốc khi nước này được phê chuẩn là thành viên.

Tiếp nối ý nguyện của Vua Cha, trong năm đầu tiên sau khi lên ngôi, Nhà Vua Jigme Singye Wangchuck tuyên bố: “Các chính sách quốc gia phải ưu tiên củng cố nền kinh tế tự lập, sự thịnh vượng và hạnh phúc cho tổ quốc và nhân dân chúng ta… Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia quan trọng hơn Tổng sản lượng Quốc gia”.

Đây là quan niệm hoàn toàn mới, lôi cuốn sự chú ý của nhiều học giả lẫn các nhà làm chính sách trên thế giới. Các chương trình phát triển từ trước chỉ nhắm đến sự phát triển kinh tế đơn thuần trong khi quan niệm Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia cho rằng sự phát triển kinh tế vật chất phải đi đôi với việc phát triển tinh thần con người và cả hai phải hỗ trợ cho nhau. Để bảo đảm điều đó, các chính sách phát triển kinh tế phải đáp ứng đủ 4 tiêu chuẩn: kinh tế tự lập, bảo vệ môi trường, khuyến khích giáo dục và quản trị tốt.

Tư tưởng mới này đã phải mất một thời gian dài để thuyết phục các nhà làm chính sách và các tổ chức quốc tế. Mãi đến năm 2005, cơ quan xã hội dân sự International Institute of Management mới có báo cáo các nghiên cứu liên quan đến “Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia” (GNH). Năm 2006, cơ quan này đã kêu gọi Hoa kỳ nên thực hiện lý thuyết này và mời các học giả Hoa kỳ nên đưa ra các tiêu chuẩn cho GNH.   Lần lượt các năm sau đó các quốc gia khác cũng công bố các nghiên cứu về chỉ số hạnh phúc của mình như Thái Lan – 2007, Hoa kỳ – 2009 (tháng 10/2009, viện Gallup công bố chỉ số GNH của Hoa kỳ 66.1/100   http://en.wikipedia.org/wiki/Gross_National_Happiness#cite_note-6).

 

Nhưng “GNH” (Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia) là gì?

Đơn giản nhất thì “…nếu vào cuối một kế hoạch 5 năm mà người dân của chúng ta không cảm thấy hạnh phúc hơn trước đó thì kế hoạch đó đã thất bại.”

Phức tạp hơn thì: Đó là một khuynh hướng phát triển đa diện để đạt được sự quân bình giữa phúc lợi vật chất và nhu cầu tâm linh, tình cảm và văn hóa của xã hội.

“… Chúng ta cần phân biệt “hạnh phúc” trong GNH với cảm giác hài lòng hay thỏa mãn thoáng qua. Chúng ta cần biết rằng hạnh phúc thực không thể có khi người khác đang đau khổ, nó chỉ có thể có khi phục vụ người khác, sống hoà hợp với thiên nhiên, nhận thức được nội tâm sáng suốt của mình.. ”

(The Center for Bhutan Studies , A Short Guide to Gross National Happiness Index, 1st published, 2012, p.7. web: http://www.grossnationalhappiness.com/wp-content/uploads/2012/04/Short-GNH-Index-edited.pdf )

Làm thế nào để đo lường hạnh phúc?

Để đo lường hạnh phúc, Bhutan đã thành lập một cơ quan độc lập gọi là Ủy Ban Hạnh Phúc Quốc Gia. Khởi đầu đó là Ủy Ban Kế Hoạch, do Nhà Vua Jigme Dorji Wangchuck thành lập vào năm 1971, với 13 thành viên, bao gồm Nhà Vua và các Bộ trưởng trong nội các, phát ngôn viên của Quốc hội, đại diện Hội đồng Cố Vấn Hoàng Gia… Nhiệm vụ chính của Ủy Ban là thiết lâp các mục tiêu lớn cho các kế hoạch 5 năm, phối hợp với các kế hoạch, chương trình phát triển vùng hay địa phương. Năm 1991, Nhà Vua rút lui khỏi Ủy Ban này để tăng cường quyền quyết định cho các cấp chính quyền thấp hơn.   Tháng giêng năm 2008, Ủy Ban Kế Hoạch đổi tên gọi thành Ủy Ban Hạnh Phúc Quốc Gia.   Nhiệm vụ của Ủy Ban là soạn thảo, điều hành và đánh giá các kế hoạch phát triển Quốc Gia theo 4 tiêu chuẩn trong 9 lãnh vực như sau:

