Phương Tôn – Quá trình phát triển Phật giáo tại Đức quốc (phần I)

Phần I: Bén rễ, nẩy mầm

Buddistisches-HausMột ngẫu nhiên thật lý thú là kể từ thập niên 80 khi lượng người Việt và người dân châu Á khác (như người Hoa, Nhật, Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan v.v…) đến định cư tại Cộng Hòa Liên Bang Đức (từ đây gọi là Đức quốc) ngày càng đông thì danh từ Phật giáo cũng được đề cập đến nhiều hơn trong xã hội người Đức cũng như trên các phương tiện truyền thông của xứ này. Với truyền thống đa số người dân theo đạo Phật của các nước kể trên, người di dân châu Á đã đem đến Đức quốc một số lượng người theo Phật giáo đáng kể. Mặc dù theo thống kê, số lượng người châu Á theo đạo Phật hiện nay tại Đức gấp hơn hai lần số lượng người Đức theo Phật giáo nhưng điều này không có nghĩa người châu Á tại Đức đóng vai trò quyết định trong việc phát triển cũng như là những người „góp công đầu“ trong việc đưa Phật giáo vào một đất nước được xem là „bảo thủ“. Thật ra, Phật giáo đã thực sự „bén rễ“ và „đâm chồi nẩy nở“ trên đất nước này cũng đã gần hai thế kỷ nay.

Ngày hôm nay Phật giáo tại Đức quốc ngày càng được phổ biến, được tôn trọng, có thể sánh vai với các tôn giáo khác như Đạo Thiên Chúa và Hồi giáo. Một điểm đặc biệt cần chú ý, khi nhắc đến Hồi giáo, người bản xứ liền nghĩ ngay đến những cư dân đến từ các nước Trung đông hay Cận đông trong khi đó Phật giáo tại Đức không được xem như là một „sản phẩm“ của người di dân gốc châu Á mang đến mà Phật giáo tại đây được chính người bản xứ du nhập và phát triển theo kiểu châu Âu, phù hợp với cuộc sống của người dân. Khác với các tôn giáo khác như Hồi giáo hoặc Do Thái giáo, cho đến nay vẫn chưa xảy ra xung đột đối đầu dù lớn hay nhỏ giữa Phật giáo và xã hội Dân chủ Tây phương cho nên từ đó người ta có thể lạc quan phỏng đoán một tương lai tươi sáng cho việc phát triển Phật giáo trong xã hội phương Tây.

Nhìn vào lịch sử của Đức quốc trong hai thế kỷ qua ta có thể nhận ra đất nước này bị cai trị dưới nhiều „bàn tay sắt“ của các triều đại vua chúa từ Wilhelm I đến Friedrich III qua Wilhelm II rồi lại bị cai trị của một tên độc tài khát máu Hitler. Cộng thêm vào đó là sự chiếm hữu lãnh đạo tinh thần tuyệt đối về mặt tôn giáo của Giáo hội Thiên chúa (gộp chung Tin Lành lẫn Thiên Chúa giáo), họ không muốn có một tôn giáo nào khác hiện hữu trên đất nước của họ thì thử hỏi Phật giáo, một tôn giáo yêu hòa bình chống bạo lực, tự với khả năng của chính mình để tìm đến con đường Giác ngộ Giải thoát, không có một hệ thống Giáo hội điều hành đúng nghĩa, không có chiến lược truyền giáo ở nước ngoài nhằm chiêu mời người ngoại giáo thì thử hỏi làm sao lại có thể „bắt rễ đâm chồi“ trên một đất nước cực kỳ bảo thủ như vậy? Phải chăng người Âu châu nói chung và người Đức nói riêng tìm đến với Phật giáo như là một hình thức „hữu xạ tự nhiên hương“. Hoặc giả ngay vào từ thời gian xa xưa đó giới thượng lưu trí thức đã nhận thấy bế tắc trên con đường tìm kiếm hạnh phúc, giải quyết những mâu thuẫn xã hội trong một đất nước dưới sự cai trị của các Vua quan được Giáo hội Thiên chúa hỗ trợ tuyệt đối hoặc cũng có thể họ đã chán ngấy loại tôn giáo độc thần, khi mọi quyền của con người được xem là ơn sủng của một Đấng tối cao. Do đó mà họ muốn thoát ra khỏi những kỷ cương vốn đã trói buộc họ từ lâu nay?

