Phượng Vũ – Bài viết nhân dịp kỷ niệm 30/4: Nhớ lại một đoạn đời gian khổ (Phần I)

doan doi gian kho-phan 1 (Small)“Này em có nghe mênh mông đất trời
Tiếng chim lẻ bạn, đi tìm người thương”

Cuộc đời mỗi con người ai cũng có những lúc thăng trầm, biến đổi; tôi cũng không ra ngoài quy luật ấy. Nhưng mỗi lần ôn lại dĩ vãng thì đoạn đời gian khổ đã gây cho tôi ấn tượng mạnh mẽ nhất vẫn là đoạn đời những năm sau 1975, khi mà đất nước bị lật sang một trang sử đau thương.

Tôi còn nhớ như in đầu tháng 4/1975, tôi và ông xã chạy di tản từ Nha Trang về Sài Gòn. Khi vừa chạy ra tới chợ Đầm, chúng tôi bị ba đào binh (vừa phá tù thoát ra) dùng súng chặn lại, lục soát và cướp đoạt tất cả tiền bạc, tư trang, quần áo chúng tôi mang theo trong valy và cả trong người. Do đó khi di tản về tới Sài Gòn, chúng tôi chỉ còn trên mình mỗi người một bộ đồ cũ (mặc giả dạng để khỏi bị cướp, nhưng cũng không thoát), may là tôi đã lo gửi con trai nhỏ cho bạn dạy cùng trường đi máy bay đem về Saigon với Ngoại từ trước.

Sau đó chồng tôi lên đường đi học tập cải tạo theo diện sĩ quan chế độ cũ với lời hứa hẹn mười ngày.Hoàn cảnh tôi lúc bấy giờ thật bi đát: Tiền bạc tài sản đã bị cướp sạch, thậm chí quần áo cũng không có để mặc, phải đi xin quần áo cũ của người quen để mặc. Con trai lớn còn quá nhỏ (mới 3 tuổi) lại thêm bào thai hai tháng trong bụng, chồng thì đi học tập không biết ngày về. Tôi, một phụ nữ chân yếu tay mềm, đơn độc, với hai bàn tay trắng lúc đó lại còn quá trẻ…nhưng phải đương đầu với nhiều áp lực từ tinh thần tới vật chất ở khắp mọi phía: từ tổ dân phố cho đến tổ công đoàn trong nhà trường… Ở đâu tôi cũng được kêu gọi: phải làm việc gấp đôi, gấp ba người khác để chồng được sớm thả về. Ôi! cái mệnh đề “chồng được thả về sớm”quả là có một sức mạnh huyền bí và mãnh liệt biết bao! Nó đã khiến tôi làm việc quần quật mà không dám nghỉ ngơi, không biết mỏi mệt. Tôi luôn luôn phấn đấu vượt chỉ tiêu, chỉ với một mục đích duy nhất: được cấp giấy “chứng nhận công tác tốt” hầu nộp hồ sơ bảo lãnh chồng về :

“Ước gì anh ở đây giờ này

Uớc gì em được nghe giọng cười, và hơi ấm đã bao ngày qua mình luôn sát vai kề”

Sáng tôi đi dạy, chiều vô trường công tác đoàn thể và tham gia chăn nuôi. Lúc đó ban lao động trường SNA có sáng kiến “nuôi heo” vì chế độ mới luôn hô hào:“lao động là vinh quang” nên các thầy cô bị xếp lịch vô trường thay phiên chăn nuôi heo. Tới phiên chăn nuôi heo, phải xắn quần áo lên vô chuồng heo, tắm rửa heo, cho heo ăn, chà rửa chuồng heo… nhưng vì không có “chuyên môn” nên heo hay bị sút chuồng chạy ra sân chơi, có khi heo còn chạy tọt vào lớp học. Vậy là phải vác chổi chà chạy rượt theo để lùa heo về chuồng, kẻo heo chạy lạc mất thì phải đền Thế là cảnh bi hài xảy ra : Cả cô đứng lớp và cô phụ trách chăn nuôi heo cùng với sự hợp tác của các em học sinh trong lớp, xúm nhau “dí heo” rồi “lùa heo”, tiếng heo kêu “eng éc” chạy tán loạn trong lớp học gây ra một cảnh náo nhiệt “độc đáo” chỉ có dưới mái trường XHCN, nơi mà “Lao động là vinh quang” được đề cao triệt để ! Thật là một hình ảnh bi thảm và cười ra nước mắt, còn đâu hình ảnh ngày nào: cô giáo với tà áo dài tha thướt, đi đứng đoan trang, dịu dàng đúng với tư cách nhà giáo? Ngoài ra trường còn bắt đi trực đêm, nên thỉnh thoảng tới phiên trực, tôi phải dỗ con ngủ sớm, rồi gửi con cho ngoại để vô trường ngủ trực đêm. Như vậy vẫn chưa hết, mỗi tuần 3 buổi tối tôi còn tham gia tình nguyện dạy bổ túc văn hóa cấp 3. Chúa nhật thì công tác theo tổ dân phố: quét đường, đi đào kinh, đắp đập…