 

4 Tiêu Chuẩn 9 Lãnh vực
1) Kinh tế – Xã hội
phát triển cân bằng
1)Tiêu chuẩn đời sống
2) Giáo dục
3) Sức khỏe
2) Bảo tồn và
Phát triển Văn hóa
4)Văn hóa đa dạng và uyển chuyển
5)Cộng đồng năng động
6)Thời gian xử dụng (*)
7)Tâm lý thoải mái
3) Bảo toàn môi trường 8) Sinh thái phong phú
4) Chính quyền tốt 9) Chính quyền tốt

(*) Thời gian làm việc, thời gian ngủ của mỗi cá nhân

(http://www.grossnationalhappiness.com/wp-content/uploads/2012/04/Short-GNH-Index-edited.pdf )

Căn cứ vào các yếu tố trên, năm 2007 Trung Tâm Nghiên Cứu Bhutan đã làm cuộc điều tra đầu tiên nhưng chỉ trong phạm vi nhỏ với mẫu dân số 950. Năm 2010 , Trung Tâm tiến hành cuộc thăm dò thứ hai, kéo dài từ tháng tư đến tháng 12, qua một bảng câu hỏi 43 trang, 249 câu hỏi. Nội dung các câu hỏi bao trùm hầu hết các khía cạnh tạo nên hạnh phúc cá nhân. Cuộc thăm dò thu thập ý kiến từ 7142 người trả lời, trong đó có 6476 (90.7%) người trả lời toàn bộ các yếu tố thăm dò.

Kết quả thăm dò là một báo cáo 496 trang, Quý Anh Chị và Các Bạn có thể theo dõi toàn bộ bảng câu hỏi và kết quả tại:

http://www.grossnationalhappiness.com/questionnaire/

http://www.grossnationalhappiness.com/docs/2010_Results/PDF/National.pdf

Tôi xin trích 2 câu hỏi ý kiến người dân về việc làm của chính quyền:

Q133. For each of the following, please rate the performances of the government in the past 12 months.

(Xin vui lòng đánh giá các việc làm của chính quyền trong 12 tháng qua về các lãnh vực sau: Tạo việc làm – Giảm cách biệt giàu nghèo – Cung cấp nhu cầu giáo dục – Cải tiến dịch vụ chăm sóc sức khỏa – Chống tham nhũng – Bảo vệ môi trường – – Mở đường sá – Cung cấp điện – Bảo tồn văn hóa và truyền thống )

Very Good Good Average Poor Very Poor Don’t Know
Centra1 Creating jobs 5 4 3 2 1 8
Centra2 Reducing gap between rich & poor 5 4 3 2 1 8
Centra3 Providing educational needs 5 4 3 2 1 8
Centra4 Improving health services 5 4 3 2 1 8
Centra6 Fighting corruption 5 4 3 2 1 8
Centra8 Protecting environment 5 4 3 2 1 8
Centra9 Providing road 5 4 3 2 1 8
Centra10 Providing electricity 5 4 3 2 1 8
Centra11 Preserving culture and traditions 5 4 3 2 1 8

 

Q136. What about the overal direction of the government? Would you say the government is:

(Xin bạn vui lòng cho biết chính quyền đang: – đi đúng hướng — đi sai hướng —- không biết):

Going in the
right direction
Going in the
wrong direction
Don’t know
Gov 1 2 1 8

 

Sau đây là vài điểm đáng chú ý từ bản điều tra :

Đàn ông cảm thấy hạnh phúc hơn phụ nữ

50% Người dân thành phố hạnh phúc, tỉ lệ này ở nông thôn là 37%

Người có trình độ học vấn cao hạnh phúc hơn người ít học, nhưng học cao không ảnh hưởng mấy đến GNH

Người thất nghiệp hạnh phúc hơn người đi làm trong các công ty, nội trợ, nông dân hay công chức.

