Phương Tôn – Quá trình phát triển Phật giáo tại Đức quốc (Phần II)

Phần II: Hoa thắm đua nở

budd-haus-500Đến đầu thế kỷ 20. cây non Phật giáo Đức đang đâm chồi nảy tươi tắn trên một mảnh đất tưởng như không có cơ hội phát triển thì bổng nhiên tai ương lại xảy đến. Tháng giêng năm 1933 Phát xít Đức lên nắm chính quyền lập nên Đế chế thứ ba. Đây là một tai hoạ cho cả thế giới chứ không riêng gì cho Phật giáo tại xứ này.

Do vừa lên nắm chính quyền, trong vài năm đầu chế độ Đức Quốc Xã còn để yên chưa để mắt đến các thành phần Tôn giáo. Ngay vào năm 1933, năm đầu tiên của chế độ, Đại Hội Phật Giáo Châu Âu đầu tiên được tổ chức tại Berlin. Mặc dù Đại hội gây được tiếng vang lớn trong cộng đồng Phật Giáo nhưng một số câu hỏi trong nước được đặt ra do một vài thành phần trong ban tổ chức lại là đảng viên đảng Quốc Xã.

Tuy nhiên không bao lâu sau đó, khi chủ trương bài Do Thái dần thành hình, một số Phật tử văn nghệ sĩ, trí thức gốc người Do thái bỏ nước ra đi. Đặc biệt trong số này phải kể đến Siegmund Feniger, ông bỏ sang tu tập tại Tích Lan rồi về sau trở thành Tăng sư Nyanaponika, là một trong những người quan trọng nhất trong việc xây dựng nền Phật giáo tại nước này (xem thêm về Siegmund Feniger trong Phần I).

Mặc dù một số Phật tử có khuynh hướng ủng hộ chế độ Phát xít nhưng Phật giáo Đức vào thời đó tự xem là phi chính trị. Nhưng vấn đề là liệu chế độ Quốc xã có xem là Phật giáo Đức phi chính trị hay không vì ngay khi Adolf Hitler thành lập đảng Quốc xã vào năm 1920 lấy hình „chữ vạn“[1] làm dấu hiệu đảng thì ngay lập tức trên tờ „Tạp Chí Phật Giáo“, tiếng nói chính thức của Phật giáo Đức liền công bố từ bỏ dùng dấu hiệu hình „chữ vạn“, một biểu tượng của Phật giáo từ thời cổ đại Ấn độ. Đây chính là một thái độ Chính trị quyết liệt của thế hệ tiền phong Phật giáo Đức.

Dù được bọc dưới lớp vỏ „phi chính trị“ nhưng Quốc xã đức vẫn tìm cách đàn áp Phật giáo. Khi đệ nhị thế chiến bùng nổ, nạn nhân Phật giáo đầu tiên là Martin Steinke[2], người thành lập „Cộng đồng của đức Phật“ tại thủ đô Berlin và thành phố kế cận Postdam cùng các thành viên bị bắt giữ, cộng đồng bị cấm hoạt động, thư viện bị tịch thu. Bên cạnh đó, „Chùa Phật giáo Berlin-Frohnau“ (xem phần I) cũng bị đóng cửa, mật vụ lục soát nhà cửa các thành viên của chùa. Dưới sự đàn áp của Quốc xã, các nhóm Phật giáo trên nước Đức chính thức rút vào bóng tối, chỉ còn sinh hoạt ngầm.

Đệ nhị thế chiến chấm dứt, Đức quốc xã bị quân đồng minh tiêu diệt các sinh hoạt xã hội dần dần trở lại bình thường. Như thảo mộc bừng sức sống trên mảnh đất sau cơn mưa qua thời gian hạn hạn khô cằn,Phật giáo Đức cũng theo đó nhanh chóng hồi sinh. Các cộng đồng Phật giáo có sẵn tại các thành phố lớn Berlin, Hamburg, München liền sinh hoạt công khai trở lại. Các cộng đồng, hội đoàn Phật giáo mới cũng được thành lập như nấm mọc trên những mảnh đất phì nhiêu. Tại miền bắc Đức, vào năm 1948 Paul Debes[3] xây dựng „Mạng Lưới Phật Giáo cho các thành phố Hamburg, Lübeck, Hannover, Kiel và Celle“ hoặc „Hội Phật Giáo Vienna“ tại thủ đô Vienna, Áo quốc được thành lập năm 1949. Các cộng đồng Phật giáo cũng được lập nên tại Thụy sỹ[4]. Vào năm 1955 „Hội Phật Giáo Đức-DBG“ được chính thức thành lập, ba năm sau đó 1958 Hội đổi thành „Liên Minh Phật Giáo Đức – DBU“[5]. Đây là một cơ sở được xem là mối liên lạc nối tiếp giữa các hội đoàn, cộng đồng Phật giáo trong nước Đức cũng như đối với quốc tế.