Tôi luôn luôn phải làm việc theo khẩu hiệu thời đó: “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”. Biết bị bóc lột mà vẫn cứ lăn xã vào làm để có giấy “chứng nhận công tác tốt” hầu nộp hồ sơ cho chồng được về sớm. Mỗi lần nghe đồn có địa chỉ mới để nộp hồ sơ bảo lãnh cho chồng là chị em chúng tôi, những người vợ tù cải tạo, lại chuyền tai nhau chạy tới chầu chực, chờ đợi nộp hồ sơ, để nghe họ hống hách, miệt thị, tra hỏi mà vẫn cứ phải nhún mình chịu lép vì chồng Thật là tội nghiệp! Lâu dần đợi mãi, chẳng thấy kết quả gì, lúc đó chị em chúng tôi mới vỡ lẽ ra là mình đã bị lừa. Thực ra đó chỉ là “củ cà rốt để nhử thỏ”.

Bây giờ đôi khi ngồi nhớ lại chuyện xưa, tôi thành thực tự khâm phục mình, không biết hồi đó sức đâu mà một người phụ nữ trẻ gầy yếu đang mang thai như tôi lại có thể làm việc “khủng khiếp” đến như vậy, mà không hề biết mỏi mệt? Có lẽ vì niềm hy vọng nơi lá bùa “chồng được thả về sớm” đã tăng thêm sức mạnh bội phần cho tôi, nên tôi đã làm việc không phải với tất cả sức mình, mà là trên cả sức mình với hy vọng chồng được thả về trước khi tôi sinh con. Tôi không muốn sinh con trong cảnh cô đơn, tôi không muốn con tôi ra đời mà không có mặt cha! Nhưng hy vọng đó đã dần dần bị “cạn kiệt”, lúc này đây tôi phải luôn luôn tự nhủ lòng:

“Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng !”

Thời gian đầu mỗi ngày ở truờng về, thấy “thời hạn 10 ngày” qua lâu rồi, nên câu hỏi đầu tiên của tôi với con trai hay đứng đợi mẹ trước cửa, luôn luôn là câu : “Bố về chưa con?” Cứ nuôi hy vọng rồi lại ê chề thất vọng khiến tôi chợt nhớ tới câu hát du ca thời sinh viên, đúng là : “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền”, đúng vậy nhưng không thể bỏ “niềm hy vọng” vì nó là “liều thuốc” cần thiết để giúp tôi tiếp tục sống còn. Những người vợ tù cải tạo liên lạc hỏi thăm tin tức nhau, nhưng không hề thấy một tia sáng nào “ló dạng cuối đường hầm”cho ngày về của chồng. Bế tắc quá chúng tôi bèn rủ nhau đi xem bói nhưng tốn tiền mà cũng chẳng giúp ích được gì, chỉ toàn là những u sầu và thất vọng tràn trề. Làm gì có hình ảnh mơ ước:

“Khi đất nước tôi thanh bình…mọi người ra phố mời rao nụ cười”

vì xã hội thời đó đã hoàn toàn tắt hẳn những nụ cười. Tất cả chỉ là “bánh vẽ” là “rổ danh từ” hoa mỹ: “Đất nước thống nhất: Hạnh phúc – Độc lập – Tự do” nhưng Hạnh Phúc là như thế này ư??