 

Phật giáo du nhập vào Âu châu và Đức quốc

map-kalmykiaMặc dù các nhà khảo cổ học khẳng định đã tìm thấy trong nhiều di tích cổ tại Hy Lạp[1] nhiều bằng chứng cho thấy Tăng Sỹ và Tu viện Phật giáo đã hiện diện trước khi Thiên Chúa xuất hiện chừng 200 năm nhưng phải đến cuối thế kỷ 18 nền văn hóa Đức mới thực sự tiếp xúc cùng triết học Phật giáo từ hướng đông qua nước Nga, chứ không từ hướng Nam qua ngã Hy Lạp như nhiều người chờ đợi. Cái duyên Phật giáo đến với xã hội Đức nhờ qua một người phụ nữ gốc Đức. Mười bốn tuổi, quận chúa Sophie Auguste Friederike von Anhalt-Zerbst được gả làm vợ cho Đại đế Nga hoàng Alexandre Gross rồi về sau bà trở thành Nữ Hoàng Katharina II đầy quyền lực, cai trị một vùng đất rộng lớn dọc theo giòng sông Volga. Vào giữa thế kỷ 18, vào khoảng những năm 1760 nhận thấy vùng đất nằm về phía phương nam nước Nga màu mỡ rộng lớn mà dân cư lại thưa thớt và do cũng là một người gốc Đức nên bà đã mời một số đông người Đức đến khai khẩn rồi về sau lập nên thủ phủ St. Petersburg ngày nay. Khu vực này từng được xem là cửa ngõ của nước Đức để tiếp xúc với nền văn hóa phương Đông. Do nhân duyên, vùng đất người di dân Đức sinh sống lập nghiệp lại nằm kế cận trực tiếp với vùng thảo nguyên Kalmykia, vùng đất của người Kalmyks[2] theo Phật giáo Tây Tạng. Tài liệu của các thương nhân và các nhà truyền giáo Đức đã từng qua lại sinh hoạt tại thảo nguyên Kalmykia cho thấy nền văn hóa Đức ngay từ những năm 1770 đã đậm dấu ấn văn hóa Phật giáo Tây Tạng.

Trong giai đoạn „Tiền Phật Giáo Đức“ những nhà trí thức yêu triết lý nhà Phật đã đóng góp không nhỏ cho nền văn hóa Đức. Qua môi trường này người dân Đức có cơ hội tiếp cận với nền văn hóa Phật giáo dễ dàng và hiệu quả hơn.

Isaac Jacob Schmidt
Isaac Jacob Schmidt

Đáng kể nhất trong việc đưa triết lý Phật giáo vào văn hóa Đức phải nói đến nhà nghiên cứu người Đức Isaak Jakob Schmidt (1779-1847)[3]. Nhờ có cơ hội đi lại, tiếp xúc, làm việc với người dân trên miền Kalmykia, Isaak Lakob Schmidt thông thạo các ngôn ngữ Mông Cổ và Tây Tạng. Ông là người đầu tiên dịch một số văn bản Phật Giáo quan trọng và biên tập nhiều tác phẩm Phật giáo sang tiếng Đức. Cũng từ những thành quả của Isaak Lakob Schmidt, một viện Nghiên Cứu Phật giáo được thành lập tại thành phố St. Petersburg đã đạt nhiều thành công tốt đẹp cũng như một ngành nghiên cứu Trung Á được thành lập về sau tại viện đại học Leipzig (Đức quốc). Trong vòng hơn ba mươi năm kể từ ngày ông qua đời người ta đã có thể học tiếng Mông Cổ và tiếng Tây Tạng tại đại học này.