Hơn một thập niên sau chiến tranh các sinh hoạt Phật giáo nói chung vẫn còn tập trung tại các đô thị , thành phố lớn. Lý do là người dân đô thị có nhiều cơ hội tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau. Họ có lối suy nghĩ tương đối cởi mỡ và dễ dàng chấp nhận những cái mới lạ hơn so với người dân nông thôn. Mãi đến năm 1962, Phật tử tại thành phố Hamburg mới mạnh dạn hướng ra vùng nông thôn qua việc thành lập cơ sỡ sinh hoạt Phật giáo „Căn nhà tĩnh lặng e.V.“ tại một vùng quê Schleswig-Holstein Rosenburg với mục đích đề ra „Những công trình khoa học trong căn nhà này nhằm phục vụ để tìm hiểu sâu sắc hơn những lời dạy của đức Phật“ và cũng là nơi để các sư tăng người Đức có nơi cư trú yên tĩnh để tu tập. Một số cơ sở tương tự „Căn nhà tĩnh lặng“ tiếp theo đó cũng được dựng nên tại các vùng nông thôn ở Áo quốc, hay tại vùng miền nam Đức.

Một điểm nhấn quan trọng trong quá trình phát triễn Phật giáo tại Đức nói riêng và tại Âu châu nói chung là việc thành lập „Liên Hội Phật giáo Âu châu – EBU“ vào năm 1975 tại Paris dựa theo mô hình của DBU. EBU giữ nhiệm vụ tổ chức những buổi hội nghị Phật giáo hàng năm và cũng là cơ sở tiếp xúc với các tổ chức quốc tế. Hiện nay EBU còn là một thành viên của UNESCO.

Kể từ ngày có nhân duyên giao tiếp với nền văn hóa Phật giáo phương Đông cho đến thời điểm sau chiến tranh thứ hai, Phật giáo Đức được xem như một chồi non nẩy nở thành cây non rồi dần dần lớn mạnh. Thân chính của „cây“ Phật giáo Đức chính là Phật giáo Nguyên thủy. Tuy nhiên Phật giáo sẽ không còn là Phật giáo, cây Phật giáo sẽ không có sức thu hút nếu không linh hoạt phát triễn ra nhiều nhánh nhiều cành. Cùng chung sống, hỗ trợ cùng nhau lớn mạnh để mang lại bóng mát An lạc cho mọi người. Sang thế kỷ thứ 20, bắt đầu từ thập niên 70, cây Phật giáo Đức bắt đầu mọc nhánh mọc cành mạnh. Trong đó phải kể đến Phật giáo Tây tạng (Kim Cương thừa), Phật giáo Thiền (Zen) của Nhật và Phật giáo Việt Nam.

 

