Nguyễn Văn Nghệ – ĐÔI ĐIỀU TẢN MẠN VỀ NGHI THỨC CÚNG ĐÌNH-MIẾU Ở VÙNG ĐẤT DIÊN KHÁNH- KHÁNH HÒA

le_ruoc     Cứ đến tháng hai, tháng ba âm lịch là các đình miếu tổ chức cúng xuân cầu cho “quốc thái dân an; Phong điều vũ thuận”. Nghi thức tế tự được chép rõ ràng trong sách Thọ Mai gia lễ ở chương “ Tế thần nghi tiết”. Sách được viết bằng chữ Hán và ngày nay những người thông hiểu rành mạch chữ Hán trong các làng xã không còn nữa, nên “Tế thần nghi tiết” bị “tam sao thất bổn” và giải thích sai lệch ý nghĩa nguyên thủy của nó.

  • Lễ Tỉnh sanh hay Thỉnh sanh?

Nhiều nơi trong giấy mời tham dự cúng tế ở đình miếu có ghi nghi thức “ Lễ Thỉnh sanh”. Ghi như vậy là chưa đúng, phải ghi là “Lễ TỈNH SANH” mới đúng!

Để rõ nghĩa từ “TỈNH SANH” trước tiên ta tìm hiểu ý nghĩa của chữ HY và của chữ SANH. Con muông thuần một sắc dùng để cúng tế gọi là HY. Con muông dùng để cúng tế gọi là SANH.

Ngày xưa vua Thang cầu mưa, tự phục trước miếu thay làm con muông để lễ, vì thế người ta gọi những người bỏ cả đời mình đi để làm cho đạt một sự gì là HY SANH (theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu)

TỈNH có nghĩa là coi xét , xem xét. Trước khi giết con vật để tế thần thánh , thì phải đem con vật đến sân đình, miếu để xem xét con “Sanh” có còn sống không; có thuần một màu lông không ; có dị tật gì không…

Nghi thức Lễ Tỉnh sanh được ghi chép trong tác phẩm “Đình Nam bộ Xưa & nay” có ghi các chi tiết:

  • Tương hy sanh lễ vu tiền (Đưa con vật tế đến trước hương án).
  • Nghệ tỉnh sanh sở (Người đồ tể bước đến bên con vật tế, tay cầm một con dao)
  • Tỉnh sanh (Người đồ tể dùng dao thọc vào yết hầu con vật tế- đang được mấy người khác nắm giữ- Viên chánh tế dùng một chén hứng máu con vật. Người đồ tể cạo thêm nhúm lông con vật bỏ vào chén huyết) (1)

Ở đình Thắng Tam – Vũng Tàu có một nơi dành riêng ở cạnh bên hông đình gọi là “tỉnh sanh sở” là nơi giết con vật để hy tế thần thánh. Ở một số nơi còn giữ thói quen là con vật sẽ được hy tế giao cho một gia đình nào đó nuôi một cách cẩn thận và khi đem đi hy tế được nhốt trong một cái cũi dành riêng ,sau đó được đưa đến sân đình miếu, rồi mới giết để tế thần thánh. Hiện nay vùng đất Diên Khánh không còn giữ tập tục ấy. Trước ngày tế lễ, Ban Quản lý đình miếu cử đại diện đến một gia đình nào đó có nuôi heo, sau khi xem xét con heo ưng ý với các tiêu chuẩn đề ra (thuần một sắc lông, không dị tật…ngoài ra có đình miếu quy định chỉ cúng con thú đực hoặc chỉ con thú cái mà thôi) và thỏa thuận giá cả với gia chủ. Đến ngày cúng, con heo được bắt vào rọ và khiêng đến để ở nhà bếp của đình miếu. Đúng giờ Tỉnh sanh ,sau nghi thức dâng hương thì ông bồi tế tay bưng cái tô , bên trong cái tô có ba tờ giấy vàng bạc. Đi trước ông bồi tế là hai lễ sinh tay cầm nến sáng cùng đi xuống nhà bếp. Con heo đã được tắm rửa sạch sẽ và bốn chân được cột chặt. Viên bồi tế đến bên con heo và lấy ba tờ giấy vàng bạc ra khỏi tô. Viên đồ tể lấy dao cạo một nhúm lông ở cổ con heo nơi sắp sửa thọc huyết bỏ vào tô. Viên bồi tế đốt ba tờ giấy vàng bạc và huơ nơi đã cạo nhúm lông với ý nghĩa là tẩy uế. Kế đến viên đồ tể thọc huyết , viên bồi tế liền kê tô vào hứng lấy một ít huyết và bưng tô huyết có nhúm lông vào để trên giá tợ trước bàn thờ để cáo với thần thánh là nghi thức Tỉnh sanh đã hoàn tất.