Một trong những độc giả của Isaak Lakob Schmidt là triết gia người Đức  Arthur Schopenhauer (1788-1860). Thế giới quan triết học của ông rất gần gũi với triết lý nhà Phật khi ông cho rằng ích kỷ và bản năng sinh tồn là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Muốn vượt qua, người ta phải học để tự thoát khỏi mệnh lệnh của ý chí, để có lòng từ bi phổ quát với cuộc đời. Ông thường châm biếm Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo nhưng lại chia sẻ triết lý „vô thần hóa“ cũng như thuyết tái sinh của Đức Phật trong các tác phẩm của ông.

Không chấp nhận Thiên Chúa Giáo là một thực thể để có thể giải quyết được những vấn đề tâm linh trong xã hội đương thời, Schopenhauer khẳng định, châu Âu sẽ sớm khám phá Tâm Linh Tự Do mới. Trong tác phẩm „Về Ý Chí Trong Thiên Nhiên“[4] ông cho rằng: „Sự sụp đổ của Thiên Chúa Giáo ngày càng cận kề. Trí tuệ từ Ân Độ sẽ lan rộng cùng khắp châu Âu. Triết lý Phật giáo sẽ không như Thiên Chúa Giáo bắt đầu từ tầng lớp thấp trong xã hội mà lại là từ tầng lớp trên“.

Mặc dù Schopenhauer có những hiểu lầm quan trọng về ý nghĩa mục đích của Niết Bàn nhưng hàng chục năm sau, những gì ông viết về Phật Giáo đã dấy lên những mối quan tâm cho những nhà triết học hậu sinh lừng danh thuộc khu vực dùng ngôn ngữ Đức như triết gia Friedrich W.Nietzsche (1844-1900)[5] chuyên nghiên cứu giáo lý Niết Bàn, Georg Grimm[6], Paul Dahlke[7] như Karl Eugen Neumann (1865-1915), người dịch đầu tiên phần lớn các kinh điển Phật học Pali sang tiếng Đức. Ông được xem là một trong những người tiên phong đưa Phật giáo vào châu Âu. Hoặc một Friedrich Albert Oswald Zimmermann (1852 -1917) dùng bút danh „Tỳ Kheo Subhadra“ viết và xuất bản cuốn „Vấn Đáp Giáo Lý Phật Giáo“ vào năm 1888 nhằm đối sách với phong trào Thông Thiên Học[8] khi họ khẳng định sự tồn tại của kiếp siêu nhân, hoặc công nhận những người được xem là „Thần linh“.

Statue of Csoma as a bodhisattva
Statue of Csoma as a bodhisattva

Mặt khác, vào khoảng năm 1800, Tích Lan và một phần Đông Dương trở thành thuộc địa Anh. Những nhà truyền đạo Thiên Chúa không bỏ lỡ cơ hội nhanh chân theo đoàn quân viễn chinh để truyền giáo nhằm mở rộng thêm Hội thánh và thâu nạp Kitô hữu mới. Va chạm với nền văn hóa bị trị, một số nhà nghiên cứu đi theo các đoàn „truyền giáo viễn chinh“ đã bị nền văn hóa Phật giáo phương Đông huyền dịu quyến rũ. Điển hình như Alexander Csoma von Körös (1779-1842) người Hungary đã xin vào tu viện tại Ladakh trên dãy Hy Mã Lạp Sơn thuộc Tây Tạng để tu tập và nghiên cứu Phật giáo. Ông là người đầu tiên viết cuốn tự điển Anh-Tây Tạng tạo điều kiện thuận lợi về sau cho người Tây phương khi muốn tìm hiểu Phật giáo. Đặc biệt Edwin Arnold (1832-1904)[9] viết tác phẩm “The Light of Asia” (Ánh Sáng Á Châu) gây ảnh hưởng khai phóng tâm linh của Phật giáo cho những triết gia người Đức tên tuổi như Friedrich Nietzsche (1844-1900), Sigmund Freud (1856-1939) và Hermann Hesse (1877-1962). Đây là những triết gia gây ảnh hưởng Phật giáo mạnh vào xã hội người Đức đương thời và ngay trong hiện tại.