Phật giáo Thiền

Japan_-_ZenDo hoàn cảnh lịch sử, người Đức đã có nhiều giao tiếp với nền văn hóa Nhật đặc biệt trong việc trao đổi học thuật, văn hóa và quân sự. Điểm đen là liên minh quân sự trong thế chiến thứ hai giữa quốc xã Đức và Nhật hoàng. Vào năm 1922 Eugen Herrigel, nhà nghiên cứu tôn giáo tại viện triết học thuộc đại học Heidelberg, Đức quốc làm một bài tiểu luận dựa trên căn bản triết học của thiền học Zen. Qua đó, viện triết học Heidelberg mời giáo sư Shuej Ohasama, chuyên về Thiền phái Rinzai truyền thống của Nhật sang giãng dạy. Vào năm 1925 Ohasama cùng August Faust giáo sư giảng dạy tại đại học Marburg, Đức cho xuất bản cuốn sách đầu tiên về thiền bằng tiếng Đức. Tiếp theo đó các tác phẩm Thiền của Tanable Hajime, Hisamatsu Shinichi, Rudolf Otto, Eugen Herrigel, August Faust và D. T. Suzuki, được phát hành rộng rãi để cung ứng cho trào lưu học và tu thiền ở Đức. Từ đó đến nay, nhiều trung tâm thiền đã lần lượt ra đời. Mặc dù về mặt hàn lâm, Phật giáo Thiền không gây được dấu ấn trong giới trí thức người Đức như các dòng nhánh Phật giáo khác, để từ đó họ truyền bá tiếp đến quần chúng nhưng Thiền lại có ảnh hưởng tác dụng lớn trong ngành trị liệu tâm lý kể từ ngày Karlfried Graf von Dürckheim (1896-1988) từng là một Ủy viên văn hóa của Đức quốc xã tại Tokyo trở lại Đức sau chiến tranh dựng nên trung tâm trị liệu tâm lý bằng thiền tại khu vực rừng đen của Đức. Ông cùng vợ lập nên một phương pháp điều trị tâm lý dựa trên căn bản Phật giáo. Hiện nay Thiền là một phần sinh hoạt không thể thiếu trong một số thành phần người dân Đức, đặc biệt trong giới trí thức do Thiền „ đòi hỏi vận động trí thông minh và sức mạnh ý chí“.

 

Phật giáo Tây Tạng

tibetThực tế trong hàng thập niên trước, Phật giáo Tây tạng đã là một phần không thể thiếu của Phật giáo Đức qua Lạt Ma Gonvida với thế danh Ernst Lothar Hoffmann. Người lập nên pháp môn Phật giáo Arya Maitreya Mandala và cũng là người thành lập Hội Phật Giáo đầu tiên tại Đức. Mặc dù vậy, do điều kiện khách quan việc phát triễn Phật giáo Tây Tạng tại Đức không được thuận lợi như tại Thụy sỹ.

Sau cuộc nỗi dậy đẩm máu bất thành tại Tây Tạng vào năm 1959 chống lại quân xâm lăng muốn biến Tây Tạng thành một phần lảnh thổ của Trung quốc vào năm 1950 trước đó, hàng chục ngàn người dân Tây Tạng trong đó đa phần là tu sĩ chạy trốn sang Ấn độ, Nepal, Buhtan .v.v… để lánh nạn. Trong hoàn cảnh đó, vào đầu thập niên 60. chính phủ Thụy sỹ thu nhận 1000 người Tây Tạng sang định cư tại nước này. Một thời gian sau đó, vào năm 1968 một tu viện Phật giáo Tây Tạng được thiết lập tại Rikon nằm gần thành phố nỗi tiếng Zürich. Tu viện „Tibet-Institut Rikon“ dần trở thành trung tâm đầu não, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triễn Phật giáo Tây Tạng tại Thụy sỹ cũng như tại Âu châu như việc thành lập „Gelugpa-Institut“, viện nghiên cứu cao về Tây Tạng vào năm 1977 gần thành phố Lausane thơ mộng hoặc „Trung tâm Tây Tạng“[6] tại Hamburg-Berne.

Một điểm thuận lợi khác, Thụy sỹ còn là nơi cư trú của hai tăng sỹ Phật giáo Tây Tạng quan trọng là Lạt Ma Sakya và Ghese Sherab Amipa. Các vị này có công đưa phái Sakya sang các nơi như tại Hanover, Freiburg thuộc Đức quốc. Kể từ năm 1960 đến 1988 tại các đại học Leipzig, Bonn Hamburg của Đức và Vienna của Áo đã có ngành Tây Tạng học do các giáo sư thực thụ giãng dạy

Dòng phái Kagyu thuộc Phật giáo Tây Tạng có sức phát triễn bất ngờ tại khu vực sử dụng ngôn ngữ Đức. Chỉ trong vòng 30 năm đã có khoảng trên 100 trung tâm, hội nhóm được thành lập thuộc „Tổ chức bảo trợ Phật giáo Kim Cương – BDD“ dưới sự dìu dắt của Karmapa Thaye Dorje. BDD hiện là thành viên mạnh nhất trong liên minh Phật giáo DBU của Đức. Chúng ta cũng không quên rằng, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đóng một vai trò thiết yếu trong việc Phật giáo tây tạng phát triễn nhanh chóng tại Đức. Ngài là người được nhân dân Đức kính trọng dù họ thuộc bất kỳ tôn giáo nào. Ngài là biểu tượng thông minh, hòa hợp là một nhân cách lớn trong lòng người dân tại nước này.