     2- Củ sát tế vật

Nhiều sách thường ghi nhầm từ “Củ sát tế vật” thành “Củ soát tế vật”. Trong âm Hán Việt không có từ “soát” mà chỉ có từ “sát” mà thôi. Ví dụ như : Cảnh sát, Viện kiểm sát, sát hạch…

Trình tự “ Tế thần nghi tiết” trong Thọ Mai gia lễ được bắt đầu bằng công việc “Củ sát tế vật” (chấp sự nhất viên, chấp hỏa, phụ tế quan nhập củ sát- Một viên chấp sự cầm đèn sáng, phụ giúp tế quan vào kiểm tra lại lễ vật). Kế đến là :

  • Ế mao huyết
  • Chấp sự giả các tư kỳ sự.
  • Tế quan dữ chấp sự quan các nghệ quán tẩy sở
  • Quán tẩy.
  • Thuế cân
  • Bồi tế quan tựu vị.
  • Tế quan tự vị
  • Thượng hương.
  • Nghênh thần cúc cung bái…

Vùng đất Diên Khánh vẫn giữ trình tự như vậy. Nhận thấy trình tự nghi tiết ấy không hợp lý , tôi giãi bày với nhiều cụ cao niên: Chưa có “Chấp giả các tư kỳ sự”, chưa có “bồi tế tựu vị” ,chưa có “chánh tế tựu vị” thì lấy ai mà “củ sát tế vật”? Chẳng lẽ bắt đến bắt đại một người nào đó vào “Củ sát tế vật”? Phải phân định người làm công việc ấy một cách rõ ràng.

Trong nghi thức củ sát tế vật của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng ( trong nghi đều ghi là “soát”):

  • Bài ban ban tề (Các chấp sự viên, các ông chánh tế, bồi tế, đông hiến, tây hiến đứng theo vị trí).
  • Tĩnh túc thị lập (Đứng yên lặng).
  • Chánh tế tựu vị (chánh tế vào bàn nghi).
  • Bồi tế tựu vị (hai ông bồi tế đứng vào bàn nghi).
  • Củ sát tế vật (Kiểm soát lễ vật: Lễ sinh đưa ba cây nến cho chánh tế , bồi tế và dẫn các vị này đến các bàn thờ ván tế trong đình để kiểm soát lễ vật có đầy đủ tinh khiết không)
  • Ế mao huyết… (2)

Theo sách “Đất nước 4000 năm Gia lễ” do cụ Cử nhân Hán học Tây Hồ Bùi Tấn Niên soạn (Cụ Bùi Tấn niên đậu Cử nhân khoa năm Ất Mão, Duy Tân thứ 9[1915], năm 17 tuổi, vị thứ 31/40) thì trình tự nghi lễ như sau:

  • Hành tế Thánh đại lễ, chấp sự giả các tư kỳ sự.
  • Khởi chung cổ
  • Nhạc công tấu nhạc
  • Nghệ quán tẩy sở – Thuế cân
  • Chánh tế viên tựu vị (viên chánh tế vào đứng ở chiếu thứ 3)
  • Bồi tế viên tựu vị (Các bồi tế vào chiếu thứ 4)
  • Củ sát tế vật (hai người chấp sự cầm đèn đưa viên chánh tế đi kiểm soát các lễ vật coi có sơ suất gì không).
  • Tham thần cúc cung bái… (3)

Như vậy theo cụ Bùi Tấn Niên và nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng thì sau khi chánh tế và bồi tế tựu vị mới tiến hành “Củ sát tế vật” xem ra trình tự này hợp lý hơn. Tôi đã đề nghi các đình miếu vùng Diên Khánh khi tế đình miếu nên theo nghi thức của cụ Bùi Tấn Niên và của đình miếu Nam bộ hay hơn. Nhưng các cụ trả lời : “Xưa bày nay làm, không dám sửa đổi!”

