Phượng Vũ – Bài viết nhân dịp kỷ niệm 30/4: Nhớ lại một đoạn đời gian khổ (Phần 2)

doan doi gian kho-phan 2 (Small)Tôi đứng cô đơn một góc đời…
Khóc cười, sầu khổ riêng tôi biết (MDĐL)

Cuộc đời những nguời vợ tù cải tạo là một chuổi dài những cô đơn và sầu khổ, bên cạnh những vất vả lo toan cho cuộc sống, lại luôn trông ngóng tin chồng không biết giờ này ra sao? đang bị đày đọa ở nơi đâu? sống chết thế nào?..Những câu hỏi không một lời giải đáp càng làm chúng tôi héo hắt hơn, nên thật là một tin vui lớn khi họ bắt đầu cho đi thăm nuôi. Mỗi lần nhận được giấy báo cho thăm nuôi là tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì được đi thăm chồng, ít ra cũng được thấy chồng bằng xương, bằng thịt vẫn còn bình an, để yên dạ một chút (dù là chỉ có 15’) Còn lo là vì tiền đâu ra để vừa mua quà, vừa trang trãi tất cả mọi chi phí cho chuyến đi? Vậy là tôi bắt đầu phải lo bươn chãi nhiều hơn để kiếm tiền, rồi “bóp hầu, bóp họng” không phải chỉ mẹ mà cả con nữa, chi tiêu phải dè sẻn, tằn tiện tới độ “vắt cổ chày ra nước”. Áo mặc không phải chỉ sờn vai, mà rách vá bạc màu nguyên cả lưng nữa nhưng vẫn không dám thay. Vậy mà khi đi mua quà thăm nuôi chồng thì lại rất hào phóng cái gì cũng muốn mua, vì cứ nghĩ: “tội nghiệp trong tù thiếu thốn đủ thứ, mà biết đến bao giờ chúng mới cho thăm nuôi lần nữa?” Nên cứ cố mang nhiều chừng nào tốt chừng nấy, dù phải đi vay nợ bạn bè để mua thêm quà cũng không sao. Do đó những bao quà chuẩn bị đi thăm nuôi cứ to dần và nặng thêm theo tấm lòng yêu chồng trong cảnh tù tội. Lòng yêu chồng đã khiến chị em chúng tôi trở thành những “lực sĩ điền kinh” sẵn sàng khuân vác, đeo mang những bao quà to đùng trên những tấm thân gầy yếu, vì phải thắt lưng buộc bụng triền miên. Chưa hết tôi lại còn phải “tha con” đi cho bố biết mặt con, hay cho bố đỡ nhớ con. Phương tiện giao thông thời đó vô cùng khó khăn, dù phải tốn nhiều tiền, phải chen chúc xếp hàng mua vé trước. Tới ngày đi, lại phải chịu cảnh chen lấn xô đẩy nhau lên tàu lửa, rồi còn phải lôi, khuân vác hành lý to nặng, rồi thêm phải “tha con thơ” theo. Đã vậy phải đổi xe nhiều chuyến: xe lửa, xe kéo rồi ngủ qua đêm ở chợ. Tối đến vào chợ đi tìm những sạp thịt heo bỏ trống, trãi đỡ tấm báo cho đỡ dơ, lấy hết áo che cho con thơ, bao bọc con cho khỏi bị muỗi cắn, kẻo bị bịnh vì con còn nhỏ quá, muỗi cắn mẹ thì không sao, làm ơn đừng cắn con thơ! Nhìn con trăn trở khó ngủ, mẹ phải ngồi dậy kiếm quạt, quạt cho con mát, ru con ngủ mà nổi niềm cay đắng trào dâng:

“Lời mẹ ru con nghe ra nỗi niềm
Ru con nghiêng nghiêng nằm
con ngủ giấc tròn cho mẹ ngồi trông” (TCS)

Hai hàng nước mắt tự nhiên ứa ra vì thương con còn nhỏ mà “sao tội quá phải chịu nhiều gian khổ để đi thăm bố”.May là ba tôi thương con gái, nên đi theo đỡ đần khiêng phụ đồ nặng, rồi lo dùm cho thằng lớn. Nhìn ông ngoại ôm cháu nằm co quắp ở sạp bên kia sao thấy thương quá đỗi là thương! Tôi phải thức trắng đêm để trông cho con ngủ và canh chừng đồ đi thăm nuôi kẻo mất. Hình như bóng đêm luôn luôn đồng lỏa với nổi buồn, nhìn cảnh “cha con, ông cháu” dắt díu nhau lên đây “ngủ đường, ngủ chợ”, lòng tôi bỗng dâng lên một nổi buồn không kềm chế được, nghe sao xót xa thương đất nước mình chìm trong dâu bể, thế hệ mình sao chịu quá nhiều đắng cay, hết chiến tranh chết chóc tang thương, mất mát. Bây giờ “hòa bình” rồi thì lại chia lìa với bao vất vả, u sầu, cô đơn cho những người vợ trẻ phải chịu cảnh lẻ loi một mình :