 

Phật giáo Việt Nam

chuaviengiacTheo thống kê của chính phủ Đức hiện có chừng 100.000 người Đức đăng ký và được công nhận chính thức là người có tôn giáo Phật giáo và bên cạnh đó còn có thêm khoãng chừng 120.000 người gốc Á châu mà đa phần là người Việt theo Phật giáo. Nếu tính về con số thì đây là một con số Phật tử đáng kể. Một số chùa Việt Nam và của người Thái được dựng nên để phục vụ nhu cầu tâm linh của các cộng đồng Phật tử này, trong số đó phải kể đến ngôi chùa Viên Giác lớn tại thành phố Hannover. Mặc dù một vài cố gắng đã được đưa ra và dù với số lượng Phật tử hùng hậu nhưng Phật giáo Việt Nam lại chỉ đóng vai trò khiêm nhường trong xã hội Đức. Phật giáo Việt nam chỉ được gìn giữ và phát triễn trong chính cộng đồng người Việt dựa theo truyền thống „Cha mẹ theo đạo Phật thì con cái cũng tự động theo Phật“.

Do trở ngại ngôn ngữ, mặc dù cũng có một vài cuốn sách về Phật giáo Việt Nam cũng đã được xuất bản (với số ấn bản quá nhỏ nhoi), nhưng nói chung các Phật tử Việt Nam không đủ khả năng chuyển tải để thuyết phục người dân Đức. Đây là một giống dân yêu đọc sách và chỉ bị lôi cuốn thuyết phục bằng lập luận. Nhìn vào danh mục sách viết hoặc sách dịch về Phật giáo bằng Đức ngữ trên tiệm sách mạng Amazon không có tên tác giả của bất kỳ người Việt nào người ta có thể tự tìm thấy kết quả truyền bá Phật giáo Việt Nam cho người dân Đức như thế nào![7]

Những trở ngại nêu trên không riêng gì Phật giáo Việt Nam mà trong giai đoạn đầu các Tăng sư người Tây Tạng khi truyền bá Phật giáo tại Thụy sỹ và tại Đức cũng gặp phải và đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt căn bản giữa văn hóa Phật giáo Đức và văn hóa Phật giáo châu Á.

Các Tăng sư người gốc Á thường được sinh trưởng, tu học và thực hành đạo pháp trong những quốc gia thiếu dân chủ và tự do ngôn luận. Dù muốn hay không những vị này cũng bị ảnh hưởng lối giáo dục phải tuân thủ quá mức quy định về hình thức cũng như nghi lễ. Cái văn hóa „chấp nhận“ và đòi hỏi người khác „phải chấp nhận“ này chắc chắn phải gặp trở ngại trong một xã hội mà ngay từ tấm bé người dân đã được khuyến khích „không hiểu thì phải hỏi“ và „không thích thì phải nói ra“. Cộng thêm vào đó những kiểu cách quan liêu của một số không nhỏ Tăng sư người gốc châu Á là những chướng ngại vật để người Đức phải „Tâm phục, Khẩu phục“. Người Đức không dễ vâng lời chấp nhận „những gì Thầy nói là chân lý“ hoặc phải „trọng Phật thì phải trọng Tăng“ như người Việt chúng ta.

Hình ảnh giản dị, chân thành, „dễ gần“ của đức Đạt lai Lạt Ma chính là chìa khóa làm sao để mở được tấm lòng của người dân Đức hầu có thể truyền bá Phật giáo. Ngài nói những gì trong những buổi thuyết giảng với hàng chục ngàn người tham dự? Người nghe bị lôi cuốn không bởi những lời lẽ , những từ ngữ đậm nét Phật giáo khó hiểu mà do Ngài nói như tâm sự với anh em, bạn bè về tình yêu đôi lứa, tình yêu đối với thiên nhiên, với động vật v.v… rồi từ đó người nghe mới tự nhận thức về về cái lợi khi khi đem những lời Phật dạy áp dụng vào đời sống thường nhật.