Từ cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, những người Đức quan tâm muốn học hỏi về Phật giáo vẫn chưa có va chạm thực tế với văn hóa Phật giáo mà chỉ sinh hoạt trên học thuật, nghiên cứu lý thuyết. Đến khi điều kiện du lịch dễ dàng hơn, Tích Lan trở thành đất nước quyến rũ nhất cho những người Đức muốn học hỏi trực tiếp về Phật giáo qua những chuyến du lịch tâm linh tự tổ chức. Năm 1903 Florus Anton Gueth (1878-1957)[10] xuất gia trở thành vị Tu sĩ Phật giáo người Đức đầu tiên tại Tích Lan. Ông tự lập nên một tu viện tại Tích Lan để đào tạo Tăng sỹ cho người phương Tây. Trong số đệ tử của Florus Anton Gueth (pháp danh Nyânatiloka) phải kể đến hai vị trí thức người Đức phát tâm xuất gia tại Tích Lan rồi về sau là những người có những đóng góp quan trọng cho nền Phật học Đức là Siegmund Feniger (1901-1994)[11] về sau trở thành Sư Nyanaponika và Ernst Lothar Hoffmann (1898-1985)[12] sau trở thành Lạt Ma Anagarika Govinda, vị Lạt Ma người Đức đầu tiên theo tông phái Mật Tông Phật giáo Tây Tạng. Lạt Ma Govinda quen thuộc với người Việt chúng ta qua tác phẩm nổi tiếng „Con đường mây trắng“[13] (Der Weg der weissen Wolken).

Buddistisches-HausHành động dứt khoát của Gueth (Sư Nyânatiloka) gây cảm hứng cho những nhà trí thức người Đức yêu triết lý Phật Giáo như Bác sĩ Paul Dahlke. Ông từ bỏ đạo Chúa để trở thành một Phật tử Tích Lan, tạo lập nên ngôi chùa Phật giáo đầu tiên tại thủ đô Berlin[14]. Ông là người nỗi bật trong giai đoạn „Tiền Phật Giáo Đức“. Theo những bước chân sang Tích Lan còn có dịch giả Karl Neumann, người có nhiều liên hệ gắn bó với các Tăng sĩ Tích Lan hoặc Thẩm Phán Georg Grimm (1868-1945), thông thạo tiếng Pali. Vào năm 1921 ông sáng lập nên „Cộng đồng Phật Giáo Đức“, về sau được đổi thành „Cộng đồng Phật giáo cổ“.

Những bước chân tiên phong, khai phá kể trên có thể giải thích lý do vì sao Phật Giáo Đức ngày nay lại mang nặng dấu ấn Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada-Buddhismus), dựa theo những Pháp gốc nguyên thủy do Đức Phật giảng dạy.

Trong số những nghệ sỹ quan tâm đến Phật giáo phải kể đến nhà soạn nhạc danh tiếng Richard Wagner (1813-1873), người hâm mộ tuyệt đối triết lý giải thoát mọi khổ đau của Đức Phật đã viết một vở nhạc kịch mang tên „Người Chiến Thắng“ với lời đề tựa tặng „Ngài siêu phàm“.