  • – Cúng “tam tịch”

Tam tịch là gì?Chúng ta thường nghe câu: “Đồng tịch, đồng sàng”, vậy “Tịch” có nghĩa là chiếc chiếu. Tam tịch là ba chiếc chiếu. Trong nghi tiết tế lễ của cụ Bùi Tấn Niên có chú thích sau chỗ : Chánh tế viên tựu vị (Viên chánh tế vào đứng ở chiếu thứ 3). Như vậy chiếu 1 và chiếu 2 dành cho ai?

Hiện nay khi hỏi về nghi tiết cúng tam tịch thì đại đa số chẳng hiểu cúng tam tịch là gì cả! Cúng tam tịch có nghĩa là dành riêng viên chánh tế 3 chiếc chiếu. Tế thần nghi tiết trong Thọ mai gia lễ bằng chữ Hán in vào năm Bảo Đại tam niên (1928) ghi rõ: “ Phàm tế thần bài trí bái vị tế quan dụng tam tịch: Thượng tịch tấn tước, độc chúc vị; Trung tịch ẩm phước vị; Hạ tịch sơ tựu bái hưng phục vị. Kỳ bồi tế liệt hàng tại hậu”

Chiếu thứ nhất (thượng tịch) dùng để dâng rượu và đọc văn tế. Suốt cả nghi lễ viên chánh tế chỉ vào chiếu giữa (trung tịch) chỉ một lần duy nhất là lúc “ẩm phước thọ tộ” sau khi dâng tuần rượu thứ 3. Chiếu thứ 3 (hạ tịch) dùng để viên chánh tế vào lúc bắt đầu hành lễ cũng như để bái lạy và quay về sau khi dâng rượu và độc chúc ở chiếu 1(thượng tịch) .

Viên chánh tế bước ra khỏi chiếu này để sang chiếu khác phải đi vuông góc. Ví dụ viên chánh tế đang đứng chính giữa chiếu thứ 3 và khi nghe thầy lễ xướng: “ Nghệ Thần vị tiền” để dâng rượu , thì viên chánh tế làm động tác bên phải quay, khi vửa ra khỏi mép chiếc chiếu, viên chánh tế làm động tác bên trái quay và đi thẳng lên đến giữa mép chiếc chiếu thứ 1, thì viên chánh tế làm động tác bên trái quay, khi vào đến vị trí giữa chiếc chiếu thứ 1 thì viên chánh tế làm động tác bên phải quay để hướng thẳng lên bàn thờ. Khi phục vị (về lại vị trí chiếu thứ 3) cũng đi vuông góc.

  1. – Ế mao huyết

Trong Lễ Tỉnh sanh, viên bồi tế bưng tô huyết có một nhúm lông đặt trên giá tợ trước bàn thờ. Khi vào lễ tế chính, sau nghi thức “Củ sát tế vật” là tiếp đến nghi thức “ Ế mao huyết”. Ế mao huyết được nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng giải thích: “Chánh tế, bồi tế cầm lấy ly huyết có vài sợi lông heo đã lấy trong lễ tỉnh sanh nhắp một chút” (4). Nhiều nơi giải thích cử chỉ ấy là nhớ lại thời con người ăn lông ở lỗ. Giải thích như vậy là không có căn cứ. Tế thần nghi tiết ghi: “ Ế mao huyết: hữu tể sanh giả nhất nhân thủ mao huyết vu ngoại mai chi” (Chôn lông và huyết: có một người đồ tể cầm lông và huyết ra bên ngoài mà chôn). Nếu hiểu rõ ngọn nguồn từ “Ế” thì không ai bắt viên chánh tế và bồi tế nhắp một tí tô mao huyết ấy trông rất mất vệ sinh! Ế trong chữ Hán thuộc bộ “Nạch” có nghĩa là chôn, giấu.