Cuối cùng, sau nhiều tháng chờ đợi mõi mòn, tôi đã phải sinh con trong cô đơn âm thầm, rồi nuôi con trong thiếu thốn khó khăn mọi bề. Những cảnh xếp hàng cả ngày (XHCN) để mua từng ký gạo tổ đầy sạn, về ăn độn với bo bo, vậy mà cũng không được ăn no. Thịt thì mỗi tháng cấp phiếu một lần, phải xếp hàng rồng rắn để đuợc mua những miếng thịt ôi và bạc nhạc, hoặc những con cá ươn, nhưng cũng quý lắm, đem về cắt nhỏ, kho mặn để dành riêng cho con ăn “nhín nhín” kẻo hết. Bên cạnh những nỗi khổ vật chất còn là những nổi khổ tinh thần. Không phải chỉ là sự hù dọa, o ép bắt đi kinh tế mới của tổ dân phố mà còn là sự chèn ép, đối xử bất công của tổ công đoàn nhà trường, vì lỡ mang cái nhãn hiệu “vợ tù cải tạo”. Bên cạnh đó là những nỗi cô đơn về tinh thần, sự bơ vơ khi phải một mình bươn chải, chống chèo để nuôi 2 con thơ, nuôi chồng bị tù cải tạo trong một “xả hội mới” với quá nhiều biến đổi lọc lừa… Không phải ai cũng có sự hỗ trợ nâng đỡ từ gia đình chồng hay những người chung quanh. Nhiều đêm sau một ngày dài vật lộn với cuộc sống mệt nhoài, khuya về ru con thơ đau ốm, khóc quấy mà nước mắt người mẹ trẻ lặng lẽ tuôn trào:

“Bạn buồn còn chốn thở than.

Tôi buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”

Hình ảnh ngọn nhang tàn lụi dần trong đêm khuya là hình ảnh cô đơn, chịu đựng trong câm lặng của biết bao người vợ tù cải tạo thời đó.Đôi khi gian khổ, cô đơn “bóp nghẹt” trái tim khiến tôi cảm thấy không thở nổi và rất cần một “bờ vai” để nương tựa, cho đỡ mỏi mệt, cho dễ thở một chút. Vậy mà những lần tập trung đi chấm thi TNPT, hay đến nhà thương, có ai đó muốn đưa “bờ vai” để tôi nương tựa, tôi lại phải từ chối và chỉ vào ngón tay đeo nhẫn của mình để xác nhận: “Tôi là gái đang có chồng”, nhưng họ vẫn không tin (có lẽ do thấy tôi còn quá trẻ). Tôi phải chạy kiếm bạn dạy cùng trường tới làm chứng là tôi nói thiệt, để rồi sau đó bạn ái ngại nhìn tôi khẻ nói:

– Thiệt tình chưa thấy ai như bạn, bạn còn quá trẻ và cuộc đời cũng khổ quá nhiều rồi, sao không “buông thả” một chút cho lòng dễ chịu, sao cứ “giữ chặt” lòng minh chi cho kỹ quá, để khổ dữ vậy?

Tôi biết bạn thương tôi nên nói vậy, nhưng tôi có cảm tưởng trái tim tôi đã bị bỏ vào trong một cái hộp vô hình và khóa lại. Tôi không thể nào làm khác hơn. Có lẽ:

“Rằng quen mất nết đi rồi,

Tẻ, vui âu cũng tính trời biết sao” (ND)

Mỗi ngày khi mặt trời sắp ló dạng, tôi lại phải nuốt vào lòng sự cô đơn buồn tủi, để còn tỉnh táo tiếp tục vật lộn với cuộc sống, xông xáo mưu sinh lo cho 2 con, cho chồng.Ngoài giờ đến trường, tôi phải chạy từ góc phố này sang xó chợ kia để may ra kiếm thêm được chút gì lo cho chồng, cho con được tốt hơn .Đôi khi còn bị công an rượt đuổi, bị đánh lừa, mất trắng tay đành lủi thủi ra về. Rồi ngậm ngùi nhớ lại mà xót xa thương thân :

Xưa sao phong gấm rũ là.

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường (ND).

Ôi ! không giấy bút nào có thể lột tả hết được những gian truân của người vợ tù cải tạo thời đó. Tôi đã từng lăn lộn trong chốn bụi đời ô trọc đó, nên biết được nhiều hoàn cảnh đáng thương, thấy phận mình đã quá cực, nhưng nhìn lại thấy nhiều người còn khổ hơn. Từ đó tôi bỗng tự hỏi: không biết giữa người đi tù cải tạo và người vợ ở lại, ai khổ hơn ai? ai sầu hơn ai?:

“ Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu, mối sầu nào hơn?”