Đặc biệt nữ nghệ sĩ đàn Piano Else Buchholz (1886-1980) với Pháp danh Uppalavanna đã từ bỏ công danh phú quý đang thừa hưởng tại Đức để sang Tích Lan tu tập. Uppalavanna được xem là nữ tu đầu tiên của Phật giáo Âu châu. Dù theo lối ẩn tu, không để lại cho hậu thế những tác phẩm Phật giáo nào nhưng Sư Bà Uppalavanna lại là mẫu gương gây hứng khởi cho những nữ tu Phật giáo tại Đức về sau này.

Nhà thơ Rainer Maria Rilke (1875-1926) sáng tác nhiều bài thơ về Phật giáo như bài thơ „Đức Phật“[15] sáng tác vào năm 1905 tại Meodon, hoặc bài „Đức Phật trong Glory“[16]

Về mặt văn chương phải kể đến tác phẩm bằng Đức ngữ „Tôn giáo của Đức Phật“ (Religion des Buhdda)[17] gồm hai tập xuất bản từ năm 1857 đến 1859 của Karl Friedrich Koppen ( 1808-1863 )

Vào năm 1881 nhà Ấn độ học Hermann Oldenburg (1854-1920)[18] cho xuất bản tại Paris cuốn „Đức Phật, Cuộc đời của Ngài, Giáo lý của Ngài, Giáo đoàn của Ngài“ (Buddha, sein Leben, seine Lehre, seine Gemeinde)[19].

Một nhà thơ, nhà văn không thể thiếu khi nhắc đến ảnh hưởng Phật giáo trong xã hội Đức là Hermann Hesse (1877-1962). Ông từng đoạt giải Nobel văn chương năm 1946. Hermann Hesse bắt đầu nghiên cứu Phật học và triết học Ấn và văn hóa Á Đông sau nhiều lần viếng thăm Tích Lan và một vài nước Á đông. Vào năm 1922 ông cho ra đời cuốn „Siddhartha“[20] được giới trẻ Đức đón nhận nồng nhiệt đặc biệt trong thập niên 1960.

Cho đến một vài thập niên đầu của thế kỷ 20, mặc dù phải đối mặt với một nền văn hóa cao, một xã hội người Đức theo đạo Thiên Chúa được xem là bảo thủ nhưng Phật giáo vẫn phát triển cứ như nước chảy rồi ngấm dần vào lòng đất mà không bị lực cản đáng kể. Công lao phần chính là do những người Đức thuộc tầng lớp trí thức, triết gia, văn nghệ sĩ lừng danh trên thế giới tạo tiền đề về ngôn ngữ, tri thức văn hóa. Giúp người dân có cơ hội học tiếng Pali, tiếng Phạn, tiếng Tây tạng, tiếng Mông Cổ để có thể đọc và nghiên cứu căn bản Phật học. Dùng triết học, văn học thay vì những nhà truyền giáo để đi sâu vào tầng lớp trí thức, hàn lâm. Có thể xem đây là những hạt giống tốt của Phật giáo được gieo trên miền đất lạ phong phú phì nhiêu. Tất cả đều do Nhân Duyên mà có được.

Nhưng Nhân Duyên Phật giáo với xã hội Đức sẽ như thế nào dưới „Đế chế Đức thứ 3“ do đảng Quốc xã dưới quyền lãnh đạo của bạo chúa Adolf Hitler? Rồi từ đó đến nay, liệu rằng „cái mầm“ Phật giáo có nẩy nở tiếp trong xã hội Đức hay không?

Xin đón đọc Quá trình phát triển Phật giáo tại Đức quốc (Phần II: Hoa thắm đua nở).

 

Nguồn tham khảo:

  1. Walter Schmidt – Die Fremdreligionen in Deutschland Hinduismus – Buddhismus – Islam
  2. Dr. Martin Bauman – Migration – Religion – Integration: Buddhistische Vietnamesen und hinduistische Tamilen in Deutschland. Nhà xuất bản Diagonal Marburg 2000
  3. Die inspirierende und bemerkenswerte Lebensgeschichte der Ehrenwerten Schwester Uppalavannā
  4. Michael den Hoet – Ein Baum mit tiefen Wurzeln
  5. Lama Anagarika Govinda – Buddhismus für das Abendland
  6. Stern – Wegbereiter des Buddhismus in Deutschland
  7. Anzahl der Ausländer in Deutschland nach Herkunftsland  – Statistik-Portal.
  8. Wikipedia – Die freie Enzyklopädie

[1] Hy Lạp chỉ cách Đức quốc khoảng chừng trên 2000km đường bộ.