Tô mao huyết để trên giá tợ trước bàn thờ chính là “vật chứng” có ý nghĩa là trình với thần thánh con vật được giết tuyền một sắc lông (tí lông trong tô tượng trưng) và con vật vừa mới giết chớ không phải thịt ở đâu đem đến cúng (tí huyết trong tô tượng trưng)

Nghi thức giết con vật dâng lên thần thánh ,tổ tiên đã được ghi chép lại từ xa xưa trong Kinh Thi: “ Tế dĩ thanh tửu / Tùng dĩ tinh mẫu / Hưởng vu tổ khảo / Chấp kỳ loan đao / Dĩ khải kỳ mao / Thủ huyết kỳ liêu” . Bài Kinh Thi này được Tạ Quang Phát dịch nghĩa: “ Cúng tế phải lấy rượu trong thơm nức / Và tiếp theo dùng con thú đực đỏ / Để dâng cúng lên tổ tiên / Người chủ tế cầm cây đao có gắn chuông / Cắt lấy lông con thịt (để cáo với tổ tiên rằng con thịt hoàn toàn một màu lông) / Rồi lấy máu và mỡ (để cáo với tổ tiên rằng đã làm thịt con vật để cúng tế)”.Và được Tạ Quang Phát dịch thơ: “Tế thì lấy rượu trong thơm nức / Tiếp theo dùng thú đực lông đỏ / Để đem dâng cúng tổ tông / Rồi người chủ tế lại dùng loan đao/Nắm lấy lông cắt mau một mớ/ Lấy máu tươi và mỡ dâng lên” (5)

5- Văn tế cúng đình miếu

Văn tế được viết bằng chữ Hán theo cấu trúc văn phạm chữ Hán , cho nên chữ viết được viết từ trên xuống và từ phải sang trái. Quy định bắt buộc đầu tiên là “ DUY bất ly Niên”, chữ DUY không được rời chữ NIÊN ,có nghĩa là hai chữ DUY và NIÊN lúc nào cũng nằm song song với nhau. Chữ DUY là chữ đầu tiên trong văn tế và được viết riêng một dòng nhưng lại không được viết đầu tiên mà phải đợi khi viết dòng thứ hai đến chữ NIÊN thì trở lại mới viết chữ DUY song song với chữ NIÊN. Ví dụ dòng thứ hai trong văn tế được ghi “ Việt Nam quốc, tuế thứ Ất Mùi niên”, khi viết chữ NIÊN xong thì người viết văn tế trở về dòng thứ nhất để trống viết chữ DUY nằm cạnh song song với chữ NIÊN.

  • Viết “đài” chữ

Trong văn tế chữ Hán có vài chỗ được viết trồi lên (cao hơn) các dòng khác gọi là “ đài chữ”.Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Man Nhiên (Nha Trang- Khánh Hòa) giải thích “ Đài Thần” trong bài viết Nếp đình cổ xưa (Kiến trúc ngôi đình): “ Danh hiệu các vị thần sau được viết cùng một hàng dọc chạy dài xuống, thế nhưng khoảng cách giữa hai vị thần phải viết cách ra, khoảng từ 6 đến 8 phân, tức là Đài thần (tỏ lòng kính trọng thần)”.

Giải thích như vậy chứng tỏ tác giả chưa biết những sơ đẳng về cấu trúc văn phạm chữ Hán. Viết “ đài chữ” có nghĩa là gặp chữ nào tôn kính thuộc về nhà vua hay thần thánh thì phải sang dòng và “viết trồi” lên tức là viết cao hơn những dòng chữ khác từ một đến hai chữ.

Hiện nay đại đa số các bản văn tế không còn tuân thủ cách thức viết “đài chữ” nữa!

  • Viết quốc hiệu

Các bản văn tế hiện nay đều viết quốc hiệu như sau: “ Duy. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quốc, tuế thứ Ất Mùi niên…”

Văn tế viết theo cấu trúc văn phạm chữ Hán nhưng quốc hiệu lại viết theo cấu trúc văn phạm chữ Việt. Nếu viết quốc hiệu Việt Nam hiện nay theo cấu trúc văn phạm chữ Hán sẽ là “ Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Hòa quốc” (6). Cũng như nước Trung Hoa khi đọc theo cấu trúc văn phạm chữ Việt là “ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” nhưng khi viết theo cấu trúc văn phạm chữ Hán sẽ là “ Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa quốc”.