Thời gian mang tính chất tâm lý, nên không có gì khổ bằng sự chờ đợi mòn mỏi trong vô vọng. Chờ đợi mà không biết chờ đợi tới bao giờ? Chẳng thà họ đem ra xét xử rồi kêu án 5,10 năm gì đó, đằng này cứ thấp thỏm lo âu, hy vọng rồi lại… thất vọng. Nỗi buồn chồng chất nỗi sầu khiến người vợ tù cải tạo mệt nhoài như một giòng sông cạn đầy nghiệt ngã:

“Tôi như giòng sông cạn
cuốn quanh đời mệt nhoài, cuốn theo giòng nghiệt ngã” (TCP)

Nỗi sầu muộn đã gặm mòn tuổi thanh xuân của biết bao nguời vợ trẻ! Những lần đi gửi quà, đi thăm nuôi, có dịp gặp gỡ tâm sự với các chị đồng cảnh, mới càng thấy thấm thía hơn tâm tình chung thủy của đa số phụ nữ Việt Nam. Chồng càng gian lao tù tội, càng thương xót, càng chung thủy, mặc dù trước đó có thể chàng cũng từng trăng hoa hay đèo bồng. Đó là tâm trạng “thà chàng phụ thiếp, chứ thiếp không phụ chàng” của hầu hết phụ nữ Việt Nam. Vì chồng, chúng tôi chấp nhận hy sinh và làm tất cả những gì có thể làm được. Tôi đã từng tới “Hội trí thức yêu nước” thành phố Saigon, để nhờ họ can thiệp cho chồng về sớm, họ khuyên tôi nên đi kinh tế mới thì mới có hy vọng. Vậy là tôi đã lần mò đi lên tận khu kinh tế mới Củ chi xem đất, với ý định chấp nhận gian khổ này để cứu chồng ra khỏi cảnh tù tội , bởi tôi muốn”đồng cam cộng khổ” với chồng trong lúc gian nan :“đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”. Nhưng khi về nhà, ba tôi biết chuyện đã can ngăn vì con còn quá nhỏ làm sao có thể chiu đựng “kinh tế mới” cho được? Nghĩ lại vì thương con thơ nên tôi tạm dẹp ý định này.

Sau một thời gian dài “bặt vô âm tín” họ bắt đầu cho gửi quà. Chúng tôi hết sức vui mừng đón nhận tin này, nhưng việc đi gửi quà cho nguời tù cải tạo cũng đã nói lên biết bao tấm lòng của những người vợ. Chúng tôi phải bươn chải ngược xuôi trong một xả hội đầy khó khăn và xáo trộn để chắt bóp từ đồng xu bỏ ống để dành, phải nhịn ăn, nhịn mặc, gói ghém đầu nọ, đầu kia để có tiền mua quà cho chồng, thành thử gói quà tuy nhẹ vài ký, nhưng tình nghĩa thì nặng đến nghìn cân.Ngày đầu tiên họ cho phép gửi quà chúng tôi phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng ra xếp hàng trước bưu điện, để 8 giờ sáng khi bưu điện bắt đầu mở cửa làm việc là có thể vào gửi ngay. Ai cũng nóng ruột muốn được gửi sớm để chồng nhận được quà sớm nên lo đến sớm, xếp hàng dài lê thê “rồng rắn”trong cảnh nửa đêm về sáng đầy lạnh giá. Hơn nữa lo gửi sớm cho chắc ăn, lỡ sau này họ bỗng thay đổi ý kiến không cho gửi nữa thì sao? Làm sao tin được, họ là kẻ đang nắm quyền, tráo trở nói sao cũng được, như vụ “hứa đi học tập 10 ngày và 1 tháng” là một bằng chứng rõ ràng nhất, nhưng thực tế chúng tôi phải đằng đẳng đợi chờ trong vô vọng.Họ đã biến chúng tôi thành những “hòn vọng phu” trong thời đại mới với tâm trạng :

” Tôi buồn trong lặng yên
như con chim lạc loài cô đơn trong rừng chiều” (MDĐL)

(Còn tiếp)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s