Một nhánh Phật Giáo Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh được xem là paht1 xuất từ Pháp nhưng hiện nay cũng đang phát triễn nhanh trong xã hội người Đức. Từ mùa thu năm 2008 được sự giúp đỡ của chính quyền Đức Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh cùng các đệ tử đã lập nên “Viện Phật Giáo Ứng Dụng Châu Âu“ (Europäische Institut für Angewandten Buddhismus – EIAB) tại thành phố Waldbröl không xa hai thành phố Köln và Bonn của Đức. EIAB hiện thu hút rất nhiều người Đức đặc biệt giới trẻ đến tu học.

Nếu nhìn thấy bên cạnh trên 130.000 người Đức chính thức trên mặt pháp lý cũng như trên 650.000 người Đức đã quy y Tam Bảo[8] sinh hoạt trong 630 đạo tràng là những người có Tôn giáo là Phật giáo là hàng triệu „cảm tình viên“ của Phật giáo (thật là khó thống kê về số lượng người Đức sống và giữ Hạnh như một người con Phật, những người dùng Pháp lý của đức Phật để làm „kim chỉ nam“ cho đời sống) thì người ta có thể kết luận rằng Phật giáo Đức là Tôn giáo quan trọng chỉ sau đạo Thiên Chúa (gộp chung cả Tin lành lẫn Thiên Chúa Giáo) trên nước Đức ngày nay. Dù con số người theo Hồi Giáo hiện vượt xa số lượng Phật tử tại đây nhưng rằng, Hồi giáo cũng gặp hoàn cảnh tương tự như Phật Giáo Việt Nam, họ chỉ phát triễn được trong „nội bộ“ chứ không truyền bá được vào xã hội người Đức. Do đó con số người Đức theo Phật giáo nêu trên dù nhỏ một khi so sánh với hơn 80 triệu người dân Đức hiện nay nhưng nếu nhìn vào bối cảnh một xã hội được xem là bảo thủ, bảo thủ đến mức hiện nay vẫn còn có một số không nhỏ người Đức cho rằng, Phật giáo không phải là một Tôn giáo mà chẳng qua chỉ là một triết lý mà thôi, mà trong thời gian chỉ hơn một thế kỷ, từ một con số không mà Phật giáo Đức lại đạt được vị trí trong lòng xã hội như ngày hôm nay thì phải nói rằng đây là một sự thành công lịch sử của những người tiên phong đưa Phật giáo vào đất nước này.

Nhờ vào những ngọn gió lành, cây cổ đại thụ Phật Giáo tồn tại trên 2500 năm đã đưa những hạt giống tốt đến khắp mọi miền thế giới. Tùy theo thời tiết, thổ nhưỡng, phong tục tập quán của từng nơi mà lại có cây lớn mọc nhanh, có cây lại chậm hơn nhưng nói chung dù ở bất kỳ nơi nào các cây Phật Giáo cũng tỏa ra những tàng lá xum tươi để che chở, để ta nương tựa khi trượt chân sa cơ. Mừng thay cho người dân Đức đã có duyên lành với Phật giáo.

 

Nguồn tham khảo:

  1. Walter Schmidt – Die Fremdreligionen in Deutschland Hinduismus – Buddhismus – Islam
  2. Dr. Martin Bauman – Migration – Religion – Integration: Buddhistische Vietnamesen und hinduistische Tamilen in Deutschland. Nhà xuất bản Diagonal Marburg 2000
  3. Die inspirierende und bemerkenswerte Lebensgeschichte der Ehrenwerten Schwester Uppalavannā
  4. Michael den Hoet – Ein Baum mit tiefen Wurzeln
  5. Lama Anagarika Govinda – Buddhismus für das Abendland
  6. Stern – Wegbereiter des Buddhismus in Deutschland
  7. Anzahl der Ausländer in Deutschland nach Herkunftsland – Statistik-Portal.
  8. Wikipedia – Die freie Enzyklopädie

 

[1] Chữ vạn của đảng quốc xã Đức quay ngược 90° so với chữ vạn Phật giáo.