Trước đây quốc hiệu của miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa, của miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng là viết theo cấu trúc văn phạm chữ Hán, nếu viết theo cấu trúc văn phạm tiếng Việt sẽ là Cộng Hòa Việt Nam và Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam

Gần đây một số đình miếu khi viết quốc hiệu họ không viết Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nữa mà thay vào đó là “ Việt Nam quốc” mà thôi.

Trong bài văn tế Tiền hiền, hậu hiền ở đình Phú Long , Cai Lậy ,Tiền Giang có câu : “Suất tuần cựu điển tự sự Khổng Minh, an cư lạc nghiệp / Khái nhĩ y quan vân tập đôn nhiên trở đậu hinh hương” , được nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng tạm dịch: “ Noi dựa theo điển cũ kể chuyện Khổng Minh, an cư lạc nghiệp / Cảm động thấy áo mũ vân tập, đời sau thay ly chén (cúng tế) thơm tho” (7)

Tự sự Khổng Minh có phải là kể chuyện Khổng Minh không? “Tự sự khổng minh” trong bài văn tế ấy được lấy từ câu 3 trong chương VI của thiên Tín Nam Sơn , Kinh Thi: “ Thị chưng thị hưởng / Tất tất phân phân / Tự sự khổng minh” ( Để dâng cúng tổ tiên hưởng thụ / Rượu thịt bày đầy đủ ngọt ngào / Tế thì minh bạch xiết bao) (8).

Tự sự khổng minh có nghĩa là cúng tế rõ ràng, minh bạch , lớn lao chớ không có liên quan gì đến nhân vật Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam Quốc cả!

Ở đình làng Thanh Minh ,xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh có đôi câu đối chữ Hán có đề cập đến “tự sự khổng minh”:

– Thiên thu hộ quốc tý dân vi đức kỳ thạnh.

– Bách thế kỳ niên báo tái tự sự khổng minh

6 – Tứ phước tộ

Sau khi kết thúc Hành chung hiến lễ (dâng tuần rượu lần thứ 3), viên chánh tế phục vị (về lại vị trí cũ tức là chiếu thứ 3 –hạ tịch). Khi đã phục vị xong , thầy lễ xướng:

–     Tứ phước tộ ( Tứ : cho, trên cho dưới gọi là TỨ; Phước : rượu tế còn thừa gọi là    .         PHƯỚC; Tộ: thịt tế đem chia phần gọi là TỘ). Thần thánh ban lộc (rượu, thịt) cho

viên chánh tế.

–     Nghệ ẩm phước vị ( viên chánh tế đi lên chiếu giữa (trung tịch).

  • Quỵ (viên chánh tế quỳ xuống).
  • Ẩm phước , thọ tộ ( viên thị lập bưng ly rượu từ bàn thờ trao cho viên chánh tế , viên chánh tế cầm ly rượu xá 3 xá rồi nhấp một tí , tiếp theo đưa dĩa thịt cho viên chánh tế , viên chánh tế cầm lấy đĩa thịt và xá ba xá . Rượu và thịt thuộc về viên chánh tế , không để lại trên bàn thờ nữa.

Trong bài viết Nếp đình cổ xưa (Kiến trúc ngôi đình), Nhà nghiên cứu Nguyễn Man Nhiên đã giải thích hai chữ “ Thọ tộ”: (ăn tô thịt, vị hương đăng đưa tô thịt có kèm theo một đôi đũa, vị chánh tế hai tay đón lấy bái một cái rồi ghắp ăn tượng trưng vài ba miếng. Sách lễ xưa chép rằng: Thịt kho tộ phải là miếng thịt cắt ở vai trái con heo luộc chín, chứ không phải thịt nào cũng được.)

Sau khi tỉnh sanh (giết con heo) thì người ta làm lông và lòng con heo cho sạch sẽ rồi đem nguyên con heo đã làm sạch lên đặt trên giá tợ trước bàn thờ chính (có nơi trụng sơ nước sôi con heo đã giết thịt để ruồi bớt bu vào) , vậy thì xin hỏi: Miếng thịt cắt ở vai trái con heo luộc chín lấy từ con heo nào? Không biết việc này chép ở sách lễ xưa nào vậy?