[2] Người Kalmyks nguyên là giống dân Tây Mông Cổ hiện nay chủ yếu tập trung ở nước cộng hòa tự trị Nga Kalmykia.

[3] Isaak Jakob Schmidt (1779-1847) người gốc Đức di cư sang Nga chuyên nghiên cứu về văn hóa người Kalmyck và là nhà Tây Tạng học, Mông Cổ học và Phật giáo học. Trong thời gian sinh sống tại St. Petersburg (Nga) ông dịch Kinh Thánh sang ngôn ngữ Kalmykia và Mông Cổ. Năm 1827 ông bảo vệ luận án Tiến sĩ tại đại học Rostock (Đức), một năm sau ông công bố tài liệu do ông viết về Nguồn gốc Phật giáo. Trên mười năm cuối cuộc đời ông dành thì giờ cho những tác phẩm nói về Phật giáo, về nền văn hóa Tây Tạng, về Văn Phạm tiếng Tây Tạng, Văn Phạm tiếng Mông Cổ, tự điển Tây Tạng-Đức ngữ.

[4] „Über den Willen in der Natur“ – Nhà xuất bản Berlin, Dietz Verlag, (1991)

[5] Friedrich W.Nietzsche (1844-1900) nhà triết học người Đức có cha là một Mục sư Tin lành, ông Nội là một học giả viết sách khẳng định “đạo Thiên Chúa sẽ mãi mãi trường tồn” nhưng ông lại là người đưa ra triết lý tin tưởng vào các hiện thực của thế giới mà chúng ta đang sống, hơn là vào một thế giới „về sau nào đó“. Triết lý của ông đã làm lung lay các nền móng truyền thống của đạo Thiên Chúa. Nietzsche từng công khai thừa nhận mình là người chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo từ Schopenhauer.

[6] Georg Grimm (1868-1945) từng là người nghiên cứu về Thần học của đạo Thiên Chúa. Về sau ông chuyển sang học luật rồi trở thành Thẩm phán Đức. Do thích về triết học ông đã tìm hiểu sâu về triết lý của Arthur Schopenhauer để rồi qua đó ông quan tâm đến Phật học. Tập trung nghiên cứu Ấn độ học, đặc biệt chuyên tâm về ngôn ngữ Pali là ngôn ngữ mà Đức Phật đã dùng trong các bài phát biểu đầu tiên. Vào năm 1921 cùng với Karl Seidenstücker, một nhà nghiên cứu Ấn Độ học và ngôn ngữ Pali, ông thành lập „Cộng Đồng Phật Giáo Cổ“ tại Đức.

[7] Paul Dahlke (1865-1928) là một bác sĩ và là người tiên phong của Phật giáo tại Đức. Trong suốt cuộc đời của mình, ngoài vô số bài viết, bài báo về Phật giáo ông đã xuất bản 22 công trình trong đó có bốn tập dịch thuật kinh Phật. Dahlke vừa là nhà xuất bản „Tạp chí Phật Giáo Mới“ vừa là người sáng lập ngôi chùa Phật giáo ở Berlin-Frohnau, được xem là ngôi chùa lâu đời nhất tại châu Âu, mà vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

[8] Thông Thiên Học do Helena Petrovna Blavatsky, Henry Steel Olcott và William Quan Judge thành lập vào năm 1885 tại New York. Thông Thiên Học dựa trên ba chân lý :

-Có Thượng Đế và Ngài từ-bi. Ngài phân phát sự sống ở trong và ngoài ta. Ngài trường sanh bất tử và đời đời từ-thiện. Chúng ta không thể lấy giác quan mà biết Ngài được. Tuy vậy kẻ nào muốn thấy Ngài thì sẽ thấy được.