Người trẻ và người độc thân là những người trong số hạnh phúc nhất

Về mặt số lượng thì số người hạnh phúc lớn nhất cũng như kém hạnh phúc nhất sống ở thành phố Thimphu và Chukha.

Chỉ số hạnh phúc đạt được: 0.743 (hay74.3/100. Tỷ số này ở Hoa kỳ là 66.1/100 theo điều tra năm 2009 của Viện Gallup. Xin Quý Anh Chị và Các Bạn xem lại phần trên)

…..

Quý Anh Chị và Các Bạn thân mến,

Chỉ số hạnh phúc chưa ngừng lại ở đây. Nó vẫn còn là một đề tài tranh cãi, nhiều ý kiến được bàn thảo trong các hội nghị cấp quốc tế. Có nhiều ý kiến hoài nghi, có thật sự người dân Bhutan có hạnh phúc không? Nếu nói có thì không hẳn là câu trả lời đúng. Bhutan đang thay đổi rất nhanh, nhưng xã hội không đáp ứng kịp thời. Thực tế, cuộc sống và lợi tức của người dân thành thị, điển hình là Thimphu, cao hơn rất nhiều lần so với nông thôn; tất nhiên, khuynh hướng chung người ta sẽ đổ xô về thành phố. Thế thì GNH ở đâu? Bhutan có gì khác hơn với các nước đang phát triển trên thế giới?

GNH vẫn là mục tiêu mà Bhutan đang theo đuổi, và chỉ có thể nói Bhutan là nơi mà GNH có thể có cao hơn. Bởi vì, hơn tất cả mọi điều, GNH là một trách nhiệm chứ không phải là lời hứa. Đó là một đòi hỏi cho chính quyền phải tạo được một hoàn cảnh thích hợp, hỗ trợ cho mỗi công dân Bhutan tìm thấy hạnh phúc. (Gross National Happiness – Happy in Bhutan? web http://2008.bhutan-360.com/category/gross-national-happiness/ )

(Ghi thêm: Tháng 11 năm nay (2015), sẽ là Hội nghị Quốc tế GNH lần thứ 5, Quý Anh Chị và Các Bạn muốn tham dự J xin vào ghi danh tại địa chỉ sau đây:

image006

Hội nghị sẽ diễn ra từ 4-6 /11/15. Quý Anh Chị dự hội nghị xong có thể ở lại chơi đến ngày 11/11 , là ngày sinh nhật của Nhà Vua tiền nhiệm, người đã đưa GNH lên địa vị ngày nay. Chắc chắn sẽ có nhiều tiết mục đặc biệt đón mừng sinh nhật Người.)

Kính Quý Anh Chị và Các Bạn thân mến,

Đối với riêng tôi thì GNH là sự chia sẻ quyền lực của người dân với chính quyền trong các kế hoạch phát triển đất nước cũng như đánh giá khả năng thực hiện các dự án đó của chính quyền. Người dân, dù là nông dân chân lấm tay bùn hay học giả cao siêu, đều có quyền được hỏi ý kiến và phát biểu ý kiến về tất cả vấn đề liên quan đến đời sống thiết thân của mình. Tôi nghĩ rằng khi trả lời các câu hỏi là lúc người dân cảm thấy hạnh phúc nhất bởi vì nhân phẩm của họ được nâng cao hơn, nhân quyền của họ được tôn trọng hơn, nhân vị của họ được xác định mạnh mẽ hơn. Tôi tin thế vì rằng hạnh phúc cá nhân còn thiếu một định nghĩa thống nhất cũng như khó tránh các nghịch lý.

Còn tiếp…

Đã đăng:

Trần Túy Việt – Bhutan: Có những Nhà Vua như thế (Phần I)

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s