Thọ tộ có nghĩa là chịu phúc, đón nhận phần thịt tế của thần ban cho, chớ không có nghĩa là “thịt kho tộ”.

   6 – Hiến trà

   Hiện nay sau khi dâng 3 tuần rượu xong là đến phần “ Hiến trà”. Hiến trà là dâng nước trà lên cho thần thánh. Theo cổ lễ thì không có nghi thức hiến trà. Nghi thức hiến trà mới có gần đây thôi. Trong lễ cúng tế đình miếu ngày nay có cúng thêm bánh ngọt và người ta lí‎ luận chẳng lẽ thần thánh dùng bánh ngọt mà không dùng trà , nên mới nảy sinh ra nghi thức hiến trà

7 – Phần chúc

Trước đây chỉ có những nơi thờ tự Đức khổng tử mới có “Lư vọng liệu” tức là vọng liệu sở, đặt trước sân miếu dùng để “phần chúc” (đốt văn tế) sau khi lễ tế xong. Các đình miếu thường phần chúc ngay cạnh bàn thờ, một số nơi thì rước ra trước ngay mái hiên đình miếu để phần chúc. Hiện nay một số đình miếu có đúc một cái Lư vọng liệu đặt trước sân đình miếu dùng làm “Vọng liệu sở” (nơi đốt văn tế) để nghi thức phần chúc được trang trọng hơn.

8 – Lễ tất – Lễ thành

    Làng Thanh Minh , xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh còn giữ cấu trúc đình đứng độc lập , miếu Tiền hiền nằm một nơi, miếu Bà nằm một ngả. Nhiều làng thấy như vậy thì bất tiện cho việc cúng tế nên dồn chung miếu Tiền hiền, miếu Bà về bên cạnh đình để tiện tổ chức cúng tế. Có nơi cúng miếu Tiền hiền vào ban chiều và đến giờ Tí ( từ 23 giờ đêm trước đến 1 giờ sáng ngày hôm sau) mới tổ chức cúng đình. Có nơi họ cúng đình trước , rồi tiếp đến là cúng miếu Tiền hiền. Do đó sau khi cúng đình xong, thầy lễ xướng “Lễ Thành” mà không xướng là “Lễ Tất”. Hỏi họ là trong Tế thần nghi tiết ghi là “ Lễ Tất” sao ở đây lại xướng “Lễ Thành”. Họ lí luận là còn tế tiếp miếu Tiền hiền cho nên không thể gọi “Lễ Tất” được, khi nào tế ở sở cuối cùng mới xướng “Lễ Tất”. Tất và Thành đều í nghĩa như nhau. Theo Hán Viết tự điển của Thiều Chửu giải thích : Tất là xong, hết; Thành là nên, thành tựu, phàm làm công việc gì đến lúc xong đều gọi là THÀNH. Như làm nhà xong gọi là “lạc thành”

9 – Tiếp thu văn hóa

Trong lãnh vực thuộc về nghi tiết cúng tế đình miếu chúng ta đừng nên câu nệ : “ xưa bày nay làm” mà không dám sửa đổi , những cái gì thuộc về cái hay , cái đẹp phù hợp với đời sống văn hóa tâm linh thì chúng ta tiếp thu bổ sung vào nghi tiết cúng tế nơi cộng đồng chúng ta đang sinh sống.

Nghi tiết cúng tế đình miếu thuộc về lễ xưa, nó gắn liền với từ ngữ chữ Hán, cho nên các Nhà nghiên cứu đương đại khi nghiên cứu về lễ xưa nên “ Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri” .

 

Nguyễn Văn Nghệ

Tổ dân phố Phú Lộc Tây I, Thị trấn Diên Khánh- Khánh Hòa

 

     Chú thích:

1 ,2,4,7 – Huỳnh ngọc Trảng & Trương Ngọc Tường, Đình Nam bộ xưa & nay, Nxb Đồng Nai, trang 184, 186, 186, 265.

3 – Tây Hồ Bùi Tấn Niên, Đất nước 4000 năm Gia lễ, Nxb TPHCM, 1992, trg 80.

5, 8 – Khổng tử, Kinh Thi,Nxb Văn học , trang 361, 363.

6 – Trần Văn Chánh, Từ điển Hán Việt . Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nxb Trẻ , trg 2437.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s