– Con người trường sanh bất tử

– Một định-luật thiêng-liêng tuyệt-đối công-bình chưởng-quản thế-giới, cho nên mỗi người tự phán-xét lấy mình, làm chủ đời mình, tự cho mình sự vinh-quang hay sự tối tăm, tự ban thưởng hay trừng phạt. (trích „THÔNG-THIÊN-HỌC KHÁI-LƯỢC“ nguồn http://www.thongthienhoc.com/sach%20tth%20khailuoc.htm)

[9] Edwin Arnold (1832-1904) vừa là thấy giáo vừa là nhà báo, thi sĩ người Anh. Ông bỏ nhiều thời gian học tiếng Phạn tại Ấn Độ. Tác phẩm „The Light of Asia” (Ánh Sáng Á Châu) được tái bản nhiều lần tại Anh và Mỹ gây ảnh hưởng lớn đến những triết gia đương thời.

[10] Florus Anton Gueth (1878-1957), Pháp danh Nyânatiloka từng là người theo Đạo Thiên chúa về sau xuất gia và tu học ở Tích Lan. Là tác giả và dịch giả trên 25 cuốn sách Phật học với nhiều thứ tiếng Đức, Anh, Pháp, Pali. Trong đó có các dịch phẩm tiếng Đức giá trị như Tăng Chi bộ kinh (Anguttara Nikaya), kinh Pháp Cú (Dhammapala), Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga).

[11] Siegmund Feniger (1901-1994), Pháp danh Nyanaponika Mahathera là một tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy trong vòng 57 năm. Nyanaponika là một giảng viên, học giả, biên tập viên Phật giáo và cũng là một dịch giả và tác giả một số kinh điển Phật học. Từ những thành quả đó ông được xem là một trong những nhân vật chính truyền cảm hứng cho việc đổi mới Phật giáo ở châu Á, đặc biệt tại Tích Lan. Sự tham gia của ông trong „Hội đồng thứ 6“ tại Rangoon (Miến Điện) là minh chứng cho sự đánh giá tuyệt vời dành cho ông cho những gì ông đã mang lại cho Phật giáo ở châu Á. Nyanaponika là một Tăng sĩ nổi tiếng ở châu Âu đặc biệt tại Đức và Thụy Sĩ với nhiều tác phẩm Phật học cả tiếng Anh lẫn tiếng Đức.

[12] Ernst Lothar Hoffmann (1898-1985) người Đức từng là nhà văn, họa sĩ và là người diễn giải kinh điển Phật giáo. Ông tu theo đạo Phật lúc 18 tuổi. Năm 30 tuổi ông sang Tích Lan xuất gia học đạo với Sư Nyanatiloka theo tuyền thống Nam Tông Phật giáo Nguyên Thủy. Về sau ông theo Lạt Ma Ngawang Kalsang, còn được gọi là Tomo Geshe Rinpoche sang Tây Tạng tu học theo Mật giáo Tây tạng rồi trở thành Lạt Ma Anagarika Govindan. Là người sáng lập đạo tràng Arya Maitreya Mandala. Lạt Ma Govindan dạy Phật học tại Đại học Patna và Shantiniketan (Ấn Độ) và tại nhiều đại học ở châu Âu, Á, Phi, và Mỹ. Được xem là một trong những người có công lớn đưa Phật giáo vào phương Tây đặc biệt tại Đức.