“Ðêm nay hòa bình không nụ cười trên môi
Nhìn quanh em không ai còn lại
Không ai còn lại
Ru đỡ tình người cho có đôi” (TCS)

Sáng sớm hôm sau phải lo dậy sớm kiếm thuê xe lam đi vào rừng…rồi mới tới được chỗ thăm nuôi. Trăm ngàn gian khó, vất vả là thế mà khi vào trại thăm nuôi, tôi đưa con cho bố bồng, để biết mặt con, thì con khóc òa lên, cương quyết lắc đầu không chịu:

– Không phải bố, bố con ở nhà.

Thế có chết không? Vì ở nhà, khi con lẩm chẩm bắt đầu biết đi, biết nói, cứ luôn miệng hỏi:

– Mẹ ơi! bố đâu? bố đâu?

Tôi phải chọn tấm hình đẹp nhất của bố đưa cho con xem và nói:

– Đây là bố con, nhớ chưa?

Bé rất thích tấm hình nên cứ hay hỏi bố hoài để có dịp lấy hình ra xem, tôi bèn bọc plastic tấm hình đó và đưa bé giữ luôn. Bé cất tấm hình đó ở ngăn kéo trong phòng, đợi ai tới chơi hỏi thăm về bố là chạy vào phòng lấy ra đem khoe.

Sau này bố được thả về bất ngờ do nhu cầu y tế của Saigon đang thiếu trầm trọng, nên sở Y tế thành phố đã can thiệp để tất cả các y, nha, dược sĩ được trở về để đi làm ngay.Tối đó, tôi đang ngược xuôi tìm mua thêm mấy thứ thuốc cần thiết để ngày mai đi thăm nuôi sớm. Khi về gần đến nhà, tôi hoảng hốt lo sợ, không biết chuyện gì đã xảy ra ở nhà mình, vì thấy người bu đông nghẹt từ trong ra ngoài? Tôi chen vào được trong nhà mới sửng sốt khi thấy chồng bằng xương bằng thịt đang ngồi ở phòng khách trả lời các câu hỏi của bà con lối xóm vây quanh hỏi thăm tin tức của “người về từ trại cải tạo”. Tôi lại được hàng xóm kể lại chuyện bé không chịu nhận bố. Khi mọi người đẩy cháu đến mừng bố mới về, cháu không chịu cứ đứng xa xa nhìn rồi nói:

– không phải bố con, bố con ở trong phòng

Rồi chạy vào phòng lấy tấm hình bố ra khoe với mọi người :

– Đây mới là bố con nè!.

Sau đó phải mất vài tháng, cháu mới quen dần và chịu nhận bố. Hiện nay trong gia đình cháu là người duy nhất nối nghiệp bố và cũng từng phục vụ trong quân đội (Mỹ) một thời gian dài.

Thực ra khi nhắc tới thời kỳ gian khổ của cá nhân, trong thời gian chồng đi tù cải tạo, tôi chỉ muốn nhắc lại một đoạn đời đáng ghi nhớ của mình. Vì nếu so với những gian khổ của các chị có chồng đi cải tạo cả chục năm, hoặc lâu hơn nữa, rồi còn phải đi thăm nuôi chồng tận ngoài Bắc, thì gian khổ của tôi nào có thấm thía vào đâu. Nhưng dù sao tôi vẫn thấy tấm lòng ân nghĩa luôn luôn là vô giá và cần phải được trân trọng. Nó không thể đong, đo, đếm bằng bất cứ đơn vị nào, dù là thời gian dài, ngắn hoặc mức độ gian khổ ra sao. Vì tôi vẫn thường quan niệm:

“Ơn ai, một chút chớ quên.

Sầu ai một chút để bên cạnh lòng”.