[2] Martin Steinke (1882-1966), Phật tử và là nhà văn người Đức. Vào năm 1922 ông thành lập „Cộng đồng của đức Phật“ tại Berlin. Vào năm 1934 tại thủ đô London, Anh quốc ông được bầu làm chủ tịch Hội Đồng Phật Giáo Châu Âu và cũng trong năm này tại thành phố Postdam ông thành lập tu viện Vihara. Sang đến năm 1937 cùng các đệ tử, ông thành lập hội „Cộng đồng Phật giáo“ tại Berlin. Ông là tác giả nhiều tác phẩm Phật giáo ngoài ra còn có hai đệ tử Karl-Heinz Gottmann và Wilhelm Müller là những người đóng vai trò quan trọng cho nền Phật giáo Đức.

Karl-Heinz Gottmann bác sĩ y khoa người Đức, đệ tử thân cận của Lạt Ma Anagarika Govinda. Kể từ năm 1988 đến khi qua đời 2007 ông là trưởng lảo nhánh Phật giáo Arya Maitreya Mandala trên toàn thế giới.

Wilhelm Müller (1912-1990) từng là một kháng chiến quân chống lại Quốc xã đức. Ông bị bắt rồi bị kết án nhiều năm. Trong tù ông có cơ hội tiếp cận với Phật giáo qua những tác phẩm Phật giáo được truyền tay. Sau chiến tranh ông từ bỏ hoạt động chính trị để tập trung cho các sinh hoạt Phật giáo. Để học hỏi sâu rộng hơn về Phật giáo ông liên lạc cùng Georg Grimm (xem phần I) rồi trở thành đệ tử của Martin Steinke với pháp danh Anagarika Subhuti. Năm 1953 trên mảnh đất của gia đình ông dựng lên một ngôi chùa nhỏ và thành lập „Cộng đồng Phật giáo vùng Niederrhein“ Từ năm 1957, ông thành lập tạp chí Phật giáo “Der Pfad – Đường dẫn” với mục đích truyền bá giáo lý giải thoát của đức Phật đến giới lao động Đức.

[3] Paul Debes (1906-2004) là một trong những người tiên phong trong quá trình phát triễn Phật giáo ở Đức. Ông là nhà giáo và cũng là tác giả nhiều tác phẩm Phật giáo quan trọng. Năm 1948 ông thành lập “Hội thảo Phật giáo”. Kể từ năm 1955 ông lập nên tạp chí „Kiến thức và chuyển đổi“ xuất bản cứ mỗi hai tháng. Ông còn là đồng sáng lập viên và là thành viên hội đồng quản trị của “Hội Phật Giáo Hamburg,” và thành viên sáng lập “Hội Phật giáo Đức”.

[4] Áo quốc và một phần hai của Thụy sỹ sử dụng ngôn ngữ Đức.

[5] DBU hoạt động thành công về mặt Đạo lẫn Đời nên đã gây cảm hứng cho các hội đoàn Phật giáo tại Thụy sỹ và Áo quốc. Vào năm 1976, dựa theo mô hình DBU các hội Phật giáo Thụy sỹ thống nhất lập nên „Liên Minh Phật Giáo Thụy sỹ – SBU“.

1983 các hội Phật giáo tại Áo quốc đồng thống nhất lập nên „Hội Phật giáo Áo quốc – ÖBR“. Các Liên hội như DBU, SBU và ÖBR đều được chính phủ chính thức công nhận.

[6] „Trung tâm Tây Tạng“ dưới sự bảo trợ của đức Đạt Lai Lạt Ma là nơi truyến bá Phật giáo Tây Tạng đến người phương Tây. Trung tâm thường xuyên tổ chức các khóa thiền, hội nghị nhiều ngày, những khóa học nghiên cứu về Phật giáo từ ba tháng cho đến một năm hoặc dài hơn. Trung tâm còn phát hành tạp chí “Tibet và Phật giáo – Tibet und Buddhismus”

[7] Người viết chỉ muốn đánh giá những thành quả đạt được trong việc phát huy chánh quả của Phật Giáo Việt Nam vào xã hội người Đức chứ không phủ nhận những thành quả, những ảnh hưởng đạt được của Phật Giáo Việt Nam trong cộng đồng người Việt tại đây.

[8] Theo thông tin từ Hội Tăng Già Phật Giáo Đức (Deutsche Buddhistische Ordengesellshaft) http://vienduc.de/2014/06/hop-bau-ban-chap-hanh-dbo/

 

Đã đăng:

Phương Tôn – Quá trình phát triển Phật giáo tại Đức quốc (phần I)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s