[13] CON ĐƯỜNG MÂY TRẮNG – Der Weg Der Weissen Wolken. Tác giả: Anagarika Govinda – Biên dịch: Nguyễn Tường Bách. Nhà Xuất Bản Trẻ TP. HCM 2001

[14] Chùa Phật Giáo tại Berlin-Frohnau (Buddhistische Haus in Berlin-Frohnau) hiện do nhà sư  Bhante K. Santharakkhitha người Tích Lan trụ trì. Người Đức thường đến chùa này để học hòi Phật Pháp và thực hành Thiền. ( http://das-buddhistische-haus.de/pages/de/ )

[15] Bài thơ – Buddha

Als ob er horchte. Stille: eine Ferne…/ Wir halten ein und hören sie nicht mehr. /Und er ist Stern. Und andere große Sterne, / die wir nicht sehen, stehen um ihn her.

O er ist alles. Wirklich, warten wir, / dass er uns sähe? Sollte er bedürfen? / Und wenn wir hier uns vor ihm niederwürfen, / er bliebe tief und träge wie ein Tier.

Dann das, was uns zu seinen Füßen reißt, / das kreist in ihm seit Millionen Jahren. / Er, der vergisst, was wir erfahren, / und der erfährt, was uns verweist.

[16] Bài thơ – Buddha in der Glorie

Mitte aller Mitten, Kern der Kerne, / Mandel, die sich einschließt und versüßt, – / dieses Alles bis an alle Sterne / ist dein Fruchtfleisch: Sei gegrüßt.

Sieh, du fühlst, wie nichts mehr an dir hängt; / im Unendlichen ist deine Schale, / und dort steht der starke Saft und drängt. / Und von außen hilft ihm ein Gestrahle, denn ganz oben werden deine Sonnen / voll und glühend umgedreht. / Doch in dir ist schon begonnen, / was die Sonnen übersteht.

[17] Religion des Buhdda – tác giả: Karl Friedrich Koppen (1808-1863) – Bản Online có thể đọc tại https://archive.org/details/diereligiondesb01koepgoog

[18] Hermann Oldenberg (1854-1920) người Đức chuyên nghiên cứu về Ấn độ học và Ngữ Văn Cổ. Thực hiện nhiều công trình tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu Phật giáo và bộ kinh Vệ Đà. Ông nhận bằng tiến sĩ triết học và bằng Hậu Tiến sĩ về ngành tiếng Phạn tại đại học Friedrich-Wilhelms, Berlin.

[19] „Buddha, sein Leben, seine Lehre, seine Gemeinde“ – tác giả Hermann Oldenburg (1854-1920) – Nhà xuất bản Adamant Media Corporation

Qua „Đức Phật, Cuộc đời của Ngài, Giáo lý của Ngài, Giáo đoàn của Ngài“ Hermann Oldenberg đưa ra nhiều chứng cứ lịch sử về cuộc đời tu đạo và hành đạo của Đức Phật nhằm chứng minh „Đức Phật“ thật sự đã từng hiện hữu trên cỏi đời này chứ không phải là nhân vật biểu trưng của Phật giáo. Sách được tái bản trên 14 lần, khơi dậy sự quan tâm đến Phật Giáo của các học giả phương Tây.

[20] Siddhartha được biên dịch sang tiếng Việt với tựa đề „Câu chuyện dòng sông“ là một cuốn tiểu thuyết mang tính cách ngôn của Hermann Hesse kể về hành trình tâm linh của một người Ấn Độ tên là Siddhartha trong thời đại của Tất-đạt-đa Cồ-đàm. Truyện bắt đầu khi Siddhartha, con của một Brahmin, bỏ nhà ra đi để tham gia những nhà tu khổ hạnh cùng với người bạn thân là Govinda. Cả hai đều ra đi để tìm sự khai sáng.

Siddhartha, Cuốn sách, tiểu thuyết thứ chín của Hesse, được viết bằng tiếng Đức, trong một ngôn ngữ đơn giản nhưng có vần điệu. Sách được xuất bản ở Mỹ năm 1951 và trở nên có ảnh hưởng lớn vào thập niên 1960. (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s