Sở dĩ tôi nhắc đến điều này, vì bây giờ nhìn quanh tôi thấy nhiều ông sau khi được ra tù…rồi được qua Mỹ, thì bao nhiêu hy sinh nhọc nhằn của vợ ngày xưa “bỗng chốc hóa hư không” Nhớ tới còn chưa có, nói chi tới việc đền đáp. Do đó nhiều chị em phụ nữ đã cảm thấy những điều mình từng “mơ ước” ngày chồng về thuở xưa bỗng trở thành:

Trên bãi cát vàng hão huyền
Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình nhiều cay đắng (TCP)

Vì không phải chị em chỉ chịu đựng những khó khăn, gian khổ khi các ông đang tù cải tạo, mà còn nhiều nghiệt ngã, đắng cay hơn ở thời kỳ hậu cải tạo. Các ông trở về với những tâm trạng tràn đầy bất mãn: hận người, hận đời.Nhất là khi sang Mỹ mà lại không thành công như ý trong sự nghiệp, thì bao nhiêu “uất ức ngút trời” đều trút lên đầu người bạn đời của mình. Hãy nghe tâm sự của một phụ nữ qua một bài báo: “Hình như mỗi mảnh đời phụ nữ là một bi kịch, một bất hạnh lớn, họ tất bật ngược xuôi với cuộc sống chạy vạy từng miếng cơm, manh áo cho con, lo cho chồng những ngày tháng sau cuộc đổi đời tháng 4/75 bi thảm. Họ nhịn miếng ăn, mặc tấm áo vá để nhường phần ăn cho con được đầy đủ hơn, để chắt chiu nuôi chồng trong các trại cải tạo.Vết thương của họ không phải là vết thương ngoài da, mà là những vết cắt sâu lút đến tận tâm khảm. Khi chồng từ trại cải tạo về bất mãn, mặc cảm, hoạnh họe… khi con cái lớn lên vô ơn, bạc nghĩa, đặc biệt là những gia đình H. O. khi sang Mỹ thì vết thương lòng của họ lại càng trầm trọng hơn, không bút mực nào có thể kể xiết, nhưng nhìn bên ngoài không ai hay biết” Đúng vậy “nhìn bên ngoài không ai hay biết” vì phụ nữ Việt Nam vốn chịu đựng giỏi và chính sự chịu đựng này đã làm nên sức mạnh của họ:

“Lan Huệ sầu ai, Lan Huệ héo

Lan Huệ sầu đời trong héo, ngoài tươi”

Ngoài ra có một số ông khi sang Mỹ thất bại trong sự nghiệp thì chuyển sang   “khẳng định giá trị” mình bằng cách giải trí với “danh sách các người tình” (qua những hẹn hò trên internet) Cách nào thì cuối cùng người phụ nữ vẫn là nạn nhân đáng thương:

“Ta lần mò leo mãi không qua được vách sầu
Ta tìm một tiếng yêu thấy toàn là sầu đau” (VTA)

Và như thế, nhiều chị em lại âm thầm “vì tương lai các con” nơi xứ người, muốn giữ một gia đình ổn định cho các con khỏi bị shoc, lại phải “ngậm đắng nuốt cay” chịu đựng tiếp.Họ cố gắng năng động nơi xứ người, không quản ngại làm tất cả mọi việc có thể làm được (từ phụ bếp, tới bồi bàn, giữ trẻ…) để có tiền lo cho gia đình. Bên cạnh đó, họ vừa đi làm vừa trở lại đi học (vì đó là cách tốt nhất để hội nhập và tiến thân nơi xứ nguời) với bao nhiêu gian khổ khó khăn nhưng vẫn kiên nhẫn quyết tâm vượt qua.Vậy mà không hề nhận được bất cứ sự hổ trợ tinh thần nào từ chồng dù là nhỏ bé, ngoài sự “bắt khoan, bắt nhặt” triền miên do sĩ diện hảo. Hãy nghe nhà văn Lệ Hằng diễn tả mạnh mẽ, táo bạo thẳng thừng vấn nạn này như sau:

“Kinh hoàng nhất là các ông ra đường bị mặc cảm thua bại, về nhà càng gầm gừ vợ con dữ dằn hơn. Họ đay nghiến, không muốn các bà tỏ ra năng động, càng không muốn vợ tháo vát, lanh lợi hay thành công hơn mình. Họ bắt lỗi bắt phải vợ suốt ngày, suốt đêm.Tỉ lệ đổ vỡ gia đình thường thuận chiều với những người đàn ông kém cỏi, không thành công. Không phải vì đàn bà ham danh hám lợi đâu. Số người này rất ít, phụ nữ khi đã lập gia đình, đa số coi trọng hạnh phúc hơn mọi giống của cải phù du ngoài đường.”

Hoặc diễn tả dịu dàng nhẹ nhàng hơn, nhưng cũng tràn đầy cay đắng như nhà văn Bùi Bích Hà viết trong thư tâm tình của một người vợ:

“Suốt chặng đường gian lao này, em luôn kề cận chia sẻ cùng anh vì đã là vợ chồng chúng ta có cùng chung một số phận. Thế nhưng chính cái cảm giác bị bỏ rơi, bất lực trước cuộc đời đã dày vò anh, làm anh mất lòng tự tin, trở nên đa nghi và cay đắng. Đôi lúc em thử chuyện trò với anh để giúp anh giải tỏa các mặc cảm dồn nén làm khổ anh, thì anh quát nạt cho là em muốn dạy khôn. Nhiều lúc em nín nhịn, anh lại nghĩ là em lên mặt kẻ cả, coi thường anh. Anh ơi hận người hay hận đời có làm cho đời sống chúng ta tốt hơn không? Cáu kỉnh, dằn vặt, nghi ngờ có làm cho anh hạnh phúc hay không?”

Trên đây là thực trạng của một số gia đình Việt Nam ở xứ người, là hậu quả dư âm sâu xa của 30/4 xưa. Nó là nổi đau âm thầm nhưng dai dẳng trong lòng một số chị em phụ nữ Việt Nam, tuy sống ở nước ngoài nhưng lòng vẫn tha thiết yêu cái đẹp của đời sống gia đình và luôn mơ ước một hình ảnh gia đình dễ thương mà Phạm Duy đã từng vẽ lên qua một bản tâm ca:

“Ngồi gần, ngồi thật lâu.

Cho đến khi hai ngọn đầu.

Thành một người trong nhau nguyện cầu.”

Nhưng tiếc rằng đôi khi mơ ước vẫn chỉ là ước mơ thôi! Xin chân thành gửi đến các chị em, những người vợ tù cải tạo, những người đôi lúc nhìn lại đã cảm thấy: “Ôi thôi đời ta phung phí trong cơn buồn phiền” một ước nguyện nhỏ bé:

“Xin như là giọt nắng

Thắp trong đôi mắt buồn

Sáng lên niềm hy vọng

Sau tháng ngày đau thương” (TTT)

 

Phượng Vũ

 

 

 

One comment

  1. Quá xúc động khi có người nói lên nỗi niềm của những người vợ lính , gia đình tôi may mắn hơn nhiều khi cha tôi bị ở tù đến gần mười năm nhưng luôn thương yêu vợ con rất mực . Mẹ tôi là người phụ nữ Việt Nam mẫu mực , suốt đời tằn tiện và hy sinh cho chồng con . Sau khi cha tôi ra tù , chúng tôi được sang định cư ở Australia do đứa em trai vượt biên sau đó định cư tại quốc gia này bảo lãnh , chúng tôi đã có được một đời sống sung túc và tự do không thể nghĩ ra trước đó . Tuy vậy khi nhìn lại quanh mình thì đa số những người vợ lính đều có một số phận nghiệt ngã . Lớp thì bị sa ngã trước bọn cán bộ cao cấp giàu có của cọng sản trong các ngành thuế vụ , quản lý thị trường , thương nghiệp vv đã dùng đồng tiền để mua chuộc những người vợ lính trẻ , đẹp nhưng thiếu sức chịu khổ nhọc trong đời sống khốn khó tận cùng sau 1975 . Lớp thì phải bương chãi trong chợ đời mà mình chưa có đủ kinh nghiệm bán buôn vì trước đây các ông chồng lính đủ sức nuôi sống vợ con mình bằng đồng lương hằng tháng nên các bà vợ lính , ít người phải buôn bán ngược xuôi . Họ đã phải chịu đựng những bất công từ sự phân biệt của cọng sản cũng như những sự đối xử bất công từ những người chồng bất đắc chí , lòng đầy tự ái và hằn học với cuộc đời .
    40 năm qua những người phụ nữ này vẫn đang song hành cùng đất nước , gánh chịu những hậu quả nặng nề do cuộc chiến và sự tham lam , ngu tối của chính quyền cọng sản đang ngự trị trên đầu dân tộc Việt Nam . Những dòng chữ này chỉ xin làm được một sự an ủi khiêm nhường là nói lên sự thật của những niềm đau mà họ cũng như Tổ Quốc phải nhẫn chịu trong thời cuộc hôm nay .

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s